NGÔN NGỮ & VĂN HÓA

CHÚC MỪNG NĂM MỚI

Archive for Tháng Hai, 2010

Cá “cầu tõm”: Hôi, có màu vàng

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Hai 28, 2010

Phan Tú

“Con cá rán có màu vàng rộn khác thường, đem ngửi thì thấy mùi hôi. Đây là hai dấu hiệu của những con cá ăn phân người là chủ yếu” – Nhà Ngư loại học, PGS.TS Hoàng Đức Đạt.

Hiện nay, vẫn có rất nhiều hộ dân ở miền Tây vẫn xây cầu tõm nuôi cá. Với ý định nuôi cá phục vụ gia đình, gia đình anh Nguyễn Văn Tấn (xã Tân Lập, huyện Mộc Hóa, Long An) chỉ nuôi chừng 100 con trở lại, nguồn thức ăn duy nhất là phân người. Anh khoe: “Cứ 2 năm tôi đánh cá một lần, con nào con ấy to tròn, chắc lẳn, ăn ngon lắm”.

Khi được hỏi về cảm giác ăn cá cầu tõm, anh Tấn trả lời không một chút băn khoăn: “Có sao đâu, ăn quen rồi mà!”

Điều đáng lo ngại là những con cá này không chỉ nuôi và phục vụ trong gia đình mà còn được đem bán và tiêu thụ.

Nhà Ngư loại học, PGS.TS Hoàng Đức Đạt, nguyên nghiên cứu viên cao cấp Viện Sinh học Nhiệt đới TP.HCM kể: Trong một lần đi công tác tại một tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long, khi vào quán cơm ven đường, ông phát hiện thấy con cá rán có màu vàng rộm khác thường, đem ngửi thì thấy mùi hôi.

“Đây là hai dấu hiệu của những con cá ăn phân người là chủ yếu”, theo PGS. TS Đạt.

PGS. TS Hoàng Đức Đạt cho hay, cá ăn thức ăn chủ yếu là phân người cũng có thể lớn bình thường như cá ăn các nguồn thức ăn khác. Tuy vậy, đó là những con cá rất mất vệ sinh.

Có thể bị sán lá gan vì ăn cá “cầu tõm”

Theo BS Lê Văn Nhân, Phó Giám đốc Trung tâm Y tế dự phòng TP.HCM, trong phân tươi (gồm phân người và các loại phân gia súc khác như phân heo, bò…) có rất nhiều loại trứng giun, sán… Khi phân được thải ra môi trường, trứng giun, sán sẽ nở thành ấu trùng và lột xác nhiều lần…

Cá ăn phân tươi đồng thời sẽ ăn cả các loại trứng giun, sán… Với những con cá này, nếu nấu không chín kỹ, nguy cơ nhiễm bệnh rất cao.

Cụ thể, nếu ăn tái, ăn gỏi, ấu trùng trong thịt cá sẽ vào trong cơ thể người và trưởng thành, gây nên bệnh sán lá gan và các bệnh sán lá khác.

Với bệnh sán lá gan, vi khuẩn sán lá gan sẽ đi theo đường ống mật đến những ống mật trong gan. Tại đây, chúng sẽ hút máu và các chất dinh dưỡng trong gan. Không chỉ thế, những vi khuẩn này sẽ lại tiếp tục đẻ trứng. Trứng lại được thải ra ngoài môi trường và lây cho những người khác.

BS Nhân khuyến cáo, để hạn chế nhiễm bệnh sán lá và các bệnh ký sinh trùng khác, không nên ăn cá sống, gỏi cá, nhất là với những con cá được nuôi ở cầu tõm.

PGS. TS Hoàng Đức Đạt khuyên, với những hộ nuôi cá cầu tõm, để hạn chế việc cá nhiễm bẩn, người nuôi cần thường xuyên thay nước. Trước khi đánh bắt, nên cho cá sống cách ly bằng cách thả nó vào nguồn nước sạch 2-3 tháng.

