NGÔN NGỮ & VĂN HÓA

CHÚC MỪNG NĂM MỚI

Archive for Tháng Một, 2010

LÀNG NGHỆ SĨ CHÂN ĐẤT

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Một 31, 2010

Vũ Quang

Báo Đáp là tên một ngôi làng nằm ở phía Đông của xã Hồng Quang (huyện Nam Trực, Nam Định) không chỉ nổi danh với nghề làm đèn ông sao mà nơi đây còn nổi danh là “làng bát âm” độc đáo nhất Việt Nam.
Trong làng không ai còn nhớ cái nghiệp này được bắt đầu từ khi nào, đời nào, chỉ biết rằng khi mới lọt lòng, họ được nghe những âm thanh trầm bổng, vui nhộn, ai oán, xót thương… ở ngay bờ ruộng hay ao làng.

“Phục vụ cả vui lẫn buồn”

Cũng giống như những ngôi làng khác ở Đồng bằng Bắc bộ, hầu hết người dân làng Báo Đáp quanh năm “đầu tắt mặt tối” với công việc đồng áng, hết vụ lúa lại quay sang làm hoa, rồi đèn. Nhưng có một điều khác biệt rất dễ nhận thấy ở đây. Giữa đêm đông giá buốt hay cái nắng oi ả của mùa hè…Ai đi qua làng đều nghe thấy và cảm nhận được những âm thanh ngọt ngào, sâu lắng mà trữ tình vang lên từ tiếng sáo, đàn bầu, đàn tranh… do chính những nghệ sĩ “chân đất” đội Bát âm làng thể hiện. Họ trình bày những bản nhạc như những nghệ sĩ thực thụ, mặc dù không qua bất kì một trường lớp nào.
Tiếp chúng tôi trong ngôi nhà cấp 4 năm gian, “nghệ sĩ” Công “sáo” người đang giữ trọng trách đội trưởng các đội Bát âm trong làng. Một lão nông quanh năm chân lấm tay bùn, ấy vậy mà biết chơi tới 6 loại nhạc cụ trong “Bát âm”. Ông Công khoe: “Cây sáo, đàn nhị, đàn bầu, đàn tranh, tam thập lục…khó sử dụng như vậy, mà từ trẻ con tới người già trong làng ai ai cũng biết chơi một, hai loại nhạc cụ một cách thành thạo”.
Chơi thành thạo sáo, tam thập lục biết sơ sơ, đàn tranh, đàn nguyệt thì là tay trái của ông Công, mỗi thứ biết một tẹo. Học chơi nhạc chỉ để cho đỡ buồn chứ không vì tiền. Âm nhạc mà chúng ta thường nghe được xếp vào 3 loại chính, Tây nhạc (Kèn Tây, violon, Piano…), Nam nhạc (Trống), Bắc nhạc (Sáo, nhị, hồ, tranh…). Bát âm được xếp vào Bắc nhạc. Từ xa xưa, phường Bát âm gồm có 8 nhạc khí cấu tạo bằng các chất liệu khác nhau: Bào (bầu), Thổ (đất), Cách (da), Mộc (gỗ), Thạch (đá), Kim (kim khí), Ty (tơ), Trúc (tre, nứa).
Nghệ sĩ Công “sáo” tâm sự: “Do thời gian đổi thay nhiều, người ta chỉ dùng 8 nhạc khí, không đủ 8 màu âm như trên nhưng vẫn gọi là Phường Bát âm”. Sáo, đàn nhị, đàn tam thập lục, tỳ bà, đàn nguyệt, trống, đàn tranh, đàn bầu. Nhưng thực tế qua các buổi nhạc thì chỉ xuất hiện 5-6 loại nhạc cụ, phần vì cách chơi phức tạp và ít người sử dụng. Trước đây, những “nghệ sĩ chân đất” trong làng chỉ chơi tự phát chứ không quy củ nề nếp như bây giờ, phần do công việc gia đình, thứ nữa là do không ai dẫn đường chỉ lối. Thích thì ngân tiếng sáo, tiếng đàn bất kì nơi đâu, chỗ nào. Nếu ai một lần đến Báo Đáp thì không khỏi ngỡ ngàng, bắt gặp ngay ngoài đồng cảnh một lão nông chơi đàn, thổi sáo mà vẫn quất trâu cày…
Từ khi được vào hội, nhóm người dân có thêm việc làm, thêm thu nhập lúc nông nhàn. Hiện biên chế đội Bát âm làng Báo Đáp đã lên tới 70 thành viên, từ già tới trẻ ai cũng góp mặt. “Được phân chia khá rõ ràng, nhạc “buồn” biên chế 8-10 người 1 nhóm, nhạc vui thì cứ đủ âm thì diễn thôi. Chúng tôi phục vụ bà con cả vui lẫn buồn” – ông Bản ” cò” (Đội phó đội Bát âm) nói.

Trường nhạc làng

Từ thời Pháp thuộc, cuộc sống người dân làng Báo Đáp đã rất sung túc. Những con đường lát gạch đỏ vẫn hiện diện trên mọi nẻo đường làng. Đời sống tinh thần người dân dần được cải thiện. “Tính đến đời tôi là đời thứ 5 rồi, các cụ ngày xưa chả học ở đâu cả, cứ cha truyền con nối. Tới tôi thì còn được vào Nhà thờ học lỏm tý nhạc lý của các cha, rồi chơi nhiều nhạc cụ hơn”, nghệ sĩ Công “sáo” cho biết: “Có hôm đi cày, ông cụ tôi còn bắt tôi ra đồng tập thổi sáo, thổi đau cả quai hàm mà cụ vẫn không cho dừng, bắt thổi đi thổi lại bài Lưu Thuỷ cả trăm lần”.
Là đội trưởng đội Bát âm nên ông lưu giữ rất nhiều các loại nhạc cụ của đội. Mỗi loại nhạc cụ 2- 3 chiếc, riêng sáo có tới 36 chiếc, tính tất cả số nhạc cụ mà ông đang giữ lên đến cả trăm chiếc. Mỗi loại tạo nên vẻ quyến rũ riêng của mình. Cây đàn cò (đàn nhị) được người dân gọi như vậy vì đàn khá giống con cò, từ trục dây có đầu quặp xuống như mỏ cò, thân đàn như thân cò, tiếng đàn nghe lảnh lót như tiếng cò.
Đặc biệt ông Công còn giữ 5 cây sáo cổ, được làm rất tinh xảo, trên thân sáo khắc biểu tượng rồng phượng, vân vũ đẹp đến lạ kì. Đến ông cũng không biết rõ lai lịch của những cây sáo này, chỉ biết rằng tới đời ông là đời thứ 5 lưu giữ. Giờ đây nhà nào trong làng cũng có vài cây sáo, khá hơn chút thì có cây đàn Tranh, đàn Nhị… “Người nào lớn lên mà không biết thổi Sáo thì không phải dân làng Báo Đáp”- cụ Khoái tâm sự.
Tính đến nay, ông Công cùng đội Bát âm đã mở được 3 lớp dạy nhạc cho trẻ em trong làng. Năm 2005, “Trường nhạc làng” có 15 học viên, năm 2006 lên tới 25 cháu, cho đến nay lớp nhạc tăng lên hơn 30 học viên đang học liên tục. Cao điểm nhất là những tháng hè, thời gian này các em học sinh được nghỉ học nên các lớp học nhạc thường rất đông. Lớp không đủ chỗ cho các em học sinh ngồi, phải học ở sân, vườn. Những ngày lễ của làng, xã, đội văn nghệ làng Báo Đáp luôn giành được giải cao. Thành danh từ những “Trường nhạc làng” kể tới chị Nguyễn Thị Phương Hoa, anh Chi… đang công tác tại đoàn văn công tỉnh.
Tuỳ theo nhận thức của mỗi người mà học theo một quy trình nhất định, nhưng đầu tiên vẫn phải học “nhạc đất”, học nốt nhạc, rồi bản nhạc…cứ thế rồi nâng cao các bản nhạc theo từng cấp độ và tuổi. “Chúng tôi chẳng có giáo trình gì hết, cứ dạy các cháu theo kinh nghiệm mình học được bao năm, viết bản nhạc thì ông Công viết hết”- bác Nguyễn Văn Thọ (đội phó) tâm sự. Nhỏ tuổi nhất trong đội Bát âm từ 12-13 tuổi, lớn tuổi nhất là cụ Nguyễn Văn Khoái 76 tuổi, chơi đàn Tam Thập lục nổi tiếng cả vùng. Nhiều cụ ông, cụ bà 60-70 tuổi nhớ tiếng sáo vẫn bảo các cháu dẫn sang nhà ông Công nghe thổi. Ngày trước các nhạc cụ hỏng, đội phải mang lên tận Hà Nội sửa, tiền sửa hơn cả tiền mua cái mới. Nhưng vì cái duyên, cái số gắn với cây đàn không ai nỡ lòng bỏ mà mua cái mới, thà sửa còn hơn mất “bạn diễn”. Các bô lão trong làng cử ông Nguyễn Văn Trơn vừa lên sửa, vừa học “mót” cách chữa cho đỡ tốn kém. “Dần dà hỏng mãi cũng chữa được, bây giờ cái nào tôi cũng “xơi hết” thỉnh thoảng rỗi làm vài cái Sáo cho các cháu chơi”- Nói rồi ông Trơn hít hơi thổi bài “Chị tôi” cho cả đội cùng thưởng thức.
Cuộc sống bây giờ đổi thay nhiều. Nhưng người dân làng Báo Đáp không bao giờ đánh mất nghề các cụ để lại. Vẫn lạc quan yêu đời dù đói, dù no, họ vẫn ôm lấy cây đàn vang lên những lời ca tiếng hát cho đời thêm vui tươi. Chính điều này đã tạo nên nét độc đáo của ngôi làng độc đáo nhất Việt Nam – làng “Bát âm” như người ngoài vẫn gọi.

————————————————

Advertisements

Posted in Âm nhạc, văn hóa | Leave a Comment »

BỨC TRANH NGÔN NGỮ VỀ THẾ GIỚI QUA QUAN HỆ LIÊN NGÔN NGỮ

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Một 31, 2010

Lê Đình Tư
(Bài đã đăng trên Tạp chí Khoa học ngoại ngữ)

1. Quan hệ liên ngôn ngữ – Từ ngữ âm đến ngữ nghĩa
Sự tiếp xúc giữa các ngôn ngữ thường để lại những dấu ấn mà biểu hiện rõ nhất là sự hiện diện của những vùng từ vựng ngoại lai. Xưa nay, người ta thường dùng khái niệm lớp từ vựng ngoại lai để chỉ chung tất cả những từ ngữ vay mượn từ các thứ tiếng nước ngoài trong một ngôn ngữ. Khái niệm lớp từ không những không thể hiện được sự phân hóa phức tạp bên trong của tiểu hệ thống từ vựng này mà còn tạo ra một cảm giác chung về sự thống nhất tương đối của nó, vốn được coi là cơ sở để đối lập nó với lớp từ vựng bản ngữ. Trong thực tế, các yếu tố ngoại lai đi vào một ngôn ngữ theo những con đường và cách thức khác nhau, và được duy trì trong ngôn ngữ theo những quy tắc khác nhau, tùy thuộc vào loại hình ngôn ngữ, vào những quan niệm khác nhau trong cách bảo vệ tính trong sáng của người bản ngữ, đôi khi có cả những lí do chính trị. Tính ngoại lai của các yếu tố vay mượn thường biểu hiện ở sự vi phạm các quy tắc chung của bản ngữ, ví dụ như quy tắc phát âm hay quy tắc biến đổi hình thái. Trong lĩnh vực thuật ngữ khoa học, do có sự tuân thủ nguyên tắc về tính chính xác của ngôn ngữ khoa học, các từ ngữ vay mượn thường được bảo tồn về các giá trị ngữ âm, ngữ nghĩa, và có khi cả về các đặc trưng ngữ pháp, nên tính dị biệt của các yếu tố ngoại lai trong một ngôn ngữ được biểu hiện rất rõ ràng. Các thuật ngữ khoa học-kĩ thuật trong tiếng Việt như a-xít, phốt-pho, cu-roa, hay pít-tông chẳng hạn, về âm hưởng và/hoặc chữ viết đều mang đặc điểm Ấn-Âu rõ rệt, và do đó, không người Việt nào có thể ngộ nhận chúng là từ bản ngữ. Sự nhận thức về tính chất ngoại lai của các từ vay mượn cũng đặc biệt rõ nét ở những người có năng lực ngôn ngữ gốc (ngôn ngữ xuất phát của các yếu tố ngoại lai). Một người biết tiếng Pháp chẳng hạn, đương nhiên sẽ ý thức được tính ngoại lai của các từ tiếng Pháp được vay mượn vào tiếng Việt như mùi soa, xà phòng hay bốt. Người Việt không có năng lực ngôn ngữ gốc có thể sẽ không nhận ra tính ngoại lai của các từ như đui (đèn) săm, lốp, bơm (mượn của tiếng Pháp), hay đầu, ghế, điện (mượn của tiếng Hán). Bởi vậy, khi xét các yếu tố từ vựng ngoại lai, ít nhất ta cần phân biệt: 1/ những yếu tố đã được bản ngữ hóa cao độ khiến chúng có thể hoàn toàn được coi là từ bản ngữ, không gây nên sự phản kháng của hệ thống bản ngữ; 2/ những yếu tố mà dưới một góc độ nào đó (ví dụ như góc độ ngữ âm hay ngữ nghĩa) vẫn khác biệt khá rõ ràng với các yếu tố bản ngữ, và do đó, vẫn rất giống với các yếu tố của ngôn ngữ gốc, và 3/ những yếu tố ít hoặc không được bản ngữ hóa và do đó còn giữ được những đặc trưng cơ bản của yếu tố ngôn ngữ gốc. Những yếu tố ngoại lai thuộc loại thứ hai thường tạo nên những vùng “đặc hữu” trong hệ thống từ vựng, nơi mà hệ thống bản ngữ bị vi phạm ở một mức độ nào đấy, đủ khiến cho người bản ngữ cảm thấy chúng có sự dị biệt với các yếu tố của tiếng mẹ đẻ. Các từ như ma-két-tinh mượn của tiếng Anh hay thảo dân của tiếng Hán đi vào tiếng Việt như là những yếu tố xa lạ, chúng chỉ quen thuộc với những người thường xuyên tiếp xúc với chúng. Trong trường hợp ma-két-tinh thì đó chủ yếu là các nhà kinh doanh hoặc những người làm những công việc liên quan đến kinh doanh, còn ở trường hợp thứ hai thì đó chủ yếu là những người thường xuyên xem phim lịch sử, phim dã sử hay phim kiếm hiệp của Trung Quốc. Trái lại, loại từ thứ nhất, vốn chiếm đa số trong toàn bộ vốn từ ngoại lai của từ vựng toàn dân, hầu như chỉ còn giữ được tính ngoại lai trong một bộ phận người bản ngữ – những người vốn nắm được lai lịch của chúng nhờ năng lực ngôn ngữ gốc hoặc thông qua việc tìm tòi, nghiên cứu. Những từ này, xét về hình thức, giá trị ngữ nghĩa cũng như cách hoạt động, hoàn toàn giống như những từ bản ngữ. Sự bản ngữ hóa cao độ các yếu tố ngoại lai là lí do cơ bản khiến cho ngôn ngữ vẫn bảo toàn được bản sắc riêng của nó và không bị hòa lẫn vào các thứ tiếng khác, hoặc không trở thành một thứ ngôn ngữ pha tạp kiểu “ngôn ngữ Pidgin”. Như vậy, có thể nói, không có sự thuần nhất trong cái gọi là lớp từ vựng ngoại lai, xét cả trên phương diện bản thể luận lẫn nhận thức luận. Bởi vậy, theo chúng tôi, sẽ hợp lí hơn nếu sử dụng khái niệm vùng từ vựng ngoại lai để thay thế cho khái niệm lớp từ vựng vẫn đang được sử dụng.