______________________________________________

Posted in Chuyện môi trường | Tagged: | Leave a Comment »

Cần có cái nhìn nhân văn và khoa học

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Hai 28, 2010

(HNM) – Gần đây, có tác giả đưa ra nhận định ở Việt Nam đã bùng nổ hẳn một dòng văn học nghệ thuật đồng tính trong vài năm nay. Người đưa ra ý kiến này cho rằng: Người quan tâm đến văn học nghệ thuật không thể không thấy “mùi đồng tính” ở khá nhiều show diễn, cuộc triển lãm, bộ phim, tác phẩm văn học, thậm chí cả với từng nghệ sĩ. Người này cho rằng: “Có lẽ chỉ còn kiến trúc và văn học dân gian là tình yêu đồng tính chưa thâm nhập, nhưng biết đâu đấy, chỉ vì tôi chưa hiểu kiến trúc đấy thôi”.

Có thời kỳ dài, các vị giám đốc doanh nghiệp là đề tài cho rất nhiều cuốn tiểu thuyết, phim truyện hay kịch nói. Nếu thực sự có bùng nổ dòng văn học nghệ thuật đồng tính thì điều đó cũng là bình thường. Theo ông Lê Ngọc Cường – nguyên Cục trưởng Cục Nghệ thuật biểu diễn (Bộ VH-TT&DL) thì “Đề tài đồng tính còn khá mới mẻ nên nghệ sĩ có thể còn chưa tìm được những thủ pháp phù hợp để biểu đạt. Sau những sáng tạo nghệ thuật, họ hãy về với công chúng để nhận ra những điểm còn bất cập cần điều chỉnh, sao cho tác phẩm vừa đạt được chức năng giải trí, vừa định hướng giáo dục và thẩm mỹ cho công chúng”. Ban đầu, thế giới quan niệm đồng tính là bệnh, là hiện tượng khác thường nhưng sau đó người ta thay đổi cách nghĩ về hiện tượng đồng tính, coi đó là bình thường, người đồng tính là người bình thường. Họ không phải người bệnh, cũng không giống người mang tật. Cái khác ở họ là khuynh hướng tình dục đồng giới.

Có thể xuất hiện hẳn dòng văn học nghệ thuật đồng tính nhưng các tác giả sẽ tự điều chỉnh theo nhu cầu xã hội. Song vấn đề là ở chỗ cần có cái nhìn nhân văn và khoa học hơn về hiện tượng này. Còn nếu cho rằng đồng tính là “không bình thường, như người bị bệnh, bị tật, bị trục trặc về cấu trúc gien…” thì nghiệt ngã quá.

Người Lái Đò
__________________________________________________

Posted in Văn học | Tagged: | Leave a Comment »

Giá bao nhiêu thì vừa?

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Hai 28, 2010

James Melik
Phóng viên kinh doanh, BBC World Service

Bác sĩ cần tập trên xác trước khi giải phẫu trên người thật

Bất kể chuyện mua bán các bộ phận cơ thể khiến một số người phản cảm, hiện vẫn có nhu cầu chính đáng về các bộ phận cơ thể, các mô và xác người, để dùng trong trường đại học và các ngành y khoa chuyên môn.

Các bác sĩ giải phẫu cần phải thực tập trên xác người trước khi mổ người sống trong phòng mổ.

Các nghiên cứu về cơ thể liên quan đến cơ thể người dùng để huấn luyện sinh viên, bác sĩ và các ngành y tế về kết cấu cơ thể và hoạt động của nó.

Các tổ chức ở Anh có các hoạt động này chịu sự kiểm soát của Cơ quan mô người HTA (Human Tissue Authority).

Người ta trước đó có thể quyết định hiến xác hay các bộ phận cho cơ quan y tế sau khi chết.

Không có khoản tiền nào được trả cho người hiến xác, hay tài sản sau khi chết. Promotion

‘Chợ khuất’

Tuy nhiên, ở Hoa Kỳ thì ngày càng phổ biến tính thương mại hóa trong khu vực cung cấp cho nhu cầu này, với các tổ chức không vụ lợi tham gia thu gom xác.

Họ thường đề nghị giúp đỡ về tài chính cho gia đình người chết, thu xếp quá trình vận chuyển và chuẩn bị xác, cũng như là việc hỏa táng.

Giáo sư Michel Anteby từ Đại học Harvard quan ngại về qui trình hoạt động của các tổ chức đó.
“Ở Hoa Kỳ, có một tội ác về mua hay bán xác người, các bộ phận hay mô người,” ông nói.
“Nhưng luật pháp lại ngăn trả tiền cho việc lấy các bộ phận, chế biến và giữ để làm mẫu.”