Nói về sự bản ngữ hóa các yếu tố ngoại lai, người ta thường chú ý nhiều nhất đến sự bản ngữ hóa mặt ngữ âm của chúng, và thường có quan niệm chung là khi các yếu tố ngoại lai được bản ngữ hóa cao độ về mặt ngữ âm thì đương nhiên sẽ được những người sử dụng ngôn ngữ bình thường tiếp nhận như là những yếu tố của bản ngữ. Tuy nhiên, trong thực tế, ngữ âm chỉ là một mặt của vấn đề, tuy có thể đó là mặt quan trọng nhất. Một yếu tố ngôn ngữ nước ngoài khi đi vào một ngôn ngữ còn chịu sự chi phối rất lớn của những quá trình khác, đặc biệt là quá trình liên quan đến mặt ngữ nghĩa của yếu tố đó. Để bảo đảm rằng một yếu tố ngoại lai được bản ngữ hóa cao độ, người ta thường bổ sung thêm cho nó những đặc trưng ngữ nghĩa (nét nghĩa hoặc thành phần ý nghĩa) hoặc thay đổi thành phần nét nghĩa cho phù hợp với hệ thống ngữ nghĩa của bản ngữ. Sự bổ sung hay thay đổi ý nghĩa này có thể thực hiện được trước hết phải nhờ vào hình thức ngữ âm đã được bản ngữ hóa. Khi người Việt bản ngữ hóa mặt ngữ âm của từ thurel trong tiếng Khơme thành sầu riêng trong tiếng Việt thì không chỉ cái âm thanh của từ này nghe rất Việt mà giá trị ngữ nghĩa của nó cũng thay đổi: Nó không chỉ còn là vỏ âm thanh đại diện cho sự vật là “cây sầu riêng” trong thực tế khách quan mà sầu riêng còn có nghĩa là nỗi sầu riêng của một người nào đó. Đấy chính là cái lí do cho sự hình thành một câu chuyện tình diễm lệ đầy nước mắt của một chàng trai Việt Nam và một cô gái Cămpuchia mà đoạn kết là: Sau khi vợ mình chết, chàng trai Việt mang cây thurel, tức sầu riêng, về trồng trên đất quê hương để tưởng nhớ tới nàng. Đó cũng là cảm hứng cho những tác phẩm nghệ thuật có những nốt buồn mênh mang như “Lá sầu riêng”hay “Cây sầu riêng trổ bông”. Trong tiếng Trung Quốc cũng vậy, tên gọi nước ngoài thường được đọc theo âm của những từ hoặc hình vị cấu tạo từ tiếng Trung, do đó các yếu tố ngoại lai trở nên có nghĩa: Měi guó (Mĩ Quốc= nước Mĩ) là tên riêng trong đó Měi có nghĩa là đẹp, còn guó là quốc hay nước; hay từ Mă Lì (Mã Lệ) là cách phiên âm cái tên Mary hay Marie, trong đó Mã có nghĩa là ngựa (có kèm theo bộ vương) và Lì (Lệ) có nghĩa là nước mắt. Thực tế này cũng đã từng xảy ra phổ biến trong tiếng Việt trước đây, khi các tên nước ngoài được phiên âm từ tiếng Hán, ví dụ: Nã Phá Luân, Kha Lệ Ninh, Kha Luân Bố, Ba Lê, Mạc Tư Khoa. Trong những trường hợp như vậy, sự tri nhận các yếu tố ngoại lai thường phải dựa vào tính lôgích của các kết hợp, hay nói đúng hơn, tính phù hợp ngữ nghĩa của các kết hợp. Sở dĩ người Việt trước đây tiếp nhận Mạc Tư Khoa hay Kha Luân Bố là tên nước ngoài là do họ không thấy có lí do chính đáng nào để biện minh cho sự kết hợp của các yếu tố có nghĩa mạc, tư và khoa, hay kha, luân, bố lại với nhau, và đó cũng là cách họ nhận ra tính chất ngoại lai của các từ này. Tương tự, người Trung Quốc nhận ra Bō yīn (Boeing) không phải là từ của tiếng Trung là do họ không thể lí giải cái cách cấu tạo kì lạ của từ này: yếu tố bō có nghĩa là sóng, còn yīn nghĩa là âm thanh, do đó cái cảm thức ngôn ngữ chung mách bảo cho họ rằng đây phải là một từ ngoại lai. Như vậy, có thể thấy rằng sự nhận diện các yếu tố ngoại lai không chỉ được thực hiện nhờ vào các đặc trưng ngữ âm của yếu tố ngoại lai mà còn phải dựa vào các đặc trưng ngữ nghĩa của chúng.

Nói về mặt ngữ nghĩa hay ý nghĩa của các đơn vị ngôn ngữ, ngôn ngữ học truyền thống thường tập trung vào mối quan hệ giữa vỏ âm thanh của đơn vị ngôn ngữ với những gì mà chúng biểu thị trong thực tế khách quan (sự vật, hiện tượng hay khái niệm, v.v.). Mối quan hệ đó thường được xem xét trong một môi trường riêng rẽ, hoặc nếu có sự liên hệ với các đơn vị khác thì đó thường chỉ là những quan hệ nội ngôn ngữ như quan hệ đồng nghĩa (cùng biểu thị sự vật, hiện tượng hay khái niệm), hay quan hệ trường nghĩa (các sự vật, hiện tượng được bao hàm trong cùng một nội dung khái niệm). Ngữ dụng học (hay Ngữ nghĩa học theo nghĩa rộng) tuy có tiến thêm một bước để đặt ý nghĩa của các đơn vị ngôn ngữ trong mối liên hệ với các yếu tố tham gia vào quá trình giao tiếp ngôn ngữ nhưng cũng không làm thay đổi cách tiếp cận ngữ nghĩa học đối với vấn đề ý nghĩa trong ngôn ngữ, bởi vì thực tế, các ý nghĩa ngữ dụng của các đơn vị ngôn ngữ cũng chỉ là những nét nghĩa bổ sung có tác dụng mở rộng hay thu hẹp ý nghĩa cơ bản của đơn vị ngôn ngữ mà thôi. Chẳng hạn, từ “con cò” tuy có thể có những ý nghĩa ngữ dụng khác nhau trong các ngôn ngữ [tiếng Viêt: Ngoài ý nghĩa “là loài chim chân cao, cổ dài, mỏ nhọn thường sống ở gần nước và ăn các động vật nhỏ ở nước” còn là biểu tượng cho thân phận nhỏ bé, vất vả, siêng năng, và là người bạn của nông dân, trong khi ở một số ngôn ngữ khác nó lại là biểu tượng của hòa bình, hạnh phúc, hay thậm chí là nguồn gốc của con người (trẻ con không sinh ra mà do cò tha về)]. Nhưng sự khác nhau đó, suy cho cùng, luôn nằm trong mối liên hệ với một đặc điểm nào đó của con cò, tức là vẫn xoay quanh bản thân các sự vật hay hiện tượng trong thực tế khách quan mà từ biểu thị. Như vậy, ý nghĩa của các đơn vị ngôn ngữ luôn luôn được xem xét trong mối quan hệ với thực tế khách quan, tuy có sự khác biệt trong cách nhìn hiện thực khách quan đó ở những dân tộc khác nhau. Cách tiếp cận như vậy với vấn đề ý nghĩa của các đơn vị ngôn ngữ có thể cho phép phát hiện một số đặc điểm của các ngôn ngữ trong việc thiết lập mối quan hệ giữa vỏ âm thanh của ngôn ngữ và hiện thực, hay là cách sử dụng các âm thanh của ngôn ngữ để biểu thị hiện thực. Việc gắn ý nghĩa của từ với sự vật, hiện tượng, khái niệm hay đặc trưng, tính chất của sự vật, hiện tượng thường xuất phát từ một quan niệm trong triết học ngôn ngữ: Ý nghĩa của từ là sự phản ánh của hiện thực khách quan vào trong ngôn ngữ. Đó là quan niệm của nhận thức luận, một lĩnh vực nghiên cứu vừa mang tính chất triết học vừa mang tính chất tâm lí học. Quan niệm này có những điểm bất hợp lí, bởi vì ý nghĩa của từ không đơn giản chỉ là sự phản ánh của thế giới vào trong ngôn ngữ mà còn là sự tri nhận thế giới của từng ngôn ngữ hay từng dân tộc. Ngữ nghĩa học tri nhận đã bổ sung cho những thiếu sót đó: Ý nghĩa của các đơn vị ngôn ngữ cần phải được xem xét trong một mạng lưới quan hệ giữa con người, ngôn ngữ và hiện thực. Chúng ta có thể nắm bắt được ý nghĩa của các đơn vị ngôn ngữ thông qua việc tìm hiểu những quan niệm hay cách nhìn của ngôn ngữ đối với hiện thực khách quan. Vì vậy, hạt nhân của quan niệm ngữ nghĩa học tri nhận về ý nghĩa của các đơn vị ngôn ngữ là khái niệm bức tranh ngôn ngữ về thế giới mang đặc điểm dân tộc, không giống nhau ở các ngôn ngữ hay các nền văn hóa khác nhau. Sự khác biệt trong bức tranh ngôn ngữ về thế giới không chỉ thể hiện ở sự khác nhau trong cách gọi tên các sự vật, hiện tượng trong thực tế khách quan mà còn ở cách tri nhận hiện thực của mỗi cộng đồng. Đó là sự hội tụ của những tinh thần dân tộc được biểu hiện qua ngôn ngữ.

Như vậy, có thể thấy rằng, khi đi vào một ngôn ngữ khác, các yếu tố ngôn ngữ gốc bị thay đổi cả về ý nghĩa. Tuy nhiên, sự thay đổi về ý nghĩa ở đây không chỉ là những thay đổi đơn giản theo cách hiểu của ngữ nghĩa học truyền thống mà theo cách hiểu của ngữ nghĩa học tri nhận. Đó là sự thay đổi về bức tranh thế giới của ngôn ngữ gốc ở những mảng thực tế được biểu hiện bởi chính những yếu tố đó. Nói cách khác, mối quan hệ giữa các yếu tố ngoại lai với các yếu tố bản ngữ không chỉ giới hạn ở sự khác biệt ngữ âm mà cả ở sự khác biệt trong bức tranh ngôn ngữ về thế giới. Do vậy, bản ngữ hóa các yếu tố ngoại lai không dừng lại ở việc bản ngữ hóa vỏ âm thanh của các yếu tố ngoại lai mà là một quá trình hết sức phức tạp để làm biến đổi mối quan hệ giữa con người, ngôn ngữ và hiện thực qua các mối quan hệ liên ngôn ngữ. Vì vậy, trong phạm vi bài báo này, bên cạnh khái niệm ý nghĩa, chúng tôi sẽ sử dụng khái niệm bức tranh ngôn ngữ về thế giới hoặc bức tranh thế giới của ngôn ngữ để làm rõ sự thay đổi các mối quan hệ đó trong lĩnh vực từ vựng ngoại lai.

2. Quan hệ liên ngôn ngữ – Từ sự ngữ nghĩa hóa đến sự phân hóa các vùng ngoại lai
Mỗi quốc gia hay mỗi dân tộc đều có một vị trí địa-chính trị riêng của mình và các mối quan hệ với các quốc gia hay dân tộc khác đều chịu ảnh hưởng sâu sắc của những điều kiện địa-chính trị ấy. Ta hãy lấy Việt Nam làm ví dụ. Do vị trí địa-chính trị đặc biệt của mình, Việt Nam là một trong số ít những quốc gia trên thế giới đã trở thành nơi hội tụ, gặp gỡ của nhiều tinh thần văn hóa-chính trị khác nhau, trong đó sự gặp gỡ của tiếng Việt với các ngôn ngữ thuộc những loại hình khác nhau là một trong những yếu tố gây tác động mạnh mẽ nhất đến đời sống xã hội của cộng đồng người Việt Nam. Sự đối với lập về ngôn ngữ cũng có thể coi là sự đối lập rõ rệt nhất giữa các cặp phạm trù như Đông-Tây, Bắc-Nam, Nam-Nam. Những gì chúng ta đã quen biết về các thế đối lập như: ngôn ngữ đơn lập/ngôn ngữ tổng hợp; ngôn ngữ không biến hình/ngôn ngữ biến hình; ngôn ngữ đơn lập/ngôn ngữ chắp dính; ngôn ngữ đơn tiết/ngôn ngữ đa tiết đều được quy tụ ở đây, trong không gian của tiếng Việt. Trong không gian ngôn ngữ này, chúng ta thấy hiện hữu các yếu tố của một lọat ngôn ngữ như: tiếng Trung (tiếng Hán), tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng Hàn, tiếng Khơme, tiếng Nhật, tiếng Thái… Dấu tích cụ thể của sự hội ngộ ngôn ngữ này là một tỉ lệ lớn các từ ngoại lai mượn của các ngôn ngữ thuộc những loại hình khác nhau trong tiếng Việt. Nhìn bề ngoài và nếu chỉ xét riêng về tỉ lệ các từ ngoại lai, người ta có thể coi tiếng Việt bản địa chỉ là dấu tích còn lại của một thứ tiếng Việt xa xưa, bởi vì tổng cộng có tới khỏang 80% đơn vị từ vựng trong thứ tiếng này là từ vay mượn của các ngôn ngữ khác. Tuy nhiên, tình hình thực tế không cho phép ta khẳng định điều đó, vì xét về mặt đồng đại, đa số các từ ngoại lai trong tiếng Việt không còn mang những nét đặc trưng của các ngôn ngữ gốc mà chủ yếu mang những nét đặc trưng (ngữ âm, ngữ nghĩa và ngữ pháp) của tiếng Việt, do đó trong nhiều trường hợp, ngay cả người bản ngữ cũng khó nhận ra tính chất ngoại lai của chúng. Điều đó có thể thực hiện được là do quá trình đồng hóa hay bản ngữ hóa các yếu tố ngoại lai.

Đồng hóa hay bản ngữ hóa các yếu tố ngoại lai là một quá trình diễn ra trên tất cả các phương diện: ngữ âm-âm vị, hình vị, từ vị, và ngữ pháp, trong đó sự đồng hóa ngữ nghĩa các đơn vị từ vựng có vai trò đặc biệt quan trọng trong tiếng Việt. Nếu như sự đồng hóa ngữ âm-âm vị tạo cho các yếu tố ngoại lai diện mạo của những đơn vị từ vựng tiếng Việt thì sự đồng hóa ngữ nghĩa, về nguyên tắc, làm cho chúng phù hợp với hệ thống giá trị ngữ nghĩa của vốn từ vựng tiếng Việt, khiến cho sự tồn tại của chúng trong tiếng Việt không phá vỡ tính hệ thống của vốn từ vựng trong ngôn ngữ này. Tuy nhiên, vấn đề đồng hóa ngữ nghĩa trong tiếng Việt không chỉ đơn giản như vậy, vì rằng còn có một số yếu tố khác tác động vào quá trình này. Sau đây chúng tôi xin nêu ra một ví dụ: Sự tác động của các yếu tố địa-chính trị tới quá trình đồng hóa ngữ nghĩa các yếu tố ngoại lai.