Luật mổ xác được Anh ban hành năm 1832

Lấy tiền bồi hoàn cho các dịch vụ đó mở cánh cửa lớn cho thương mại.

“Hoa Kỳ là nơi tuyệt vời để cho các nhà kinh doanh hoạt động và làm những gì họ đã làm,” ông nói.
“Khoảng 15 năm trước, một số người quyết định rằng có một chỗ khuất cho những dịch vụ kiểu như vậy và rất thành công. Một số người nhận được trên 1.000 ca hiến một năm.”

GS Anteby cũng chỉ ra rằng thị trường mẫu xác không được luật hóa.

“Hành nghề bán nhà cần giấy phép, ngay cả bán kẹo trong hội chợ của bang cũng cần giấy phép, nhưng liên quan đến mẫu x́ac thì không cần.”

Trọn gói

Theo luật Hoa Kỳ, người ta có thể nói là muốn hiến xác cho khoa học, hoặc người thân có thể hiến sau khi họ chết và các tổ chức không lợi nhuận có thể nhận “các món quà giải phẫu”.

Cơ quan đăng ký quà giải phẫu AGR ̣(Anatomy Gift Registry) thu tiền để cung cấp xác và mô cho các công ty y khoa và các trường đại học dùng trong nghiên cứu y khoa.

“Chúng tôi phải trừ chi phí, bao gồm chuyển xác, hoạt động ký kết giấy tờ, quá trình giám nghiệm tử thi để xác định các bệnh lây, mổ và chuẩn bị xác,” theo ông Brent Bardsley từ cơ quan đăng ký.

“Chúng tôi dự trù sẽ thu 5.000 đến 6.000 USD trên một xác mẫu – toàn phần hay là sau khi cơ thể đã được chia ra,” ông nói.

Chi phí vào khoảng 10̀% và trên nữa đối với các chi phí cho phép công ty mở rộng thành một trung tâm huấn luyện giải phẫu tại chỗ, nơi công chúng có cơ hội vào xem phòng thí nghiệm.

Công ty sẽ hỏa thiêu các bộ phận không cần thiết sau đó, gia đình không phải chịu tổn phí.
“Chúng tôi đưa một phần của các bộ phận còn lại về cho gia đình trong vòng 4 tuần lễ sau ngày hiến xác – đó là những phần cơ thể sẽ không được dùng vào nghiên cứu. Các trường đại học và trung tâm y khoa có thể kéo dài đến hai năm.” ông Bardsley nói.

Người ta (các bác sĩ) không thể có nhiều kinh nghiệm nếu không có người hiến các mẫu xác.

Brent Bardsley

Ông phủ nhận mọi ý kiến cho rằng nghề của ông ghê tởm và kinh khủng.

“Nếu quí vị bị thương thì sẽ đến bệnh viện và mong sẽ được điều trị một cách tốt nhất,” ông nói.
“Người ta coi như đương nhiên khi bác sĩ giải phẫu là người có nhiều kinh nghiệm để chăm sóc họ tốt nhất. Người ta không thể có nhiều kinh nghiệm nếu không có người hiến các mẫu xác,” ông giải thích.
“Chúng tôi duy trì sự kiểm soát sự phân phối các mô.” ông nói thêm, “và chúng tôi phải duy trì lòng tin đó, vì nếu không người ta sẽ không tặng những món quà đó cho chúng tôi.”

Cướp xác

Trước đây các bác sĩ thường nhắm mắt làm ngơ về nguồn xác mà họ có được.

Trước Luật giải phẫu năm 1832, nguồn xác hợp lệ duy nhất để giải phẫu ở Anh là những người bị tòa án tử hình hoặc xác bị tòa yêu cầu khám nghiệm.

Nhưng các bản án không đủ phục vụ cho nhu cầu của các trường y khoa và tư nhân vì đến thế kỷ 19 mỗi năm chỉ có khoảng 55 bản án tử hình.

Cùng với sự phát triển của các trường y khoa, con số xác cần đến mỗi năm là chừng 500.

Và thế là nhiều bác sĩ chuyển sang tìm xác để cung cấp cho nhu cầu cấp thiết đó.

Trong năm 1827 và 1828 ở Edingurgh, William Burke và William Hare chuyển phương pháp làm ăn từ ăn trộm xác dưới mộ thành giết người, vì họ được trả giá rất nhiều cho các xác còn tươi.