Xét về mặt quan hệ với những ngôn ngữ đã để lại dấu ấn ngoại lai hiện nay trong tiếng Việt, ta có thể nhận thấy một điều: tiếng Việt có sự phân biệt về mặt địa-chính trị đối với các ngôn ngữ đó. Sự phân biệt này dường như đã tạo ra một thứ chiến lược bất thành văn đối với việc du nhập các yếu tố ngoại lai. Những ngôn ngữ mà do những điều kiện địa-chính trị có ảnh hưởng nhiều nhất đến tiếng Việt, đều được đặt dưới sự kiểm soát chặt chẽ của hệ thống tiếng Việt. Hệ thống kiểm soát này là sự bảo đảm cho sự sống còn của tiếng Việt. Tiếng Trung (tiếng Hán), do những điều kiện địa-chính trị đặc biệt, đã ảnh hưởng vô cùng to lớn đến tiếng Việt trong lĩnh vực từ vựng. Phần lớn các yếu tố ngoại lai trong tiếng Việt là những yếu tố gốc Hán (chiếm khoảng trên 60% toàn bộ vốn từ vựng tiếng Việt). Xét trên phương diện lí thuyết, ảnh hưởng to lớn của tiếng Hán đối với tiếng Việt có thể đe dọa sự tồn vong của bản thân tiếng Việt. Tuy nhiên, điều đó đã không xảy ra. Sự xâm nhập các yếu tố gốc Hán vào tiếng Việt đã không phá vỡ hệ thống và cũng không đe dọa sự tồn vong của nó. Đó là vì các yếu tố tiếng Hán khi đi vào tiếng Việt đã được kiểm soát chặt chẽ và có ý thức, không chỉ về mặt phát âm mà cả về mặt ngữ nghĩa: các yếu tố tiếng Hán khi đi vào tiếng Việt nói chung đã bị thay đổi ý nghĩa theo những cách thức khác nhau, khiến cho những yếu tố vay mượn đó trong tiếng Việt có sự khác biệt với các yếu tố ngôn ngữ gốc. Sự khác biệt này là biểu hiện của sự thay đổi trong bức tranh ngôn ngữ về thế giới: Cách tri nhận thế giới của tiếng Hán bị thay đổi cho phù hợp với bức tranh thế giới của tiếng Việt. Và chính điều đó đã khiến cho các yếu tố gốc Hán có thể hoạt động trong hệ thống tiếng Việt giống như bất kì một từ thuần Việt nào, cho dù tính chất ngoại lai vẫn được duy trì ở một mức độ nào đó khiến chúng có thể được nhận biết như những yếu tố ngoại lai: chúng trở thành những yếu tố chịu sự chi phối của hệ thống tiếng Việt. Khi sử dụng các từ gốc Hán, người Việt không còn giữ mối liên hệ với ngôn ngữ gốc, mặc dù tính chất ngoại lai của chúng có thể vẫn được tri nhận. Từ bác sĩ chẳng hạn, trong tiếng Trung vốn có nghĩa là tiến sĩ. Người có học vị tiến sĩ được người Trung Quốc nhìn nhận như là người học (sĩ) rộng (bác). Như vậy, ý nghĩa của từ này được người Trung Quốc tri nhận một cách rõ ràng, hay nói cách khác, bức tranh ngôn ngữ về thế giới trong mảng hiện thực này của người Trung Quốc rất rõ nét. Trong khi đó ý nghĩa của từ tiến sĩ lại được người Việt Nam tri nhận hết sức mờ nhạt, do chỗ người ta không thể giải thích ý nghĩa của từ này theo cách thông thường: dựa vào hệ thống cấu tạo từ, nghĩa là không thể giải thích ý nghĩa của từ tiến sĩ bằng cách dựa vào ý nghĩa chung của kiểu cấu tạo từ chứa hậu tố sĩ như: đại học sĩ, viện sĩ, hay chiến sĩ, văn sĩ, nghệ sĩ, … Mặt khác, khi đi vào tiếng Việt, từ bác sĩ của tiếng Hán lại mang ý nghĩa là thày thuốc. Như vậy, bác sĩ được người Việt tri nhận là người chữa bệnh chứ không phải là người học rộng. Sự tri nhận này sở dĩ có được là do người Việt đã thoát ra khỏi cái bức tranh ngôn ngữ về thế giới của người Trung Quốc để thay đổi ý nghĩa của từ bác sĩ: hầu như yếu tố bác của tiếng Hán đã bị triệt tiêu nghĩa trong tiếng Việt, khiến người Việt chỉ hiểu được cái nghĩa tổng thể của từ bác sĩ mà thôi. Đó cũng chính là sự khác biệt giữa hai từ bác sĩ và thày thuốc trong tiếng Việt. Sự khác biệt giữa hai từ này trong tiếng Việt không phải là sự khác biệt về cái biểu vật hay biểu niệm. Đó là sự khác biệt về độ nét của bức tranh ngôn ngữ về thế giới: ý nghĩa của bác sĩ được người Việt tri nhận hết sức mờ nhạt, còn thày thuốc được tri nhận rất rõ nét, do ý nghĩa của nó có thể được giải thích dựa vào hệ thống cấu tạo từ của tiếng Việt, so sánh: thày cúng, thày bói, thày giáo, thày địa lí, thày tướng số…, trong khi từ bác sĩ (cũng giống như từ tiến sĩ đã nói ở trên) không thể được tri nhận như vậy. Ngược lại, từ đại phu trong tiếng Trung (là từ tương đương của bác sĩ trong tiếng Việt) được người Trung Quốc tri nhận một cách rõ nét là người đàn ông/người chồng (phu) lớn (đại). Tuy nhiên, sự thay đổi bức tranh ngôn ngữ về thế giới trong trường hợp vay mượn này không chỉ được biểu hiện ở sự thay đổi tên gọi của sự vật hay hiện tượng mà còn ở cách thức phạm trù hóa hiện thực ở hai ngôn ngữ. Sự thay đổi này là nguyên nhân dẫn đến những khác biệt về cách thức hoạt động của các yếu tố ngoại lai so với các yếu tố gốc. Ví dụ: Từ phi thường (được phát âm là [fēicháng]) trong tiếng Trung vốn có nghĩa là rất, vô cùng, khác thường và là một phó từ, nhưng khi vào tiếng Việt, nó chỉ có nghĩa là rất khác thường, đặc biệt khác thường và chỉ được sử dụng như là một tính từ, cho nên người Việt không thể nói phi thường nhiệt tình như trong tiếng Trung. Hiện tượng này làm cho người Việt học tiếng Trung hay người Trung Quốc học tiếng Việt có thể phạm lỗi khi sử dụng những yếu tố loại này do sự ngộ nhận về sự tương đồng ngữ nghĩa của chúng.
Xét một cách tổng thể, có thể nói rằng, việc đồng hóa ngữ nghĩa các yếu tố ngoại lai gốc Hán chủ yếu dựa trên nguyên tắc: Việt hóa cơ bản nhưng không làm thay đổi hoàn toàn cấu trúc âm thanh của các yếu tố vay mượn (gọi là nguyên tắc đọc từ tiếng Hán theo âm Hán-Việt), và thay đổi bức tranh ngôn ngữ về thế giới được biểu hiện qua các yếu tố đó. Nguyên tắc này khiến cho một mặt, các yếu tố gốc Hán có thể hoạt động giống như các yếu tố thuần Việt nhưng mặt khác, vẫn duy trì ở một mức độ nhất định tính chất ngoại lai của chúng. Điều đó tạo ra một vùng ngoại lai đặc trưng cho quan hệ liên ngôn ngữ Hán-Việt, và mặc dù vùng ngoại lai này rất rộng nhưng hệ thống của tiếng Việt vẫn được bảo vệ.

Trong khi đó tình hình vay mượn các yếu tố của những ngôn ngữ có quan hệ họ hàng với tiếng Việt như tiếng Khơme hay tiếng Thái có vẻ không khắt khe như vậy. Có thể quan sát thấy rằng, do có sự tiếp xúc thường xuyên với tiếng Khơme, phương ngữ Nam Bộ đã vay mượn một số từ của tiếng Khơme. Sự vay mượn này không tuân theo những quy tắc chặt chẽ như trong trường hợp vay mượn các yếu tố của tiếng Hán. Có thể đó là do trong trường hợp này, sự phản vệ của tiếng Việt đối với sự xâm nhập của các yếu tố ngoại lai không gay gắt như trong trường hợp tiếng Hán: Không có sự đe dọa đến sự tồn vong của tiếng Việt từ phía các ngôn ngữ nêu trên. Xu hướng chung trong việc vay mượn các từ gốc Khơme hay Thái là Việt hóa chúng cao độ, tới mức có thể coi chúng như những yếu tố thuần Việt. Sự Việt hóa cao độ trước hết thể hiện ở việc thay đổi căn bản mặt ngữ âm, và trên cơ sở đó, Việt hóa về mặt ngữ nghĩa. Tuy nhiên, sự Việt hóa về mặt ngữ âm các yếu tố ngoại lai ở vùng này diễn ra khá tùy tiện. Chẳng hạn, trong tiếng Khơme, có nhiều từ chứa nhóm phụ âm ở vị trí âm đầu. Khi mượn vào tiếng Việt, người ta có thể âm tiết hóa một phụ âm trong nhóm nhưng cũng có thể âm tiết hóa toàn bộ nhóm phụ âm của từ, ví dụ: khnhớch → cà nhắc, hay chrohom → chồm hỗm. Sự bản ngữ hóa về mặt ngữ âm như vậy tạo cho các từ vay mượn này diện mạo của từ thuần Việt. Đương nhiên, sự âm tiết hóa phụ âm hay nhóm phụ âm không phải là việc bất thường trong tiếng Việt: Khi vay mượn những từ gốc Ấn-Âu có chứa các phụ âm cuối hay nhóm phụ âm, chúng ta cũng thường có xu hướng âm tiết hóa chúng như vậy. Với một từ tiếng Pháp như fromage (phó mát), nếu giữ nguyên cấu trúc ngữ âm của nó hoặc chỉ thay đổi chút ít như khi Việt hóa các từ gốc Hán, thì phản ứng tiêu cực của tiếng Việt là điều không thể tránh khỏi. Cho nên, chúng ta đã âm tiết hóa nhóm phụ âm [fr] và bổ sung cho nó một thanh điệu (thanh sắc). Hiện tượng âm tiết hóa này cũng quan sát được ở những ngôn ngữ khác, ví dụ như trong tiếng Nhật. Người Nhật hầu như luôn luôn âm tiết hóa các phụ âm cuối của những từ vay mượn gốc Ấn-Âu, ví dụ: hot milk (sữa nóng) trong tiếng Anh được người Nhật phát âm thành hoto miruko, hay good morning thành gudo moruningo (hoặc moningo).

Điều đáng nói ở đây là: Việc âm tiết hóa các phụ âm có nguồn gốc Môn-Khơme có xu hướng được gắn với việc ngữ nghĩa hóa các âm tiết đó, khiến chúng trở thành các hình vị cấu tạo từ hoặc ít nhất cũng có hình thức của các hình vị cấu tạo từ. Nói cách khác, các phụ âm hay nhóm phụ âm được âm tiết hóa đó có thể được đưa vào các hệ thống hình vị cấu tạo từ dùng để tạo ra các kiểu cấu tạo từ của tiếng Việt. Chẳng hạn, xét về mặt cấu tạo hình thức, từ ba lăng nhăng (t. Khơme: blanhang) có chứa âm tiết ba, hay từ cà nhắc (t. Khơme: khnhơch) có chứa âm tiết cà vốn không có nghĩa, vì đó chỉ là những âm vị đã được âm tiết hóa. Song, do một loạt các từ tiếng Việt được cấu tạo theo kiểu như vậy nên người Việt vẫn tiếp nhận chúng như là những hình vị cấu tạo từ, so sánh: ba hoa, ba gai, ba láp, ba que, ba trợn, ba vạ; cà khịa, cà lăm, cà lơ, cà mèng, cà rà, cà rỡn. Và như trên đã nói, do sự tiếp xúc thường xuyên với tiếng Khơme, phương ngữ Nam Bộ đã hình vị hóa các âm tiết như vậy, và sự pha trộn chúng với các yếu tố vay mượn từ những nguồn khác đã tạo ra một vùng ngoại lai đặc hữu của phương ngữ này, khiến qua đó, người các vùng khác có thể nhận ra đặc điểm địa phương của người sử dụng ngôn ngữ, ví dụ: cà trớn, cà lăm, cà khổ, cà tàng, cà nhắc, hay ba trợn, ba láp, ba tú, ba tóe. Điều cần phải nhấn mạnh là: Tính chất địa phương của các yếu tố ngoại lai lại khiến cho chúng được tiếp nhận như là những yếu tố bản ngữ nhiều hơn, vì có vẻ “của nhà làm” hay “dân dã” hơn.

Như vậy, có thể thấy rằng, sự vay mượn trong ngôn ngữ tuân theo một chiến lược mang tính chất địa-chính trị. Xét về mặt này, các vùng ngoại lai được tạo ra qua quan hệ liên ngôn ngữ giữa tiếng Việt với tiếng Pháp, tiếng Nhật hay tiếng Hàn Quốc thể hiện khá rõ quan điểm vay mượn của tiếng Việt. Với một thời gian đô hộ trên tám mươi năm, tiếng Pháp, và thông qua nó là các ngôn ngữ Ấn-Âu khác, đã để lại trong tiếng Việt một vùng ngoại lai rộng lớn hơn nhiều so với tiếng Nhật hay tiếng Hàn Quốc, vốn là những ngôn ngữ gần gũi với tiếng Việt hơn nhiều, vì ít nhất thì chúng cũng có một đặc điểm chung là cùng chịu ảnh hưởng khá lớn của tiếng Hán. Như vậy, đã xảy ra điều trái ngược. Nhưng điều thực sự đáng nói ở đây là: Dấu ấn của tiếng Nhật hay tiếng Hàn trong tiếng Việt mang nhiều tính ngoại lai hơn tiếng Pháp hay tiếng Anh. Người Việt vẫn nhận ra cái âm hưởng của tiếng Nhật khi đọc/nói hay nghe thấy các từ có nguồn gốc tiếng Nhật như giuđô, karateđô, sumô, hay kimônô. Tiếng Hàn Quốc hiện đại để lại một số tên gọi như daewoo, hyundai hay samsung cùng với rất nhiều những tên riêng qua các phim truyền hình nhiều tập. Món ăn kim chi có lẽ là một trường hợp hiếm gặp khi một từ tiếng Hàn Quốc được người Việt biết đến với một vỏ âm thanh có vẻ “người nhà” hơn. Chính sự đứt quãng lâu dài trong quan hệ của tiếng Hàn Quốc với tiếng Việt, mà chủ yếu do quan hệ địa-chính trị, tiếng Hàn không có ảnh hưởng sâu rộng đối với tiếng Việt như ảnh hưởng của kinh tế Hàn Quốc đối với kinh tế Việt Nam. Những yếu tố ngoại lai có nguồn gốc từ những ngôn ngữ có quan hệ với tiếng Việt trong thời gian gần đây thường không được Việt hóa cao độ, do đó khi hoạt động thường phải có sự trợ giúp của các yếu tố bản ngữ, ví dụ: món kim chi, bệnh karôsi hay áo kimônô. Thiếu đi sự trợ giúp của những yếu tố bản ngữ đó, bức tranh ngữ về thế giới của người Việt trong những trường hợp này sẽ rất mờ nhạt. Ví dụ điển hình là câu chuyện tiếu lâm về món karaôkê ở một nhà hàng nọ vài năm trước. Với một mức độ bản ngữ hóa ít ỏi như vậy, trong khi hoạt động, những từ ngoại lai này cũng thường không chịu sự chi phối của hệ thống tiếng Việt nhiều như trường hợp của các từ gốc Hán, Pháp hay Khơme. Một từ tiếng Pháp chẳng hạn, tuy về nguyên tắc phải rất khác biệt với từ thuần Việt, nhưng do đã được Việt hóa cao độ nên không những có được một âm hưởng giống như một từ tiếng Việt mà còn có khả năng hoạt động giống như một từ của tiếng Việt: Các âm tiết có thể được tách ra khỏi từ như là những hình vị cấu tạo từ, nghĩa là chúng có một giá trị ngữ nghĩa nào đấy. Trong tiếng Pháp, cấu trúc của từ mangouste (măng cụt) là cấu trúc một hình vị cấu tạo từ gồm hai âm tiết và các âm tiết đó không thể tách khỏi nhau để hoạt động độc lập. Trong tiếng Việt, tình hình khác hẳn: Người Việt có thể tách các âm tiết của từ này theo một vài cách khác nhau, ví dụ: măng cụt măng cọt; măng với cụt gì; hay măng với chả cụt. Trong ví dụ trên đây, rõ ràng là các âm tiết trống nghĩa của tiếng Pháp đã được gán cho một ý nghĩa ngữ dụng (ví dụ: để đánh giá tiêu cực về chất lượng của quả măng cụt), và thậm chí còn có thể được tri nhận như là những từ gốc của tiếng Việt, như trong cách giải thích của một số người ở miệt vườn Nam Bộ là “cây có những nhánh măng bị cụt”. Vì lí do đó, các từ ngoại lai du nhập từ tiếng Pháp có thể hoạt động không khác gì một từ thuần Việt. (So sánh: bạn bè → bạn với chả bè, bạn với bè gì.). Điều này càng trở nên rõ rệt khi ta quan sát những trường hợp, trong đó các từ vay mượn được Việt hóa triệt để hơn bằng cách rút gọn âm tiết hay lược bỏ các yếu tố ngữ pháp đi kèm (ví dụ như quán từ chẳng hạn), khiến chúng trở thành những từ đơn tiết như những từ gốc của tiếng Việt và có thể được dùng làm các hình vị cấu tạo từ đơn tiết. Từ nhà ga trong tiếng Việt là một ví dụ cho những trường hợp như vậy. Từ dạng gốc là la gare trong tiếng Pháp, nhà ga trong tiếng Việt thực sự đã trở thành một từ mang đặc trưng tiếng Việt về mọi phương diện. Ngày nay, hầu hết người Việt đều không còn cảm thấy tính chất ngoại lai của từ này, do cấu trúc ngữ âm-ngữ nghĩa của nó. Ở đây, sự bản ngữ hóa không chỉ thể hiện ở việc lược bỏ cái âm [R] ở cuối từ, vốn không có trong tiếng Việt hiện đại, mà còn do cái yếu tố ngữ pháp là quán từ ‘la’, vốn được dùng để biểu thị các ý nghĩa ngữ pháp (ý nghĩa giống và số), được thay bằng yếu tố cấu tạo từ “nhà” rất Việt. Sự hiện diện của hình vị cấu tạo từ ‘nhà’ ở đây làm cho kết hợp nhà ga có cấu tạo rất giống như kiểu cấu tạo từ điển hình của một nhóm lớn các từ tiếng Việt như: nhà máy, nhà hàng, nhà thuốc, nhà xưởng, nhà xác, nhà thương,…Như vậy, trong tiếng Việt, ‘ga’hầu như đã trở thành một hình vị cấu tạo từ. Nói là hầu như vì tính độc lập của nó vẫn còn: Có thể nói: “Đi vào ga” hay “Đây là một ga xép” trong khi không thể làm như vậy với những từ có cấu tạo tương tự (nhưng là từ thuần Việt) như đã nêu ở trên, ví dụ không thể nói: “Đi vào máy” (với nghĩa đi vào nhà máy) hay “Đi vào thuốc” (với ý nghĩa đi vào nhà thuốc).

Như vậy, có thể thấy rằng, sự bản ngữ hóa các yếu tố ngoại lai không luôn luôn đi theo hướng phân biệt những ngôn ngữ gần gũi và ngôn ngữ xa lạ về mặt loại hình hay đơn thuần về mặt địa lí. Quá trình này tuân theo một chiến lược không dễ nhận diện. Quan hệ địa-chính trị chỉ là một trong những yếu tố có tác động mạnh mẽ đến quá trình này.

3. Quan hệ liên ngôn ngữ – từ tín hiệu hai mặt đến tín hiệu ba mặt
Quan niệm về tính chất hai mặt của tín hiệu ngôn ngữ có từ thời F. Saussure đã trở nên quá nổi tiếng và vì thế cũng quá ổn định trong ngôn ngữ học . Quan niệm này là cơ sở cho lí thuyết về tính võ đoán của ngôn ngữ, theo đó quan hệ giữa bình diện biểu hiện và bình diện ngữ nghĩa của tín hiệu ngôn ngữ là quan hệ không có lí do. Đối với đại bộ phận các ngôn ngữ trên thế giới, dường như quan niệm về tính hai mặt của tín hiệu ngôn ngữ luôn luôn có hiệu lực.

Tuy nhiên, quan niệm đó cần phải xem xét lại, chính vì có sự tồn tại của các quan hệ liên ngôn ngữ. Khi nói đến tính hai mặt của tín hiệu ngôn ngữ, các nhà ngôn ngữ học hoặc tín hiệu học thường dựa trên bản chất của mối quan hệ giữa một vỏ âm thanh của ngôn ngữ với hiện thực khách quan hoặc/và với người sử dụng ngôn ngữ (từ đây chúng tôi sẽ gộp chung và gọi là hiện thực ngoài ngôn ngữ). Cái quan hệ đó dường như chỉ có tính chất hai chiều và dường như chỉ mang tính đồng đại. Song, trong thực tế, sự tri nhận quan hệ giữa một yếu tố ngôn ngữ với hiện thực ngoài ngôn ngữ không phải bao giờ cũng đơn giản như vậy.

Sự thật hiển nhiên là: đối với một số trường hợp, sự tri nhận ý nghĩa của một đơn vị ngôn ngữ được thực hiện thông qua mối liên hệ ba chiều: hình thể chữ viết, âm thanh và ý nghĩa. Dĩ nhiên, sự liên hệ như vậy không thể có được ở những người mù chữ. Đối với những người biết chữ, sự liên hệ ba chiều đó cho phép họ tri nhận rất rõ nét bức tranh ngôn ngữ về thế giới, khiến họ có được một lợi thế là có thể thực hiện được những thao tác ngôn ngữ vượt ra ngoài những thao tác ngôn ngữ đơn thuần, trong đó chỉ có sự liên hệ giữa âm thanh và hiện thực ngoài ngôn ngữ. Khả năng liên hệ ba chiều đó khiến họ trở nên thông thái hơn trong cách thao tác ngôn ngữ. Điều này ta có thể thấy rõ nhất trong trường hợp những ngôn ngữ có chữ viết là chữ tượng hình hay tượng ý. Chẳng hạn, một người Trung Quốc biết chữ, khi thao tác từ trung (忠), không chỉ căn cứ vào âm thanh [zhò] mà còn phải biết rằng âm thanh này biểu đạt một khái niệm liên quan đến tình cảm, vì trên chữ viết, nó có chứa bộ tâm (心) do đó phải hiểu là trung thành chứ không thể hiểu là trung tâm (中). Sự liên hội giữa chữ viết và ý nghĩa của từ như thế này không chỉ dừng ở chức năng biểu đạt hiện thực khách quan của từ mà còn kéo theo cả chức năng biểu thị những quan niệm xã hội về hiện thực khách quan của từ. Chức năng này không được thể hiện qua âm thanh mà lại được thể hiện qua chữ viết. Ví dụ: Âm hảo (nghĩa là tốt) được ghi là 好 bao gồm chữ (女) (nữ) và chữ (子) (tử = con trai). Như vậy, tốt được người Trung Quốc quan niệm là phụ nữ và con trai. Quan niệm như vậy chỉ được thể hiện trên chiều kích thứ ba của tín hiệu: hình thể chữ viết. Do đó, sự lĩnh hội đầy đủ ý nghĩa của một từ chỉ diễn ra đối với những ai nắm được và có những hiểu biết nhất định về hệ thống chữ viết của tiếng Trung Quốc (tiếng Hán). Cũng chính vì việc lĩnh hội ý nghĩa của từ phụ thuộc cả vào kiến thức về văn tự nên có sự phân hóa về bức tranh thế giới của ngôn ngữ giữa những người cùng nói tiếng Trung. Bức tranh đó càng rõ nét và đầy đủ khi người sử dụng tiếng Trung có hiểu biết toàn diện hơn về hệ thống văn tự tiếng Trung cũng như lịch sử phát triển của nó. Và đây cũng chính là nguyên nhân vì sao nhiều người Việt Nam ngày nay khi sử dụng các từ gốc Hán đều có sự mơ hồ nhất định trong việc lĩnh hội ý nghĩa của các từ đó: Họ đã chuyển sang dùng hệ thống văn tự khác nên không còn giữ được khả năng liên hội ba mặt của một từ trong tiếng Hán; họ chỉ còn nhận ra mối quan hệ hai chiều giữa các tín hiệu ngôn ngữ mà thôi. Thiếu đi khả năng liên hội ba chiều của tín hiệu ngôn ngữ, một người Việt sẽ thiếu đi khả năng tri nhận những cách chơi chữ dùng chữ Hán của một số nhà văn, nhà thơ: Nếu không được một người am hiểu chữ Hán giải thích, người ta sẽ không nhận thấy cái hay cái đẹp của cách chơi chữ đó. Một ví dụ điển hình là nhiều người Việt khi đọc mấy câu thơ của Hồ Xuân Hương:
“Tiên thiên chưa thấy nhô đầu trọc,
Phận liễu sao đà nảy nét ngang”
đều chỉ lĩnh hội được cái nghĩa “nôm na sằng bậy” của câu thơ mà không tri nhận được cái trò chơi chữ thâm thúy của tác giả, một yếu tố làm cho câu thơ được nâng lên tầm cao của thơ bác học. Trò chơi chữ đó dựa vào chiều kích thứ ba của tín hiệu: chiều thị giác, tức là dựa vào mối quan hệ giữa các chữ thiên (天), phu (夫), liễu (了) và tử (予). Mối quan hệ này nếu diễn nôm thì chỉ có nghĩa là: chưa có chồng sao đã có con, và không có gì là “tục tĩu” cả. Như vậy, sự tri nhận trọn vẹn ý nghĩa của hai câu thơ trên phụ thuộc vào khả năng tri nhận mặt thứ ba của tín hiệu: chữ viết.

Tuy nhiên, điều chúng tôi muốn nói ở đây là: Chính trong các vùng ngoại lai, chiều kích thứ ba của tín hiệu ngôn ngữ mới biểu hiện một cách phổ quát hơn. Trong phạm vi từ vựng ngoại lai, nhờ có mối liên hệ giữa ba chiều kích của tín hiệu mà ý nghĩa của các yếu tố ngoại lai được tri nhận đầy đủ và rõ nét. Mất khả năng liên hội giữa ba mặt của tín hiệu: âm thanh – chữ viết – hiện thực (ngoài ngôn ngữ), người sử dụng ngôn ngữ chỉ tri nhận được phần nào bức tranh ngôn ngữ về thế giới được biểu hiện qua các tín hiệu ngôn ngữ. Hãy lấy trường hợp mátxa (tiếng Pháp: massage) làm ví dụ. Từ này được phát âm tách rời hai âm tiết thành mát xa. Xét về âm hưởng, mỗi âm tiết đó có diện mạo ngữ âm của những từ đơn tiết và thực tế là vỏ âm thanh của chúng hoàn toàn trùng khớp với hai từ mát và xa trong tiếng Việt. Đây chính là lí do khiến cho hai âm tiết này đã được ngữ nghĩa hóa trong một số trường hợp để trở thành hai từ độc lập. Một người Việt bình thường hầu như không nhận ra cái nguồn gốc nước ngoài của từ này, tuy rằng trong ý thức của họ, sự kết hợp giữa mát và xa có cái gì đó không ổn về mặt nghĩa. Điều không ổn ở đây là: dường như có sự không phù hợp ngữ nghĩa của các yếu tố cấu tạo nên từ này, nếu xét trong hệ thống của tiếng Việt. Chính sự không phù hợp ngữ nghĩa của kết hợp này khiến cho người sử dụng cảm thấy khó hiểu cái lí do tồn tại của kết hợp đó, và điều này đã dẫn đến một thực tế là nhiều người có thói quen phát âm chệch từ này thành mát xoa cho nó có dáng dấp của một từ tiếng Việt hơn, bởi vì cùng với từ mátxa, đang song song tồn tại từ xoa bóp của “nội địa” mà ý nghĩa của nó luôn được tri nhận một cách rõ nét. Nhưng chính sự kết hợp mát với xoa lại tạo ra một âm hưởng ngoại lai hơn, bởi vì nghe nó “Pháp” hơn và sự không phù hợp ngữ nghĩa của kết hợp vẫn không được cải thiện. Thành thử, chỉ vì thiếu khả năng liên hội ba mặt của tín hiệu ngôn ngữ, người ta đã mất phương hướng trong việc tri nhận mặt ngữ nghĩa của từ ngoại lai. Bức tranh ngôn ngữ về thế giới bị mờ đi, hoặc được nhìn nhận theo một cách mới. Song, mặt khác, khả năng liên hội ba chiều khi tiếp nhận các tín hiệu ngôn ngữ ngoại lai lại khiến cho người ta bị mất đi cái khả năng tri nhận bức tranh ngôn ngữ mới về thế giới trong tiếng Việt, được hình thành nhờ sự ngữ nghĩa hóa các yếu tố ngoại lai. Xu hướng ngữ nghĩa hóa các âm tiết Ấn-Âu trong tiếng Việt rất mạnh, và xu hướng này làm hình thành một cách tri nhận mới về ý nghĩa của các yếu tố ngoại lai. Đó là bức tranh dân gian về thế giới được biểu hiện qua các yếu tố ngoại lai. Ta có thể dẫn ra đây trường hợp ngữ nghĩa hóa hai âm tiết mát và xa trong mátxa khi dân gian muốn lật tẩy hay phê phán kiểu mátxa giả hiệu:
“Không đi không biết mát xa,
Đi thì mới biết hóa ra mát gần.”

Như vậy, có thể thấy, bức tranh ngôn ngữ về thế giới khi chuyển từ một ngôn ngữ châu Âu sang tiếng Việt đã có sự thay đổi căn bản: Từ mảng thực tế rất hẹp mà từ massage trong tiếng Pháp có thể biểu thị, chúng ta đến với một mảng thực tế rộng lớn hơn nhiều mà từ mát xa có thể biểu thị trong tiếng Việt. Bức tranh ngôn ngữ về thế giới của tiếng Việt không chỉ phản ánh cái biểu niệm hay cái biểu vật của từ mà còn phản ánh cả những cách tri nhận khác nhau về mảng hiện thực được biểu hiện qua từ của người sử dụng ngôn ngữ nữa.