Hoạt động của họ và những kẻ đào mộ trộm xác ở Luân Đôn đã khiến chính phủ phải ra luật về giải phẫu năm 1832.

Luật này cho phép dùng xác vô thừa nhận và xác được thân nhân tặng để nghiên cứu giải phẫu học, và yêu cầu các giáo viên có giấy phép mới được dạy giải phẫu, chấm dứt nạn mua bán cướp xác.

__________________________________________________________

Posted in Chuyện xã hội | Tagged: | Leave a Comment »

Thắt chặt ‘ngân sách’ gia đình đón giá điện, nước tăng

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Hai 28, 2010

Lệ Thanh

Từ sau Tết đến nay, giá cả các mặt hàng thực phẩm, rau xanh liên tục tăng cao và chưa có dấu hiệu giảm. Đầu tháng 3, giá điện, nước sinh hoạt lại được điều chỉnh lên khiến các bà nội trợ lo sốt vó cho chi tiêu gia đình.

Chị Thanh Lan, quê ở Cần Thơ đang làm công nhân tại Khu công nghiệp Tân Tạo cho biết, thu nhập của hai vợ chồng một tháng chưa tới 6 triệu đồng nhưng chỉ tính riêng tiền sữa cho cậu con trai 2 tuổi đã ngốn hơn một triệu. Thêm 500.000 đồng tiền gửi trẻ hàng tháng. Ngoài ra là tiền ăn uống đi chợ cho hai vợ chồng, chi phí đi lại, nhà trọ … cũng gần 4 triệu nữa. Thu nhập vợ chồng thì không tăng, trong khi giá hàng hóa mỗi ngày một leo thang khiến chị nhiều lúc tính toán nát óc mà vẫn thiếu trước hụt sau.

Tháng 3, giá điện nước bắt đầu điều chỉnh, dự đoán thị trường sẽ thiết lập một mặt bằng giá mới, chị Lan bàn với chồng cắt giảm một số chi phí sinh hoạt như hạn chế ăn món tôm cá đắt tiền, cất bớt một chiếc xe để hai vợ chồng chịu khó đưa đón nhau, tính lại chi phí hiếu hỉ họ hàng bạn bè… Tuy nhiên dù thì gì cũng cố gắng đảm bảo chế độ ăn uống, chăm sóc cho cậu con trai ở mức tốt nhất có thể.

Nhưng chị Lan vẫn may mắn khi thu nhập gia đình và ngân sách chi tiêu còn có thể “nhúch nhích” được. Còn trường hợp của vợ chồng chị Loan, quê Kiên Giang, chung khu nhà trọ với chị Lan dường như hết đường lui. Anh chị có một con nhỏ dưới 1 tuổi. Vợ làm công nhân, chồng chạy xe ôm nên thu nhập rất thấp. Tài chính gia đình eo hẹp nên cháu bé không được uống sữa nhiều khiến ngày càng ốm yếu. Sau Tết, hàng hóa thực phẩm đụng vào thứ gì cũng đắt đỏ.

Đã vậy, từ tháng 3, chi phí điện nước lại tăng khiến kinh tế cả nhà thêm khó. “Tôi định tuần tới phải gửi cháu về quê nhờ bà ngoại chăm giúp chứ không thể nào kham nổi. Giá điện nước tăng vài phần trăm với nhiều người thu nhập khá thì không cao, chứ còn vợ chồng tôi ở nhà thuê phải tính điện nước theo giá cho dân nhập cư nên chi phí còn tăng rất nhiều”, chị Loan nói.

Ở nhà thuê, hiện vợ chồng chị Loan đã phải trả tiền điện 3.000 đồng một kW, 10.000 đồng một m3 nước. Do đó sắp tới, chắc chắn phần chi tiêu của gia đình dành cho điện nước phải tăng ít nhất là 20% nữa.

Trong khi đó với nhiều bà nội trợ, những ngày sau Tết ra chợ là “choáng” vì giá cả. Tại chợ Bà Chiểu, hôm 25/2, chị Mai (Bình Thạnh) cứ xách giỏ đi qua đi lại quầy cá thịt, rau xanh mà vẫn chưa quyết định mua gì. Chị than thở, sau Tết đụng vào món nào giá cũng cao ngất. Lúc trước, chị cầm 50.000 đồng là có thể mua được một bữa ăn tươm tất cho cả nhà. Giờ thì hôm nào đi chợ cũng mất trên 70.000 đồng mà bữa ăn vẫn không có gì đặc biệt hơn. Dường như mọi thứ sau Tết đều đua nhau tăng giá và không chịu xuống.