Trường hợp những từ ngoại lai như mít tinh mượn của tiếng Anh lại có một khía cạnh khác. Trong tiếng Anh, từ meeting có cấu trúc hai hình vị: căn tố động từ (meet = gặp, gặp gỡ) và phụ tố -ing có chức năng biểu thị ý nghĩa sự việc, và nhờ đó, nó biến động từ thành danh từ. Người nói tiếng Anh đều nhận thức được điều đó và đối với họ, bức tranh thế giới của ngôn ngữ trong trường hợp này rất rõ nét. Khi được mượn vào tiếng Việt, ý thức về cấu tạo hình vị (hay cách cấu tạo) của từ này đối với đại bộ phận những người sử dụng ngôn ngữ bình thường không còn nữa. Người ta chỉ tri nhận ý nghĩa của từ này một cách tổng thể, không có sự phân định cấu trúc hình vị cấu tạo từ, nghĩa là đối với họ, cả hai âm tiết này đều trống nghĩa, giống như một từ đơn đa tiết của tiếng Việt. Đây là cơ sở khiến cho “mít tinh” trong tiếng Việt có thể được sử dụng với một ý nghĩa không giống như trong tiếng Anh: Nó biểu thị một cuộc gặp gỡ đặc biệt, một sự tụ tập đông người để cùng bày tỏ một thái độ chung đối với một/những vấn đề quan trọng nào đấy, ví dụ như mít tinh phản đối chiến tranh chẳng hạn. Đây cũng chính là lí do tại sao khi người Anh hay người Mĩ nói “I have a meeting” (Tôi có một cuộc gặp/họp) thì người Việt cảm thấy lúng túng, không biết nên hiểu meeting ở đây là cuộc họp, cuộc gặp hay cuộc mít tinh. Muốn biết rõ, người ta buộc phải đề nghị người nói giải thích thêm hoặc phải dựa vào ngữ cảnh (nếu có). Như vậy, ở đây chúng ta bắt gặp hiện tượng triệt nghĩa. Hiện tượng triệt nghĩa đó làm cho bức tranh ngôn ngữ về thế giới của tiếng Anh bị thay đổi: nó bị thu hẹp lại rất nhiều trong tiếng Việt. Chỉ những người có năng lực ngôn ngữ gốc (tiếng Anh) mới có khả năng tri nhận đầy đủ ý nghĩa của từ này, nhờ vào sự liên hội ba mặt của tín hiệu ngôn ngữ như đã nói ở trên.

Trường hợp các yếu tố ngoại lai có nguồn gốc Hàn Quốc còn mang một đặc điểm khác nữa. Như trên đã nói, dẫu giữa Việt Nam và Hàn Quốc trong lịch sử có nhiều mối quan hệ gần gũi hơn so với các nước Phương Tây, song do đặc điểm địa-chính trị, mối quan hệ này trở nên khá mờ nhạt trong một thời gian khá dài. Khi quan hệ được mở rộng, một số từ ngữ, đặc biệt là những tên riêng hay tên gọi các sản phẩm của Hàn Quốc, đã xâm nhập vào Việt Nam. Điều đáng nói là các yếu tố tiếng Hàn đó khi xâm nhập vào tiếng Việt thường được giữ nguyên dạng gốc về mặt phát âm, và được tiếp thu giống như những yếu tố vay mượn từ các ngôn ngữ Ấn-Âu không được Việt hóa. Từ Daewoo chẳng hạn, nó được tiếp nhận như là một tên gọi hoàn toàn trống nghĩa trong tiếng Việt, và âm hưởng của nó được tiếp nhận như là một thứ âm thanh đặc trưng của tiếng Hàn, do sự xâm nhập ồ ạt của các tên gọi Hàn Quốc trên phim ảnh, trong đó có các âm thanh như kim, ching, woo, pắc, sung …lặp đi lặp lại và tạo ra một bức tranh ngữ âm nhất định của tiếng Hàn Quốc trong tâm thức người Việt. Trong thực tế, daewoo là một từ có nghĩa và được người sử dụng tiếng Hàn Quốc tiếp nhận như là một từ bình thường. Ta có thể so sánh trường hợp này với trường hợp tên gọi của công ti dệt Mùa Đông, hay khách sạn Hòa Bình trong tiếng Việt chẳng hạn. Song, trong trường hợp daewoo thì người Việt chỉ tiếp nhận như là một cái tên riêng trống nghĩa. Thực ra, daewoo là đại vũ, một tên gọi có nguồn gốc tiếng Hán: đại nghĩa là to, lớn, còn vũ nghĩa là vũ trụ/mưa. Và nếu có một kiến thức Hán học nhất định thì bức tranh ngôn ngữ về thế giới của từ này càng được tiếp nhận rõ nét hơn, bởi vì người biết tiếng Hán, ngoài khả năng tri nhận mối quan hệ hai chiều giữa âm thanh và hiện thực còn có thêm một chiều kích nữa của bức tranh ngôn ngữ về thế giới, đó là mối quan hệ giữa chữ viết (tiếng Hán) và ý nghĩa. Điều này cũng diễn ra tương tự với những trường hợp khác của tiếng Hàn, ví dụ như hyundai (hiện đại) hay samsung (ba sao) chẳng hạn.

Như vậy, sự ngữ nghĩa hóa và triệt nghĩa các yếu tố ngoại lai chính là nguyên nhân dẫn đến sự phân hóa trong bức tranh ngôn ngữ về thế giới giữa những người sử dụng cùng một ngôn ngữ. Một người biết tiếng Anh chưa từng nghe lần nào ngữ đoạn “bảy úp” hay “uôn cúp” sẽ khó lòng hiểu được kết hợp đó có nghĩa là gì, và do đó họ chỉ tri nhận cái giá trị ngữ nghĩa của kết hợp đó giống như bất kì một người Việt nào. Có khác chăng là do sự kết hợp kì lạ, thiếu lôgích của các âm tiết đó mà họ có thể nhận ra đây là những yếu tố ngoại lai. Song, nếu có năng lực ngôn ngữ gốc và được tiếp xúc với chữ viết, họ sẽ tri nhận được giá trị ngữ nghĩa của các kết hợp tiếng Anh “seven up” hay “world cup” một cách rõ ràng. Tương tự như vậy, một người biết tiếng Hàn Quốc, có thể dễ dàng khôi phục được dạng chữ viết của các từ daewoo hay hyundai của tiếng Hàn đã bị Latinh hóa, khiến cho người không biết tiếng Hàn Quốc tiếp nhận chúng giống như những yếu tố Ấn-Âu chứa những âm tiết trống nghĩa, và hiểu ý nghĩa của chúng. Một khả năng tương tự như vậy cũng sẽ được hình thành ở những người Việt có trình độ ngôn ngữ ở mức trung bình, khi các từ đó được phiên theo âm Hán -Việt là đại vũ và hiện đại, còn ở những người biết tiếng Hán thì sự liên hội ba mặt: âm thanh – chữ viết – hiện thực giúp cho họ ngay từ đầu đã tri nhận được ý nghĩa của các từ đó. Như vậy, sự phân hóa trong bức tranh ngôn ngữ về thế giới giữa những người sử dụng cùng một ngôn ngữ, suy cho cùng, là do sự xuất hiện của chiều kích thứ ba của tín hiệu ngôn ngữ. Trong các vùng ngoại lai, tín hiệu ngôn ngữ có sự thay đổi lớn về bản chất: từ tín hiệu hai mặt, chúng ta buộc phải nhìn nhận sự hiện diện của những tín hiệu ngôn ngữ ba mặt. Và như trên đã nói, năng lực ngôn ngữ gốc là cơ sở để một người sử dụng từ ngoại lai nắm bắt được ý nghĩa thực sự của nó. Song, như trên đã nói, cũng chính cái năng lực “vượt trội” so với những người sử dụng ngôn ngữ bình thường đó lại làm cho họ mất đi cái khả năng cảm nhận những nét đặc thù của quá trình bản ngữ hóa từ ngoại lai, để đến với cái bức tranh ngôn ngữ về thế giới thực sự mang màu sắc của bản ngữ.

4. Kết luận
Trên đây, chúng tôi mới chỉ đề cập một cách sơ lược tới một số khía cạnh của một vấn đề rộng lớn mà ngôn ngữ học cần phải quan tâm nghiên cứu: Sự thay đổi bức tranh ngôn ngữ về thế giới trong lĩnh vực vay mượn từ ngữ nước ngoài của các ngôn ngữ. Sự vay mượn các yếu tố ngoại lai không chỉ dừng lại ở việc thực hiện mục đích bù đắp những thiếu hụt về phương tiện biểu đạt của ngôn ngữ này hay ngôn ngữ kia. Đó cũng không chỉ là sự bản ngữ hóa mặt ngữ âm của các yếu tố ngoại lai nhằm làm mất hoặc giảm đi tính dị biệt của chúng trong mối quan hệ với các yếu tố bản ngữ. Đó còn là cả một quá trình biến đổi ngữ nghĩa phức tạp trong chiến lược tiếp cận với các yếu tố ngoại lai của ngôn ngữ. Vì vậy, chúng ta cần phải có một cái nhìn sâu hơn về lĩnh vực này. Những gì đã được đề cập sơ lược trên đây cũng đã đủ khiến chúng ta phải nghĩ tới một bộ môn nghiên cứu gọi là Ngữ nghĩa học quan hệ liên ngôn ngữ. Đó là một lĩnh vực nghiên cứu bao quát toàn bộ các khía cạnh ngữ nghĩa của quá trình vay mượn lẫn nhau giữa các ngôn ngữ.

Mặt khác, quan hệ liên ngôn ngữ là một trong những đặc trưng mang tính phổ quát của quá trình phát triển các ngôn ngữ, tuy quy mô và ảnh hưởng của các mối quan hệ này đối với các ngôn ngữ có khác nhau. Mối quan hệ liên ngôn ngữ đã, đang và sẽ để lại những vùng ngoại lai trong các ngôn ngữ, làm phân hóa bức tranh ngôn ngữ về thế giới ở những người sử dụng cùng một ngôn ngữ. Sự phân hóa này không chỉ ảnh hưởng tới khả năng giao tiếp của những người thuộc cùng một cộng đồng ngôn ngữ mà còn ảnh hưởng tới việc học tập/giảng dạy ngôn ngữ nói chung và ngoại ngữ nói riêng. Trong quá trình học tiếng mẹ đẻ hoặc ngoại ngữ, năng lực tri nhận ý nghĩa của các yếu tố ngôn ngữ gốc có thể giúp cho người học nắm bắt được đầy đủ hơn bức tranh ngôn ngữ về thế giới nhờ khả năng liên hội ba mặt của các tín hiệu ngôn ngữ, song cũng có thể là nguyên nhân dẫn đến tình trạng phạm lỗi trong khi sử dụng các yếu tố ngoại lai, do không nắm bắt được sự thay đổi của bức tranh ngôn ngữ về thế giới qua quan hệ liên ngôn ngữ. Một học viên Trung Quốc chẳng hạn, khi học một từ Hán-Việt như địa phương có thể nghĩ rằng đây là một từ tương đương với từ dìfēng trong tiếng Trung, trong khi từ này trong tiếng Việt có nghĩa hẹp hơn nhiều so với tiếng Trung, vì trong tiếng Trung, từ này còn có nghĩa là nơi, nơi chốn. Một người Anh học tiếng Việt sẽ có thể sử dụng từ cao bồi hay bồi giống như từ cowboy hay boy trong tiếng Anh trong khi ở tiếng Việt chúng có ý nghĩa rất hẹp. Vì vậy, Ngữ nghĩa học quan hệ liên ngôn ngữ chắc chắn sẽ giúp ích rất nhiều cho thực tiễn giảng dạy và học tập ngôn ngữ. Thêm vào đó, nó còn giúp tìm ra những giải pháp nhất quán để xử lí các yếu tố ngoại lai nhằm khắc phục tình trạng vi phạm hệ thống bản ngữ khi du nhập các yếu tố ngoại lai.

Tài liệu tham khảo

1. Cao Xuân Hạo (1998). Tiếng Việt-mấy vấn đề ngữ âm ngữ pháp ngữ nghĩa. NXB Giáo dục.
2. Đặng Đức Siêu (1995). Ngữ văn Hán Nôm. T. 1. NXB Giáo dục. Hà Nội.
3. Đỗ Hữu Châu (1999). Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt. NXB Giáo dục.
4. Fromkin V., Rodman R. (1998). An Introduction to Language. Harcourt Brace College Publishers.
5. Huszcza Romuald (2002). Polysystemism and co-systemism in modern Korean – an internal vs. external perspective. [trong:] 2nd International Academic Conference Korea – Poland – Central Europe. Perspective Partnership in the Areas of Science, Culture, Art, Literature and Economics (vol.1), tr. 33-52. Poznan, 2002.
6. Jackendoff R. (1993). Patterns in the Mind. New York: Happer Collins.
7. Hoàng Thị Châu (2004). Phương ngữ học tiếng Việt. NXB Đại học quốc gia Hà Nội.
8. Kalisz Roman (1994). Teoretyczne podstawy jezykoznawstwa kognitywnego, [trong:] Henryk Kardel (biên tập). Podstawy gramatyki kognitywnej, tr. 65-76.
9. Lakoff George (1987). Women, fire and dangerous things. Chicago.
10. Lê Đình Tư (1986). Mức độ giao thoa liên ngôn ngữ ở cấp độ từ vựng-ngữ nghĩa. Tạp chí Ngôn ngữ, số 1/1986.
11. Lê Đình Tư (2005). Những vấn đề ngữ nghĩa học âm vị. Tạp chí Khoa học ngoại ngữ số 3/6-2005, tr. 3-15.
12. Lý Toàn Thắng (2005). Ngôn ngữ học tri nhận – Từ lí thuyết đại cương đến thực tiễn tiếng Việt. NXB Khoa học xã hội. Hà Nội.
13. Lyons J.(1984). Semantyka T.1. Warszawa: PWN.
14. Nguyễn Ngọc San (2003). Tìm hiểu tiếng Việt lịch sử. NXB ĐHSP. Hà Nội.
15. Nguyễn Thị Hoài Nhân (2002). Từ vay mượn với sự phát triển vốn từ vựng của ngôn ngữ nói chung và tiếng Nga nói riêng. [trong:] Hội nghị khoa học nữ lần thứ 7. NXB Đại học quốc gia Hà Nội, 10/2002, tr. 88-97.
16. Nguyễn Thiện Giáp (2002). Từ vựng học tiếng Việt. NXB Giáo dục.
17. Nguyễn Văn Thành (2003). Tiếng Việt hiện đại. NXB Khoa học xã hội.
18. Phan Văn Các (2002). Từ điển Hán-Việt. NXB TP Hồ Chí Minh.
19. Rock I. (1983). The Logic of Perception. Cambridge.
20. Thompson L. C. (1987). A Vietnamese Reference Grammar. University of Hawaii Press. Honolulu.
21. Ungerer F., Schmid H. J. (1996). An Introduction to Cognitive Linguistics. London: Longman.
22. A modern Chinese course (1984). Join publishing Co. Hongkong.

————————————————-

Posted in Ngôn ngữ | Leave a Comment »

Tình lơ… Nguyễn Ngọc Tư

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Một 31, 2010

Lâu rồi, má tôi có đi coi phim Công lý báo thù người ta chiếu đằng sân Xã ủy. Dượng Bảy (lúc chưa phải là dượng Bảy) bữa đó cũng coi chung, ngồi kế bên má, gần cái phông vải lớn. Coi hát thì chỗ này là ngon lành nhất, nhìn đào kép rõ, mụt ruồi giả của họ bị rớt, hoặc áo vua rách mình cũng thấy, nhưng đây là chiếu bóng, cái phim từ đầu tới cuối chỉ ca hát với đánh nhau. Cứ mỗi lần nhân vật ra đòn là má tôi né, thấy máu má tôi che mắt kêu trời, tới cảnh mấy con trăn rắn lớn bò tới thì khán giả đều sụt lùi ngã rạp sắp lớp lên nhau la ó ré. Má tôi sợ tới quên trời đất, dúi mặt vô lưng người thanh niên lạ hoắc bên cạnh, tức dượng Bảy. Khi phim gần hết, nam nữ chính múa hát ứ ư thì dượng Bảy đã chính thức chạm vào ngón tay út của má.