Định lựa 1 kg thịt ba rọi nhưng hỏi giá nghe người tính 70.000 đồng, chị Nga liền buông ra và ghé sang sạp bán rau. Nhưng chị tiếp tục ngẩn ngơ vì một kg rau muống cũng có giá trên 12.000 đồng. Quanh một vòng chợ, chị Nga than thở: “Cứ đà này chắc cả nhà phải ăn mì gói quá”.

Chị Liên (quận Bình Tân) thì chua chát kể, nhà có hai đứa con đều đang tuổi đi học. Tài chính của gia đình tất cả phụ thuộc vào nguồn thu nhập của ông xã. Mà khổ nỗi, tháng nào tiền ông ấy đưa cũng chỉ gọn trong một khoản, giá cả thì cứ đội lên ào ào. Để không bị hụt trước thiếu sau chị đành phải cắt xén bữa ăn của gia đình thành “nhiều cơm ít thịt”.

Không ít bà nội trợ đang mua sắm tại siêu thị Co.op Mart Cống Quỳnh cho biết, lúc trước bỏ ra khoảng 100.000 đồng là có thể mua được đủ thứ rau, thịt, cá… cho bữa cơm gia đình. Nhưng giờ cũng ngần ấy tiền chỉ có thể đảm bảo bữa ăn không thiếu chất chứ không phải là sang.

Trong khi người bình dân đang lao đao vì giá, thì ngay cả những gia đình kinh tế khá hơn cũng bắt đầu ráo riết thực hiện chính sách cắt giảm chi tiêu những thứ không cần thiết.

Chị Thanh Cúc, nhân viên đối ngoại của một công ty nước ngoài đang đấu tranh từ bỏ sở thích mua sắm cuối tuần để tiết kiệm ngân sách cho gia đình trong thời buổi đắt đỏ. Chị bộc bạch: “Giá thực phẩm dạo này tăng dữ quá làm túi tiền cũng phải vơi đi”.

Vợ chồng chị Thu ở quận 3, bàn nhau qua Tết sẽ mua một chiếc xe máy mới để chị đi làm riêng cho tiện và không phải ké ông xã. Nhưng sau Tết, anh chị thấy giá xăng tăng và mọi thứ cũng đang tăng theo nên quyết định tạm dời kế hoạch mua xe.

Chị Thu kể: “Ngay cả chi phí cho tiền ăn của đứa con đang học mầm non, nhà trường cũng đã thông báo tăng thêm 100.000 đồng một tháng, trong khi tiền lương của vợ chồng thì vẫn cứ giẫm chân tại chỗ”.

Không chỉ các bà nội trợ mới lo lắng mà ngay cả tiểu thương buôn bán tại các chợ cũng tỏ ra ngao ngán. Bác Tám, chủ một quầy rau tại chợ Bà Chiểu than ngắn thở dài: “Giá cả leo thang thế này, tụi tôi cũng phải bỏ vốn ra nhiều hơn, trong khi lời chẳng được bao nhiêu. Không chỉ thế, do giá đắt đỏ nên lượng rau bán ra giảm đáng kể vì người mua dè xẻn bớt. Có ngày còn bị lỗ vốn nữa, nói chi lời”.

Tiếp lời, cô gái bán hàng thủy, hải sản ngồi cạnh bên lên tiếng: “ Ngồi cả ngày trời, thấy ai đi qua cũng mời mỏi miệng, nhưng vì giá các loại sò, ốc không chịu giảm nên lượng người ghé mua cũng ít đi. Nhiều hôm lo sốt ruột vì mặt hàng này mà không bán chạy, để lâu thì những con ốc, sò rất dễ bị chết và lỗ vốn như chơi”.

Nhiều tiểu thương lo ngại, nếu từ tháng 3 chi phí điện nước tăng, thị trường thiết lập một mặt bằng giá mới, nhiều gia đình thắt chặt chi tiêu gia đình thì việc mua bán lại càng thêm ế ẩm.