Hết phim má tôi để lại một cái lông ngỗng, em là cháu ông xã Nghiệp, rồi chìm mất vào dòng người. Năm bữa sau dượng Bảy (lúc đó sắp là dượng Bảy) nhờ một người bạn của ông ngoại tới nhà. Bữa đó má tôi chở mía đi lò đường để ép, dì Bảy ở nhà nấu cơm. Bạn già của ông ngoại khều dượng Bảy hỏi, “mầy thương đứa đó hả ?”. Dượng ngó cái người thấp thoáng trong bếp, thấy cái eo thon, đuôi tóc dài, gương mặt nhỏ nhắn xinh xẻo, trên môi lúc nào cũng nhoẻn cười , dượng tưởng người quen liền gật đầu. Tới đám ăn trầu uống rượu mới hay dì Bảy có người chị sinh đôi, tức là má tôi. Hai người giống nhau đến mức khó mà phân biệt được, nên đã nhiều người há hốc, “Ủa, mới thấy con Bảy xách giỏ đi chợ cái độp giờ sao nó làm cỏ ở nhà rồi ?” Dượng Bảy cũng cầm khay rượu há hốc ra, hết nhìn cô chị rồi tới cô em. Bẽ bàng. Lỡ làng.

2

– Cô không phải người tôi thương.

Dượng Bảy phũ phàng nói thẳng trong một tối say mèm, say đến nỗi thay vì chỉ thẳng dì Bảy thì dượng dứ dứ vô cái gối. Dì Bảy mắc cười quá, khẽ khều sườn chồng, nhỏ nhẻ, em bên này nè anh. “Tôi nhớ em từ bữa đi coi chiếu bóng tới giờ…”, dượng nói sau khi day lại ôm dì, sau khi cầm ngón út nhỏ nhắn của dì nắn mãi. Dì kệ, để tay mình ở đó, mặt héo lòng hon bỡi bàng hoàng, phải như bình thường dì đã thanh minh giòn giã, “Đây Bảy à nghen, con Bảy, không phải Sáu…” Nhưng dì biết nói gì cũng muộn, người nhầm lẫn là chồng dì, tối đó đúng tối tân hôn.

Bữa sau ra vườn đắp mấy họng đìa, hồn vía để đâu mà dượng xắn lưỡi dá vô chân, máu chảy đầm đìa. Dì Bảy bứt lá chuối non nhai nghiến ngấu đắp lên vết thương của dượng, máu trôi bả chuối này dì đắp lên bã chuối khác, miệng không hay chát. Dượng lắc đầu nói, cô không phải người tôi thương, người ta kia thấy máu trên phim còn không dám nhìn…

Hôm gặt, dì đẩy xuồng lúa bó trên mương ruộng cạn, mồ hôi này chưa khô mồ hôi kia lại tươm bê bết, lúc ăn cơm dượng ngồi gần nhăn mặt, cô không phải người tôi thương, đàn bà gì đâu mà chua lè, người ta kia thơm phức như múi mít…

Năm sau vợ chồng cãi nhau, bữa đó chồng có rượu nói ngang, tức quá vợ đá vô ống quyển của dượng rồi té chạy. Chồng rượt sát đằng sau. Lọt qua cây quao che khuất tầm nhìn, vợ liền xõa tóc đủng đỉnh đi ngược lại, hỏi lớn, “dượng Bảy, cầm chổi chà chạy đâu gấp vậy ?”. Chồng tưởng chị vợ tới chơi, khựng lại sượng trân, “à, tôi.. tôi đuổi mấy con gà…” rồi mời vợ vô nhà, rót nước cho vợ uống, hỏi vợ đói bụng không để chồng nấu cơm. Vợ nằm chờ cơm đòng đưa trên võng, ngó dượng chổng mông thổi lửa, mắc cười nhưng buồn quá, không cười được. Tối đó chồng chắc lưỡi hít hà xoa dầu gió vô chỗ chân bầm tím, chồng nói cô không phải người tôi thương, người ta kia thấy đánh nhau trong phim còn sợ…

Năm sau dì sinh con gái đầu lòng, tóc rụng xơ xác, dượng Bảy ngó lom lom vào đỉnh đầu trống trãi nói, cô không phải người tôi thương, người ta kia tóc nắm môt vốc, mướt rượt…

Cô không phải là người tôi thương, sau này dượng còn nhắc đi nhắc lại câu này, mỗi khi say. Mà nghề thợ mộc cất nhà của dượng thiếu gì dịp say. Dỡ gỗ, nhậu. Lên đòn dông, nhậu. Lợp nhà, nhậu. Nhưng say nhất là về đám giỗ bên vợ, phải ngượng ngập gặp chị vợ lúc này cũng đã có chồng, phải nhớ lại mùi tóc, làn da, ngón tay nhỏ xíu nóng rẫy năm xưa. Nhưng đáp lại cái câu tạt mặt phũ phàng vô duyên vô dùng là một cái nhoẻn cười, cũng đôi khi dì Bảy hỏi lại, “chắc không à?”, mà dượng có lần dõng dạc nói chắc, dì vặn ngay, ‘vậy sao hồi hôm ôm tui ?”. Dượng Bảy không biết trả lời sao, đành ngoẹo đầu ngáy o o.

Có lần dượng đi đám giỗ ba bữa chưa về, dì lấy tờ giấy vẽ bản đồ nhà mình, vẽ sông Cái Tàu cong cong ẹo ẹo qua rạch Giồng Ông, vẽ chòm cây trâm bầu dưới bến, vẽ cái nhà có bàn ông Thiên đằng trước, ghi chú rõ ràng “Nhà Hai Hiệp”. Trâm bầu thì dì viết chữ “trâm bầu”, không thôi người ta nói đó là so đũa sao. Xong dì sai con đem tờ giấy cho dượng. Đi te te về, dượng nạt, ý cô nói tui đi nhậu không biết đường về nhà hả ? Cô sâu cay hết biết. Thiệt là… cô không phải người tôi thương, người ta kia mủ mỉ thật thà…

3

Ba mươi năm sau, dượng Bảy đột quỵ. Chân yếu, miệng méo, xãi lai nằm một chỗ, mỗi khi dì dìu đỡ vào nhà tắm, giặt khăn với nước ấm lau khắp người, thay quần áo cho, dượng mắc cỡ quá nói câu gì đó, dì Bảy phiên dịch là, “cô đâu phải người tôi thương. Người ta kia kín đáo, ý tứ tới cái tên còn không dám nói thẳng ra…”. Dượng nghe chảy nước mắt. Dì hết hồn, hớt hãi nhắn xuống xóm Rẫy kêu má tôi qua, để an ủi tinh thần dượng.

Buổi đó nhá nhem, đèn đỏ ối, dượng Bảy nhìn má tôi rồi ngơ ngác ngó quanh tìm dì, rướn cái cổ lên dượng nói từng chữ lục cà lục cục, “chị không phải người tôi thương…”

___________________________________________________

Posted in Văn học | Tagged: | Leave a Comment »

10 PHIM HAY NHẤT THẬP NIÊN

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Một 31, 2010

Dưới đây là những bộ phim mà tờ Hollywood Reporter đánh giá có ảnh hưởng lớn và thật sự làm thay đổi con người trong thập niên vừa qua.

1. Letters from Iwo Jima
Mở đầu Letters from Iwo Jima, khán giả có thể liên tưởng đến 20 phút đầu phim Saving Private Ryan của đạo diễn kỳ cựu Spielberg. Đạo diễn Clint Eastwood đã kể cho chúng ta nghe về cuộc đời của tướng Tadamichi Kuribayashi, tổng chỉ huy lính Nhật trong cuộc chiến Iwo Jima. Bộ phim đã khắc họa thành công sự trải nghiệm của những người lính bị màn sương chiến tranh bao phủ, ghê rợn, kinh tởm, điếng người trước cỗ máy thần chết.
Trong các tác phẩm của Eastwood, dũng cảm và hèn nhát luôn tồn tại song song. Và ông luôn nhường lời kết, lời nhận định về phía khán giả và các nhà sử học.

2. United 93
Một cảnh tượng đau thương, căm phẫn khi niềm hi vọng tàn lụi dần của những con người bất hạnh trong chuyến bay thảm họa ngày 11-9 đã được tái hiện qua United 93. Đạo diễn Paul Greengrass khiến người xem như được chứng kiến tận mắt chuyến bay cũng như thấu hiểu được khoảnh khắc giữa nỗi thất vọng tràn trề và lòng quyết tâm mãnh liệt.
Đây cũng là bộ phim duy nhất trong thập niên cho thấy được sự thay đổi của thế giới. Mỗi ngày, mỗi phút trôi qua lại có cuộc đối đầu không hồi kết giữa tôn giáo và chính trị.

3. No country for old men
Rất nhiều bộ phim trong thập niên có một cái nhìn nặng nề đối với nạn bạo lực ở Mỹ, một trong số đó là bộ phim nhuốm màu máu, súng và ma túy No country for old men của anh em nhà đạo diễn Coen. No country for old men là phim gây sửng sốt với những nhân vật được khắc họa cùng với những tội ác ngấm sâu vào da thịt như một thứ dịch bệnh.

4. The fog of war
Nhờ vào bộ phim tài liệu The fog of war của Errol Morris, cái nhìn về Robert Strange McNamara – cựu bộ trưởng quốc phòng Mỹ đồng thời là kiến trúc sư trong chiến tranh Việt Nam, đã có một số thay đổi.
Bộ phim ghi lại hơn 20 giờ phỏng vấn với người đàn ông 85 tuổi Robert Strange McNamara và không có âm thanh nào khác. Chân dung của ông hiện lên thật kinh ngạc, càng ngạc nhiên hơn nữa khi ông thú nhận mình cùng với tướng Curtis LeMay chính là tội đồ chiến tranh vì đã chỉ đạo vụ ném bom ở Tokyo và 67 thành phố khác của Nhật Bản khi kết thúc Chiến tranh thế giới thứ II.
McNamara cho biết chính mình là người đã thúc giục tổng thống Johnson rút quân khỏi Việt Nam để nhanh chóng thoát khỏi vũng lầy chiến tranh này. Về cuối đời, do những ám ảnh từ cuộc chiến tranh Việt Nam, ông McNamara lo sợ việc Mỹ sa lầy tại Iraq và có thể phạm sai lầm ghê gớm như trong cuộc chiến tranh Việt Nam – cuộc chiến mà ông McNamara xem là một trong những sai lầm lớn nhất trong cuộc đời ông và của nước Mỹ trong thế kỷ 20.

5. 4 months, 3 weeks and 2 days
Tìm về những con hẻm lụp xụp, nhà sản xuất phim người Rumani Cristian Mungiu đã miêu tả rõ nét một xã hội chuyên chế, đê tiện và tàn bạo dưới cái nhìn ảm đạm trong 4 months, 3 weeks and 2 days. Đây không phải là bộ phim phản ánh các trại tập trung hay sự đàn áp tàn ác mà thể hiện sự lãnh đạm của xã hội trước số phận của con người.
Không còn chút đồng cảm đối với hai người phụ nữ trẻ bất hạnh, đang cố tìm cách giải quyết một bào thai không mong đợi, bộ phim đã lên án bộ mặt lộ liễu của thể chế xã hội trong những tháng ngày đen tối trong quá khứ ở Romania.

6. Far from heaven
Có rất nhiều điều ẩn chứa trong Far from heaven của Todd Haynes. Phim đã thoát ly hoàn toàn so với những bộ phim theo định hướng nghệ thuật điện ảnh những năm 1950. Phim của ông đào sâu vào bộ mặt của xã hội, để thấy được những điều gì là cấm kỵ: từ tình yêu đồng tính thầm kín không dám nói cho đến sự kỳ thị chủng tộc.

7. Divine intervention
Năm 2002, Divine intervention đã bị phản đối vì Palestine lúc đó không được thừa nhận như là một quốc gia. Nhưng Viện hàn lâm Điện ảnh và khoa học Hoa Kỳ đã có một ngoại lệ vào năm 2002 khi đưa phim này tranh giải ở hạng mục phim nước ngoài hay nhất. Đây là một bộ phim phá cách, sử dụng một loại vũ khí mạnh mẽ – tiếng cười – để miêu tả mối quan hệ giữa người Do Thái và người Ả Rập trong thời gian Palestine bị chiếm đóng.
Đạo diễn Elia Suleiman đã chỉ ra công lý, phơi bày ra ánh sáng sự áp đặt của những kẻ chiếm đóng lên những cư dân vùng đất này. Hầu hết những tình tiết hài hước xảy ra ở những khoảnh khắc nhỏ thường nhật: cái nhìn dè chừng giữa những con người thù địch hoặc những nhân vật chỉ biết ngồi bất lực trong xe ở trạm kiểm soát. Chẳng cần ai phải nói điều gì vì những hình ảnh đã nói lên tất cả câu chuyện.

8. Caché
Caché lại là một bí ẩn ở Pháp. Gia đình của Georges (Daniel Auteuil), Anne (Juliette Binoche) và con trai Pierrot (Lester Makedonsky) bỗng nhận được cuộn băng ghi hình kèm với những hình vẽ cho thấy ai đó đã theo dõi ngôi nhà…
Bộ phim thuộc thể loại trinh thám, dựa trên tác phẩm Rear window của Hitchcock. Giống như bộ phim The white ribbon của ông, Haneke chẳng hề mảy may quan tâm đến việc giải thích những bí ẩn trong phim. Ông quan tâm nhiều hơn đến vấn đề phân biệt chủng tộc.

9. The diving bell and the butterfly
Một cơn đột quỵ đã khiến chủ bút người Pháp của tờ tạp chí Elle hào hoa Jean-Dominique Bauby bị liệt và chỉ còn một con mắt trái có thể dùng để giao tiếp. Câu chuyện đã trở thành một minh chứng hùng hồn nhất về ý chí sinh tồn của con người. Bộ phim càng sinh động hơn với những hình ảnh bị mờ và rung, được ghi lại từ những gì nhân vật nhìn thấy trên chiếc giường và xe lăn, cũng như trong ký ức và trí tưởng tượng của mình.
Bộ phim còn thành công hơn khi cho khán giả thấy được Bauby viết nhật ký từng chữ từng chữ một như thế nào, cảm nhận được cơn giận giữ, cơn đói, sự ham muốn, óc hài hước ở một người họ biết trước bệnh tình của mình không thể nào thuyên giảm. Diễn xuất của Mathieu Amalric khiến người xem cảm động đến mức không thể rời mắt khỏi màn hình.

10. The white ribbon
Một lần nữa Michael Haneke lại có mặt trong danh sách này. Lấy bối cảnh ở Đức, bộ phim The white ribbon của đạo diễn người Áo Michael Haneke xoay quanh những đứa trẻ trong một ngôi làng nhỏ trong Chiến tranh thế giới thứ nhất. Ở đó vẫn duy trì một trật tự thứ bậc nghiêm ngặt, mọi người chỉ quan tâm đến vị trí của mình và không hề biết đến “nhân đạo”.
Cũng giống như bộ phim Caché của Michael Haneke, bao trùm bộ phim The white ribbon là những bí ẩn liên hoàn. Trẻ em lớn lên chứng kiến và ám ảnh về những điều tồi tệ của người lớn, mà cả đạo diễn cũng không thể lý giải được những điều tồi tệ đó sẽ dẫn bọn trẻ đến đâu.