______________________________________________

Posted in Chuyện đời sống | Tagged: | Leave a Comment »

Đẽo gỗ tìm trầm

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Hai 28, 2010

Trương Tâm Thư

(LĐ) – Trầm cảnh Trung Phước không chỉ nức tiếng trong Nam ngoài Bắc, mà hương thơm còn lan xa khắp vùng Châu Á.

Trong những lễ lạt, đặc biệt là tết cổ truyền Việt Nam cũng như ở nhiều nước Châu Á, dường như không thể thiếu mùi trầm hương thanh thoát. Gần đây, xuất hiện những cây trầm cảnh với vẻ đẹp đặc dị được trưng bày. Đó chính là sản phẩm “độc quyền” mới chỉ có từ làng Trung Phước (xã Quế Trung, huyện Nông Sơn, tỉnh Quảng Nam) vốn chuyên nghề “ngậm ngải tìm trầm” sau khi giải nghệ đã sáng lập nên nghề mới. Trầm cảnh Trung Phước không chỉ nức tiếng trong Nam ngoài Bắc, mà hương thơm còn lan xa khắp vùng Châu Á.

Làng nghề trẻ

Bến sông Trung Phước thượng nguồn sông lớn Thu Bồn suốt những năm 70-80 thế kỷ trước là nơi giao thương sầm uất giữa miền xuôi và mạn ngược. Tại đây hình thành một “chợ đen” đầu mối buôn bán trầm hương quý hiếm quốc cấm khi ấy.

Ông Nguyễn Trường Bộ vốn là một tay “điệu” (tìm trầm) lão luyện, nhớ lại: “Trầm hương quý hiếm hơn là kỳ nam, chỉ có trong cổ thụ mục rữa giữa rừng thiêng nước độc, không dễ gì tìm được. Mỗi chuyến đi trầm phải cơm đùm gạo gói chui rúc hàng tháng trời với thú dữ, sốt rét rình rập, có thể mất mạng bất cứ lúc nào. Gọi là “ngậm ngải tìm trầm”, nên chi nghề này nhanh chóng lụi tàn do nguồn tài nguyên cạn kiệt, người trúng trầm thì ít mà người trắng tay bỏ mạng thì nhiều”.

Ông Bộ sớm bỏ làm “điệu” chuyển sang làm “tài kê” (buôn trầm), rồi nhanh chóng nắm bắt nghề chế tác trầm cảnh, trở thành một chủ cơ sở trầm cảnh lớn ở Trung Phước bây giờ.

Như một “duyên nghiệp”, các “điệu” và “tài kê” có thâm niên ở làng Trung Phước vốn quen hơi thuộc tính loại lâm sản đặc dị, sau khi không còn có thể “săn trầm”, vẫn tiếp tục gắn với mùi hương khó kiếm này bằng cách “đẻ” ra nghề chế tác trầm cảnh.

Đó là vào những năm 1990. Một trong những người “khai canh” là ông Trương Văn Mẫn, kể lại: “Hết thời trầm rục giữa rừng hoang dã, bọn tui mới nghĩ đến những cây dó bầu trong vườn rừng, vườn nhà. Vốn sau hàng mấy trăm năm, cây dó mới cho trầm tự nhiên, mà không phải cây nào cũng có trầm, thì biết đợi đến bao giờ? Chi bằng cứ “đẽo gỗ tìm trầm”, lại tìm ra sinh lộ, là trầm non mắt kiến, có thể chế tác thành trầm cảnh. Kịp lúc ở Quảng Nam việc làm trầm nhân tạo bằng cách bơm hóa chất vào cây dó bầu thành công, tạo nguồn nguyên liệu cho nghề”. Nghề mới từ đó mà truyền ra khắp làng. Cơ sở trầm cảnh của ông Mẫn giờ lớn nhất vùng.

Tuy tuổi làng nghề non trẻ, nhưng những “tổ nghề” tuổi đời trung niên đã kịp đưa ra “cơ sở lý luận” cũng như “phân loại sản phẩm” khá tường tận. Trầm cảnh chia làm hai loại: Trầm dó sanh và trầm nhúng.

Các chủ cơ sở trầm cảnh cho biết, muốn chế tác một cây trầm cảnh dó sanh loại đẹp thì cây dó tươi phải tuổi 30-40 năm, còn nguyên bộ rễ, thân to, nhiều mắt, nhiều nhánh, dầu trầm đen và dày. Cây dó được gọt tỉa sao cho những mắt kiến dầu nhỏ li ti lộ ra nguyên hình.

Nghề tỉa trầm không dành cho người “nóng hổi và bồng bột”, mà phải thật tỉ mẩn, kiên nhẫn, chỉ cần nhỡ tay một chút, vỡ một mắt kiến là toàn bộ thân kiến coi như hỏng, có chữa lại bằng cách dán keo cũng trở thành hàng “thứ phẩm”.

Một cây trầm cảnh loại nhỏ và vừa giá bán từ 2-20 triệu đồng, loại to từ 20-50 triệu đồng. Việc chế tác trầm dó nhúng cũng lắm công phu. Một chủ cơ sở “tiết lộ”: Hàm lượng tinh dầu trầm trong trầm nhúng chỉ khoảng 10%, còn lại là tinh dầu chiết xuất từ cây ô dước, cũng đen như dầu trầm, vẫn có mùi thơm nhẹ.

Cây dó tươi sau khi cưa ra, đục, tỉa sao cho hình dạng giống những cục trầm tự nhiên, đem phơi khô, bỏ vào hỗn hợp tinh dầu ô dước và trầm hương, nấu trong lò tự chế khoảng một tuần lễ rồi vớt ra tẩy rửa, tỉa lại lần thứ hai, cho ra sản phẩm trầm nhúng có màu đen óng từ trong ra ngoài, đốt vẫn thơm. Giá bán trầm nhúng trên thị trường hiện nay 1-1,2 triệu đồng/kg.

Làng nghề trẻ Trung Phước tự hào rằng sản phẩm trầm cảnh vừa mới chào đời đã sớm được thưởng thức xứng đáng, với cây trầm cảnh “có một không hai ở VN”, được đem đấu giá trực tiếp trên VTV trong chương trình “Nối vòng tay lớn” gây Quỹ Vì người nghèo đêm 31.12.2004 tại TPHCM, đạt giá “kỷ lục” 1,3 tỉ đồng.

Tác giả-nghệ nhân Lê Văn Tấn kể lại: “Cây trầm cảnh này cao gần 3m, do 10 thợ giỏi gọt từng sợi gỗ, vuốt từng mắt trầm li ti, chải chuốt tỉ mẩn suốt 2 tháng ròng mới xong”. Hiện Trung Phước có hàng chục cơ sở lớn nhỏ đạt doanh số vài trăm đến cả tỉ đồng mỗi năm với hàng trăm thợ trầm có thu nhập ổn định bình quân hằng tháng 1-2 triệu đồng – một con số khá cao ở vùng sơn địa vốn chỉ biết làm ruộng nhờ vào nước trời.

Bán dạo quốc tế

Không chỉ sáng tạo nghề, làng nghề trẻ Trung Phước còn tỏ ra khá tài giỏi trong việc đưa sản phẩm ra thị trường, hình thành mạng lưới tiêu thụ trầm cảnh với các doanh nghiệp tư nhân ở TPHCM, Đà Nẵng, Hà Nội, do chính những người làng Trung Phước gầy dựng. Trầm cảnh Trung Phước còn “tỏa hương” ra thị trường nhiều nước Châu Á.

Ông Trương Thanh Hiền – GĐ Cty TNHH trầm hương Nông Sơn – cho biết: “Trầm hương ngoài dùng để chế biến dược phẩm, nước hoa, còn để trưng bày làm cảnh, tỏa hương trong nhà, theo quan niệm tâm linh của người VN, Nhật, Trung Quốc và các nước Châu Á khác, là để trừ tà.

Người Nhật không đốt trầm như ở VN. Cây trầm cảnh khi mua về được họ để trong lồng kính có bộ điều chỉnh nhiệt, khi muốn thưởng thức chỉ cần điều chỉnh nhiệt độ đến 37,5oC là cây trầm cảnh sẽ tỏa hương ngào ngạt. Trà đạo của Nhật cũng không thể thiếu hương trầm.

Nói không ngoa, trầm Trung Phước mang lại giá trị cao phần lớn nhờ vào truyền thống thưởng thức dáng vẻ kỳ thú và mùi hương thoát tục từ trầm của dân Châu Á, đặc biệt của giới “quý tộc”. Một xâu chuỗi hạt đeo tay giá thành 50.000-60.000 đồng, khi xuất ra nước ngoài có giá trên 800.000 đồng. Các loại trầm cảnh tỉ lệ lợi nhuận còn cao hơn, có khi gấp cả mấy chục lần giá thành”.