N.I.P. (Theo Hollywood Reporter)

Posted in Điện ảnh | Leave a Comment »

Không thể phát triển bệnh viện cho vật

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Một 29, 2010

Lê Đình Tư
(Bài đã đăng trên tạp chí “Tri thức trẻ)

Gần đây, có thể quan sát thấy một hiện tượng khá phổ biến trong việc sử dụng tiếng Việt: Do tiếng Việt không có người chăm sóc nên các cá nhân được dịp thể hiện khả năng sáng tạo ngôn ngữ của mình. Sự sáng tạo những từ ngữ mới, cách gọi mới dường như đã trở thành một trào lưu, mạnh ai nấy làm, không có sự kiểm soát nào cả. Điều đó đang làm cho tiếng Việt trở thành một thứ ngôn ngữ có phần kì lạ và lộn xộn.
Sự cách tân ngôn ngữ luôn luôn xảy ra trong cuộc sống của một cộng đồng ngôn ngữ. Tuy nhiên, sự cách tân ngôn ngữ phải dựa trên sự hiểu biết thấu đáo về toàn bộ hệ thống ngôn ngữ. Điều đó thật không dễ một chút nào, ngay cả đối với các nhà khoa học nghiên cứu về ngôn ngữ. Từ bao nhiêu năm nay, giới chuyên môn ở nước ta đã muốn cải tiến cách viết “y” và “i” sao cho thống nhất và hợp lí, nhưng rốt cuộc, cho đến bây giờ, người ta vẫn chưa tìm ra được cách khắc phục những trường hợp viết thiếu nhất quán như kỹ/kĩ; mỹ/mĩ; mỳ/mì; quý/ quí…Điều đó chứng tỏ cải tiến hay cách tân ngôn ngữ thực sự không phải là công việc đơn giản vì phải dựa trên những hiểu biết khoa học chắc chắn để sự cải tiến hay cách tân theo hướng này hay hướng kia không phá vỡ tính hệ thống của ngôn ngữ.
Sự sáng tạo tên gọi của các sự vật trên cơ sở các từ đã có sẵn liên quan đến sự hiểu biết về ý nghĩa của các từ trong ngôn ngữ. Song, ý nghĩa gắn với từ nhiều khi là một cái gì đó rất khó nắm bắt. Nó là sự hiểu biết về các sự vật, hiện tượng, về nội dung các khái niệm không chỉ liên quan đến hiện thực khách quan mà còn liên quan đến toàn bộ hệ thống ngữ nghĩa của ngôn ngữ. Do đó, cần phải có kiến thức rất sâu và rộng về ngôn ngữ mới có thể xác định được ý nghĩa của từ một cách chính xác. Việc hiểu chính xác ý nghĩa của các từ đã khó, nhưng việc cải tiến nó hay cách tân nó càng khó hơn. Một từ, nếu bị sử dụng sai lệch hoặc được sáng tạo tùy tiện, sẽ làm cho hệ thống ngôn ngữ bị xáo trộn, dẫn đến những cách nói, cách hiểu không rõ ràng, mang tính đại khái và rất chủ quan, chẳng giống ai.
Gần đây, ở nước ta, người ta đã phát triển khá nhiều loại bệnh viện trên cơ sở hiểu biết mơ hồ về khái niệm (ý nghĩa) mà từ bệnh viện biểu thị. Ở các thành phố, người ta đã mở những loại bệnh viện mới là bệnh viện máy vi tính, bệnh viện xe máy, và thậm chí cả bệnh viện chó. Đó không phải là những cách nói theo nghĩa bóng cho vui mà là những tên gọi được dùng làm biển hiệu hẳn hoi. Thoạt nghe thì dường như không có gì đáng nói cả, vì ai cũng hiểu là người ta muốn nói tới xưởng sửa chữa máy vi tính, hay xưởng sửa chữa xe máy. Nhưng đó chỉ là sự liên tưởng có tính chủ quan, sự “đoán mò” kiểu như khi ta nghe một từ tiếng lóng, hay thậm chí một câu thơ có nghĩa nước đôi chẳng hạn, chứ không phải là căn cứ vào ý nghĩa thực sự của từ. Nếu nói về ý nghĩa thực sự của từ thì đương nhiên, ta không thể phát triển một loại bệnh viện gọi là bệnh viện chó. Nhưng điều đó vẫn cứ đang xảy ra. Dường như người ta quên mất (hay không biết) rằng bệnh viện chỉ là nơi khám và chữa bệnh cho người. Khi cần xác định thêm tính chất chuyên môn của bệnh viện, người ta thêm các từ đi kèm như: bệnh viện phụ sản, bệnh viên lao, bệnh viện K, bệnh viện nhi…. Xét trong hệ thống đó, bệnh viện chó không biết nên hiểu là bệnh viện chữa một loại bệnh có tên gọi là chó, hay đây là bệnh viện chữa bệnh không tốt mà người ta chửi là bệnh viện chó. Ở Thanh Hóa, có một làng Chó vốn là tiếng chửi như vậy chứ không phải là làng cho chó hay của chó. Hơn nữa, bệnh viện là một cơ sở y tế, chứ không phải là cơ sở cơ khí, điện tử hay thú y. Không chỉ có tiếng ta mà các thứ tiếng khác cũng đều như vậy. Chỉ có điều, ở các nước khác, người ta nắm rất rõ cái khái niệm mà từ bệnh viện biểu thị, nên người ta không cho phép khai triển những “sáng kiến” ngôn ngữ kiểu này như ở ta. Cho nên, người ta không có các bệnh viện máy vi tính, bệnh viện xe máy, hay bệnh viện chó. Vậy, tại sao chúng ta không nói xưởng sửa chữa máy vi tính, xuởng sửa chữa xe máy, hay trạm thú y như từ trước tới nay vẫn dùng? Các tên gọi mới “bắt mắt” hơn, hay “hoành tráng” hơn chăng? Điều chắc chắn là: những tên gọi đó không rõ ràng. Mà tên gọi đã không trong sáng thì chất lượng cũng rất đáng ngờ. Còn nếu các tác giả của những tên gọi đó muốn làm một cuộc cách mạng trong tiếng Việt thì có lẽ cũng nên kiểm tra lại xem mình hiểu hệ thống tiếng Việt tới mức nào. Bởi vì, với những sáng kiến tùy tiện kiểu như trên, rồi đây con cháu chúng ta có thể sẽ có sáng kiến ngược lại: gọi bệnh viện là xưởng chữa bệnh cho người. Và khi ấy, các bệnh nhân thay vì xuất viện, sẽ xuất xưởng, để cho các máy móc và thú vật xuất viện. Và trong xu thế hội nhập hiện nay, người nước ngoài đến Việt Nam sẽ vô cùng ngơ ngác, vì ở thế kỉ 21 này, người Việt vẫn chưa phân biệt được sự khác nhau giữa người, vật và động vật, giữa y tế, cơ khí, điện tử và thú y. Hơn thế nữa, rồi đây các trường học ở nước ta sẽ phải xây dựng lại mục tiêu đào tạo: các trường đại học bách khoa sẽ đào tạo các bác sĩ cho máy vi tính, ô tô, xe máy, tủ lạnh … còn các trường đại học y khoa sẽ đào tạo kĩ sư chữa bệnh cho người.
Sự mơ hồ trong việc sử dụng các khái niệm (tức là ý nghĩa của từ) không chỉ liên quan đến hiệu quả giao tiếp ngôn ngữ. Nó có thể đưa đến những sai lầm tai hại trong những hoạt động khác. Một ví dụ điển hình là từ khuyến học. Ở thời kì mà phần lớn dân số nước ta mù chữ thì khuyến học là một phong trào hết sức cần thiết và đã được phát động đúng lúc. Khái niệm khuyến học khi ấy đã được hiểu chính xác, và vì thế, việc khuyến học đã góp phần tích cực cho công cuộc chấn hưng dân tộc: xóa nạn mù chữ và nâng cao trình độ dân trí cho xã hội ta. Song, ở giai đọan hiện nay, khi mà xã hội chúng ta đang đấu tranh quyết liệt với nạn dạy thêm, học thêm tràn lan thì việc khuyến học trở thành một việc làm đi ngược với chủ trương đó. Chưa “khuyến” mà con cháu chúng ta đang phải học ngày 3-4 ca, vậy nếu “khuyến” nữa thì không biết các cháu còn phải học thêm những ca nào nữa đây? Cho nên, vì hiểu không đúng khái niệm, các hội khuyến học hiện nay ở ta chỉ làm mỗi một việc, đó là tặng thưởng tiền hoặc hiện vật cho các cháu học giỏi, còn việc các cháu có vì những phần thưởng đó mà học chăm chỉ hơn không thì chẳng ai dám chắc. Chẳng có cháu nào lại nghĩ là mình phải học cho giỏi để được nhận phần thưởng của các hội khuyến học. Các cháu học ngày học đêm là vì muốn lọt được vào cái cổng đại học bé tí của các trường đại học, chứ không phải là do khuyến học. Cho nên, nhiều khi, hội khuyến học chỉ được mở ra để khuếch trương thành tích học tập của con cháu nhằm làm vẻ vang cho các gia đình, dòng họ hay làng xã… Không có nước nào mà nhà nhà khuyến học, làng làng khuyến học, xã xã khuyến học như ở ta. Thế thì làm sao mà chống được nạn học thêm và dạy thêm!
Và cũng đã đến lúc chúng ta cần phải chấm dứt tình trạng người người sáng tạo ngôn ngữ như hiện nay để cho tiếng Việt vẫn là một ngôn ngữ giàu đẹp và trong sáng.

__________________________________________

Posted in Chuyện tiếng Việt | Tagged: | Leave a Comment »

Peơruýtxơ là xứ mô?

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Một 26, 2010

Lê Đình Tư
(Bài đã đăng trên tạp chí Tri thức trẻ)

Người Việt tứ xứ gặp nhau thường có thói quen nhại tiếng nhau hay trêu chọc nhau về cách sử dụng địa phương của các từ ngữ tiếng Việt. Ấy là do mỗi vùng, miền có những cách phát âm khác nhau, có những từ ngữ khác nhau và đặc biệt là có cách sử dụng khác nhau những từ ngữ phổ thông. Một ví dụ điển hình là trường hợp cào cào và châu chấu. Con châu chấu trong tiếng phổ thông là “Bọ cánh thẳng đầu tròn, thân mập, màu nâu và vàng, nhảy giỏi, ăn hại lúa” nhưng đối với các địa phương từ Bắc Trung Bộ trở vào thì đó lại là con cào cào. Còn châu chấu ở những địa phương đó phải là loại “Bọ cánh thẳng đầu nhọn, mình dài, nhảy giỏi, ăn hại lá lúa, lá ngô…” mà trong tiếng phổ thông thì lại là con cào cào. Do đó, khi người Bắc nói nạn châu chấu thì trong Nam phải nói là nạn cào cào và ngược lại. Thế mới có chuyện, khi trên vô tuyến truyền hình Trung uơng nói về nạn cào cào ở Đồng bằng Cửu Long thì người Bắc cứ nghĩ về những con bọ cánh thẳng nhọn đầu mà mỗi khi đi gặt hay đi làm cỏ lúa các bà mẹ thường bắt về cho trẻ con nướng lên, ăn vừa bùi vừa thơm. Giá ở miền Bắc mà có nạn cào cào thì hay biết mấy, có lẽ sẽ có nhiều nhà hàng đặc sản mọc lên. Ấy thế nhưng, người các địa phương từ khu Bốn cũ trở vào mà nghe nói đến việc ăn cào cào thì có lẽ họ sẽ bị lộn mửa. Ở đó, người ta chỉ biết ăn châu chấu thôi. Châu chấu ăn được nên hiếm lắm, thỉnh thoảng mới bắt được vài con. Hay như trường hợp con tép, con tôm cũng vậy. Con tép có nơi thì dùng để chỉ con cá nhỏ, có nơi lại dùng để chỉ con tôm nhỏ. Thế là nảy sinh những cuộc cãi cọ nhau, và “Chửi cha không bằng pha tiếng”, những cuộc tranh cãi tưởng chừng vô thưởng vô phạt về con tôm con tép ấy đôi khi lại dẫn đến những mâu thuẫn nghiêm trọng, vượt lên trên khuôn khổ của những cuộc tranh luận thuần túy ngôn ngữ và có thể mang lại những hậu quả khôn lường.
Mấy năm trước, tôi có dịp làm quen với một tiến sĩ y tế cộng đồng người miền Trung. Trong một văn bản tập huấn về KHHGĐ, dịch giả người miền Bắc đã dùng từ bánh rau thay vì bánh nhau (nhau bà đẻ). Mặc dù dịch giả đã “chua” thêm từ bánh nhau trong dấu ngoặc đơn, nhưng vị tiến sĩ nọ vẫn không chịu, và dứt khoát đòi chỉ được dùng từ banh nhau và bỏ hoàn toàn từ bánh rau, với lí lẽ rằng người miền Trung sẽ không ai nhịn được cười nếu vẫn để từ đó trong văn bản. Là một người hiệu đính, tôi thấy cách làm như dịch giả nọ là rất ổn, vì cứ tùy theo từng địa phương mà sử dụng dạng này hay dạng kia của từ, chẳng chết ai cả. Thế nhưng, cái từ nhỏ nhoi đó lại trở thành lí do để vị tiến sĩ đó bật lên một nhận xét động trời: “Đó là sự bá quyền của tiếng Bắc.” Một nhận xét có thể nói là rất chính trị, bật lên từ một cái góc tâm linh sâu thẳm nào đó trong con người của vị tiến sĩ. Song, nếu vị tiến sĩ đó biết được rằng, “nhau” hay “rau” thì cũng rứa cả, cùng sinh ra từ một gốc, thì chắc cũng chẳng có chuyện to tát như vậy. Ở thời kì cách đây khoảng trên một nghìn năm, người Việt chưa có cách phát âm khác nhau của những từ như dức, diếc, dăn deo, dăn dúm. Về sau, cái âm ‘d’ đó mới được tách ra làm hai là ‘d’ và ‘nh’, thành thử, bên cạnh dức đầu có thêm nhức đầu, diếc móc có thêm nhiếc móc, dăn deo có thêm nhăn nheo, dăn dúm có thêm nhăn nhúm. Một số địa phương lại có cách phát âm ‘d’ thành ‘r’, cho nên hiện nay mới tồn tại đến ba cách phát âm của cùng một từ, ví dụ: dức đầu/rức đầu/nhức đầu; dổ mạ/rổ mạ/nhổ mạ; dăn deo/răn reo/nhăn nheo; dòm ngó/ròm ngó/nhòm ngó. Một vài năm trước, đi trên đường phố Hà Nội, thỉnh thoảng chúng ta vẫn bắt gặp những biển quảng cáo: ”Ruộm hấp” mà có nhiều người ngoại tỉnh thắc mắc: „Ruộm” nghĩa là gì? Đó chẳng qua là nhuộm mà thôi. Vậy nên, nói là “nơi chôn rau cắt rốn” hay “nơi chôn nhau cắt rốn” thì cũng đều là nói về nơi chôn cái rau (cái nhau) và cắt cái cuống rốn của con người ta sau khi cất tiếng chào đời, tức là nơi quê cha đất tổ, chứ không ai nghĩ rau ở đây là rau ăn cả. Đó chẳng qua chỉ là sự biến đổi ngữ âm rất bình thường trong ngôn ngữ, hoàn toàn chẳng có sự áp đặt của ai, chẳng có sự “bá quyền” của một phương ngữ nào cả.
Như vậy, các cuộc cãi cọ xuất phát từ những khác biệt phương ngữ ở ta có liên quan đến một vấn đề rất nghiêm túc: vấn đề chuẩn hóa tiếng Việt. Nếu có sự chuẩn hóa để toàn xã hội chấp nhận một hình thức từ chung cho mọi miền đất nước thì vấn đề sẽ được giải quyết ổn thỏa.
Tuy nhiên, nếu như những sự biến đổi ngữ âm hay biến đổi ngữ nghĩa, như trong một vài ví dụ đã nêu ở trên, là hiện tượng khách quan, có vẻ “vô thưởng vô phạt”, thì thời gian gần đây, chúng ta đang chứng kiến những sự thay đổi rất chủ quan của tiếng Việt, và nếu không có biện pháp khắc phục thì hậu quả sẽ rất tai hại.
Một lần, trong một buổi tiếp chuyện các bậc cao niên trong làng đến chơi, có bác đột nhiên hỏi tôi:
– Này anh giáo, chứ cái xứ Peơruýtxơ là xứ mô, hầy?
– Thưa bác, bác có thể nhắc lại cho rõ được không ạ? Tôi tưởng mình nghe nhầm nên hỏi lại.
– Cái xứ Pe – ơ – ruýt – xơ là xứ mô? Bác nông dân nhắc lại một cách rành rẽ từng âm tiết.
Thế là rõ. Bác nông dân không thể nhầm được. Nhưng tôi thì tôi chịu. Tôi không thể nhớ ra đó là xứ nào. Tôi đành chữa ngượng:
– Bác tính, đời sống đắt đỏ, ai cũng phải bươn trải kiếm thêm nên có ít thời gian theo dõi những thay đổi tên vùng, tên đất trên thế giới. Cháu sẽ về tra cứu và trả lời cho bác sau.
Nhưng tôi cảm thấy đó là sự nhục nhã. Sau này, tìm hiểu mãi, tôi mới biết cái xứ Peơruýtxơ té ra là cách phát âm tiếng Anh của từ Paris, thủ đô của nước Pháp, mà các cụ ngày xưa vẫn gọi là Ba Lê còn ngày nay được gọi chính thức là Pari. Thế là tôi được giải thoát khỏi sự đau khổ. Nhưng tôi cứ suy nghĩ mãi về cái cách phát âm hết sức chủ quan của cá nhân các phát thanh viên nước ta. Dường như họ không cần biết là một tên gọi đã được định hình từ bao nhiêu năm nay, đã được xã hội chấp nhận và sử dụng rộng rãi trong tiếng phổ thông thì phải phát âm cho đúng với chuẩn mực chung, chứ không phải là người biết tiếng Anh thì phát âm theo kiểu tiếng Anh, người biết tiếng Pháp thì phát âm theo kiểu tiếng Pháp… Nhưng điều đó đang diễn ra rất phổ biến trên các phương tiện thông tin đại chúng của ta. Quả vậy, nếu chịu khó để ý đến các địa danh đọc trên các phương tiện thông tin đại chúng, ta có thể dễ dàng nhận thấy rằng, tên gọi nước ngoài được người ta đọc hết sức tùy tiện. Thủ đô Luân Đôn của nước Ạnh cứ được phát âm là Lân Đần, thủ đô của nước Nga lúc thì phát âm là Mátxcơva, lúc thì phát âm là Mốtxcâu, lúc lại phát âm là Mốtxcơva; nước Ítxraen có người cứ đọc thành Ítx roa-oeo. Ngay như thủ đô của nước Lào, người này thì đọc là Viên Chăn, người khác lại đọc là Viêng Chăn. Hay như nước Xinhgapo cạnh ta, có lúc được đọc là Xinhgapua, có lúc lại đọc thành Xanhgapo. Rồi WTO, người thì đọc là ‘vê kép tê ô’, người thì lại đọc là ‘vê đúp tê ô’, người khác lại đọc là ‘đáp liu ti ô’, ‘đáp bờ liu ti âu‘, vê tê ô’ … Và sự tùy tiện đó dường như cũng chẳng có ai thấy cần phái chỉnh sửa, phê phán. Có lẽ sẽ có người lí sự: Chấp gì mấy ông nhà quê tối tăm đó. Dân có học, chắc chẳng ai có khó khăn gì trong việc này. Song, sự thật thì không phải như vậy. Chỉ xin nêu một ví dụ: Hiện nay, phần lớn các nhà trí thức của ta không biết viết tên nước Xinhgapo thế nào cho đúng. Điều đó có lẽ cũng chẳng có gì là lạ vì trên báo chí, người ta cũng viết rất lung tung: lúc thì viết là Xingapo, lúc thì viết là Singapo, lúc khác thì lại là Singapore hoặc Xinhgapo. Nhưng vấn đề là viết như thế nào là đúng? Viết theo âm của tiếng nào? Chưa ai có đủ thẩm quyền để trả lời được câu hỏi này. Như vậy là, chẳng cứ gì các bác nhà quê ít học mà ngay cả các nhà trí thức của ta cũng không biết viết và đọc thế nào cho chuẩn. Đó thực sự là một điều kinh khủng đối với một ngôn ngữ. Và tình hình này đang làm cho thế hệ trẻ hiện nay không biết dựa vào đâu để viết/đọc cho đúng,. Hậu quả tất nhiên sẽ là: họ cũng lại nhiễm phải cái thói tùy tiện của các thế hệ đi trước.
Nhưng đâu chỉ có chuyện đọc và viết. Sự tùy tiện còn biểu hiện trong cách sử dụng từ ngữ. Một ví dụ: Từ “quốc tế” đang được lạm dụng quá đáng. Vốn là một tính từ dùng để chỉ những gì thuộc về quan hệ giữa các nước trên thế giới (tiếng Anh: international có nghĩa là có tính chất liên quốc gia/dân tộc hay có tính chất toàn thế giới), từ này đang được sử dụng với nghĩa tương đương với từ “thế giới”. Vì vậy, thay vì nói “Tin thế giới” người ta hay dùng “Tin quốc tế”, một cách nói khá tối nghĩa, vì nếu giải thích theo một cách khác thì ‘tin quốc tế‘ là tin tức về quan hệ giữa các nước, hoặc là tin tức toàn thế giới, nhưng phải hiểu là quốc tế/thế giới đó không bao gồm Việt Nam, vì luôn luôn có sự đối lập giữa “Tin quốc tế” và “Tin trong nước”. Như vậy, “Tin quốc tế” đúng ra phải nói là “Tin nước ngoài” vì nó không bao gồm “tin trong nước”, và không có lí gì chúng ta lại tự coi mình không phải là một phần của “quốc tế”. Sự lộn xộn về khái niệm đó được lặp đi lặp lại ở rất nhiều trường hợp khác.Ví dụ: Đáng lẽ phải nói “cầu thủ nước ngoài” thì người ta lại nói “cầu thủ quốc tế”, khiến cho ý nghĩa trở nên rất mơ hồ, vì làm gì có cầu thủ nào gọi là cầu thủ quốc tế! Chỉ có cầu thủ của nước này hay nước kia, hoặc cầu thủ nước ngoài chơi cho một đội của một nước nào đó mà thôi. Đương nhiên, sẽ có người lí luận rằng: Viết thế nào cũng được, miễn là hiểu đúng là được rồi. Chẳng hạn, khi nói một cầu thủ tầm cỡ quốc tế mà hiểu là cầu thủ tầm cỡ thế giới thì cũng chẳng chết ai. Nhưng nếu vậy thì “cầu thủ tầm cỡ khu vực” sẽ phải hiểu là cầu thủ không có tính chất quốc tế. Cho nên, những khái niệm như “đẳng cấp quốc tế”, “bằng cấp quốc tế” “tiêu chuẩn quốc tế”, “quốc tế công nhận”… mà chúng ta đang dùng nhan nhản trên các phương tiện thông tin đại chúng cũng như trong giao tiếp hàng ngày, thực ra là những khái niệm rất mơ hồ, có khi tạo ra những cách nói vô nghĩa. Do vậy, các từ ngữ đó cần phải được cân nhắc cẩn thận trước khi sử dụng. Bởi vì sự mơ hồ trong cách hiểu ý nghĩa của các từ sẽ tạo ra những cái vòng luẩn quẩn và bế tắc.
Khái niệm (hay ý nghĩa) gắn với từ là một cái gì đó rất khó nắm bắt. Nó liên quan đến toàn bộ hệ thống ngôn ngữ. Do đó, cần phải có kiến thức rất sâu và rộng về ngôn ngữ mới có thể xác định nó một cách chính xác. Việc hiểu chính xác ý nghĩa của các từ đã khó, nhưng việc cải tiến nó hay cách tân nó càng khó hơn. Một từ, nếu bị sử dụng sai lệch, sẽ làm cho hệ thống ngôn ngữ bị xáo trộn, dẫn đến những cách nói, cách hiểu không rõ ràng, mang tính đại khái và rất chủ quan, chẳng giống ai. Gần đây, chẳng hạn, người ta đã phát triển khá nhiều loại bệnh viện trên cơ sở hiểu biết mơ hồ về khái niệm (ý nghĩa) mà từ bệnh viện biểu thị. Ở Thành phố HCM, người ta đã mở bệnh viện máy vi tính, còn ở Hà Nội thì có bệnh viện xe máy. Thoạt nghe thì dường như không có gì đáng nói cả, vì ai cũng hiểu là người ta muốn nói tới xưởng sửa chữa máy vi tính, hay xưởng sửa chữa xe máy. Nhưng đó chỉ là sự liên tưởng có tính chủ quan, sự “đoán mò” kiểu như khi ta nghe một từ tiếng lóng, hay thậm chí một câu thơ có nghĩa nước đôi chẳng hạn, chứ không phải là căn cứ vào ý nghĩa thực sự của từ. Nếu nói về ý nghĩa thực sự của từ thì đương nhiên, ta không thể phát triển một loại bệnh viện gọi là bệnh viện chó. Nhưng điều đó vẫn cứ đang xảy ra. Dường như người ta quên mất (hay không biết) rằng bệnh viện chỉ là nơi khám và chữa bệnh cho người. Khi cần xác định thêm tính chất chuyên môn của bệnh viện, người ta thêm các từ đi kèm như: bệnh viện phụ sản, bệnh viên lao, bệnh viện K, bệnh viện nhi…. Xét trong hệ thống đó, bệnh viện chó không biết nên hiểu là bệnh viện chữa một loại bệnh có tên gọi là chó, hay đây là bệnh viện chữa bệnh không tốt mà người ta chửi là bệnh viện chó. Hơn nữa, bệnh viện là một cơ sở y tế, chứ không phải là cơ sở cơ khí, điện tử hay thú y. Không chỉ có tiếng ta mà các thứ tiếng khác cũng đều như vậy. Chỉ có điều, ở các nước khác, người ta nắm rất rõ cái khái niệm mà từ bệnh viện biểu thị, nên người ta không cho phép khai triển những “sáng kiến” ngôn ngữ kiểu này như ở ta. Cho nên, người ta không có các bệnh viện máy vi tính, bệnh viện xe máy, hay bệnh viện chó. Vậy, tại sao chúng ta không nói xưởng sửa chữa máy vi tính, xuởng sửa chữa xe máy, hay trạm thú y như từ trước tới nay vẫn dùng? Các tên gọi mới “bắt mắt” hơn, hay “hoành tráng” hơn chăng? Điều chắc chắn là: những tên gọi đó không rõ ràng. Mà tên gọi đã không trong sáng thì chất lượng cũng rất đáng ngờ. Còn nếu các tác giả của những tên gọi đó muốn làm một cuộc cách mạng trong tiếng Việt thì có lẽ cũng nên kiểm tra lại xem mình hiểu hệ thống tiếng Việt tới mức nào. Bởi vì, với những sáng kiến tùy tiện kiểu như trên, rồi đây con cháu chúng ta có thể sẽ có sáng kiến ngược lại: gọi bệnh viện là xưởng chữa bệnh cho người. Và khi ấy, các bệnh nhân thay vì xuất viện, sẽ xuất xưởng, để cho các máy móc và thú vật xuất viện. Và trong xu thế hội nhập hiện nay, người nước ngoài đến Việt Nam sẽ vô cùng ngơ ngác, vì ở thế kỉ 21 này, người Việt vẫn chưa phân biệt được sự khác nhau giữa người, vật và động vật, giữa y tế, cơ khí, điện tử và thú y. Hơn thế nữa, rồi đây các trường học ở nước ta sẽ phải xây dựng lại mục tiêu đào tạo: trường đại học bách khoa sẽ đào tạo các bác sĩ cho máy vi tính, ô tô, xe máy, tủ lạnh … còn trường đại học y khoa sẽ đào tạo kĩ sư chữa bệnh cho người.
Sự mơ hồ trong việc sử dụng các khái niệm (tức là ý nghĩa của từ) không chỉ liên quan đến hiệu quả giao tiếp ngôn ngữ. Nó có thể đưa đến những sai lầm tai hại trong những hoạt động khác. Một ví dụ điển hình là từ khuyến học. Ở thời kì mà phần lớn dân số nước ta mù chữ thì khuyến học là một phong trào hết sức cần thiết và đã được phát động đúng lúc. Khái niệm khuyến học khi ấy đã được hiểu chính xác, và vì thế, việc khuyến học đã góp phần tích cực cho công cuộc chấn hưng dân tộc: xóa nạn mù chữ và nâng cao trình độ dân trí cho xã hội ta. Song, ở giai đọan hiện nay, khi mà xã hội chúng ta đang đấu tranh quyết liệt với nạn dạy thêm, học thêm tràn lan thì việc khuyến học trở thành một việc làm đi ngược với chủ trương đó. Chưa “khuyến” mà con cháu chúng ta đang phải học ngày 3-4 ca, vậy nếu “khuyến” nữa thì không biết các cháu còn phải học thêm những ca nào nữa đây? Cho nên, vì hiểu không đúng khái niệm, các hội khuyến học hiện nay ở ta chỉ làm mỗi một việc, đó là tặng thưởng tiền hoặc hiện vật cho các cháu học giỏi, còn việc các cháu có vì những phần thưởng đó mà học chăm chỉ hơn không thì chẳng ai dám chắc. Chẳng có cháu nào lại nghĩ là mình phải học cho giỏi để được nhận phần thưởng của các hội khuyến học. Các cháu học ngày học đêm là vì muốn lọt được vào cái cổng đại học bé tí của các trường đại học, chứ không phải là do khuyến học. Cho nên, nhiều khi, hội khuyến học chỉ được mở ra để khuếch trương thành tích học tập của con cháu nhằm làm vẻ vang cho các gia đình, dòng họ hay làng xã… Không có nước nào mà nhà nhà khuyến học, làng làng khuyến học, xã xã khuyến học như ở ta. Thế thì làm sao mà chống được nạn học thêm và dạy thêm!
Thật quả đúng là “Cái sảy nảy cái ung”. Cứ cái đà này thì không biết tiếng Việt của chúng ta sẽ đi về đâu. Liệu vài chục năm nữa nó có trở thành một thứ ngôn ngữ pha tạp, hổ lốn, lộn xộn như nhiều người đang lo ngại hay không? Ở nhiều nước, người ta thiết lập những cơ quan chuyên trách để kiểm soát chặt chẽ sự phát triển của tiếng mẹ đẻ. Một cơ quan như vậy, thiết nghĩ, cũng rất cần thiết ở nước ta, để làm sao cho dân ta không đến nỗi phải hỏi nhau: Pari là xứ nào?

Posted in Chuyện tiếng Việt | Tagged: | Leave a Comment »

Hello world!

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Một 24, 2010

Welcome to WordPress.com. This is your first post. Edit or delete it and start blogging!

Posted in Ngôn ngữ | 1 Comment »