Hấp dẫn thú vị nhất, chứng tỏ sự táo bạo, nhanh nhạy và cả cái máu liều luôn chảy giậm giật trong “dân trầm” Trung Phước, phải kể đến “đoạn” dân xóm núi này đưa sản phẩm ra nước ngoài để… bán dạo. Một trong những “tay liều tiên phong” được làng nghề ghi công, là ông Trương Văn Bê.

Ông Bê vẫn còn nhớ như in chuyến bán dạo đầu tiên, cách đây 2 năm: “Biết hàng trầm cao cấp chủ yếu tỏa hương ở nước ngoài với giá cao, tui nảy ý bán hàng tận ngọn, bèn gom hàng độc, một mình qua Bắc Kinh. Xuống sân bay, mang gói hàng bên mình, sau một hồi lơ láo giữa phố phường lồng lộng, tui vẫy đại chiếc taxi, cứ chỉ chạy thẳng, rồi dòm chừng thấy có cửa hàng mỹ nghệ là đập dừng xe.

Đầu tiên phải khoe hàng bằng cách đốt cháy cho họ ngửi mùi thơm để biết là trầm. Nếu họ có vẻ muốn mua, tui gọi điện thoại về nhà cho đứa em là sinh viên ngoại ngữ nói tiếng Trung với họ để làm giá. Được thì bán, không thì lại lên đường. Hơn mười ngày ở Bắc Kinh, cứ rứa mà kiếm gần 100 triệu đồng. Hú hồn vừa ra trận đã thắng ngay, thành công ngoài mong đợi. Bây giờ công việc chính của tui là lang thang tìm đối tác. Còn việc chế tác, đóng gói vận chuyển dành cho người nhà”.

Sau “kỳ tích” này, nhiều “dân liều” có máu mặt ở làng trầm nối bước chào hàng ở những vùng đất mới ngoài biên giới, đi bán dạo xuyên quốc gia. Ông Huỳnh Văn Thành kể: “Hồi mới đi lần đầu lơ lơ láo láo, không biết tiếng Trung không biết tiếng chi, nhưng nghe anh em rủ rê, cũng liều gom hàng đi theo, qua Trung Quốc.

Lúc rời khách sạn, vừa cầm cái danh thiếp của “hắn”, vừa lấy điện thoại di động bợp (chụp) cái mặt tiền “hắn” một phát nữa cho chắc ăn. Rồi đi lòng vòng phố xá săn cửa hàng mỹ nghệ để bán hàng, đến lúc về thì đưa cả danh thiếp lẫn hình trong điện thoại là tài xế chở tận nơi.

Chừ thì đã rành rẽ quá rồi. Sau kỳ hội chợ ở Côn Minh, rồi Bắc Kinh, nhiều sinh viên nước mình du học bên này nhận làm thông dịch viên, buôn bán hên xui, “trúng” thì trả thù lao hậu hĩnh 50-100USD/ngày, “trượt” thì chỉ tính tiền công nhật với nhau”.

Đến nay, hàng chục doanh nghiệp trầm cảnh Trung Phước tham gia đều đặn các hội chợ quốc tế từ Hồng Kông, Đài Loan, Trung Quốc đến Nhật Bản. Ông Nguyễn Văn Hoà – Trưởng phòng Công Thương huyện Nông Sơn – cho biết: “Huyện đã quy hoạch dành hẳn khu vực riêng cho làng nghề ở khu CN, cùng với đề án riêng khuyến công hỗ trợ phát triển nghề trầm cảnh, kỳ vọng tạo nên một thương hiệu mang tính đột phá cho địa phương”.

Còn ông Nguyễn Ngọc Toản – xuất thân “điệu” trầm Trung Phước, nay là GĐ Cty Fong San (TPHCM) – thổ lộ: “Quảng Nam hiện có cả ngàn hécta trồng dó bầu. Nhiều Cty tham gia buôn bán trầm cảnh và trồng dó bầu nguyên liệu, bao gồm cả hàng chục doanh nghiệp xuất thân từ Trung Phước như tôi. Riêng Cty tôi đã gầy dựng hàng chục trang trại với hàng nghìn hécta trồng dó từ Tây Nguyên đến Đông Nam Bộ. Chúng tôi hy vọng xây dựng một “chợ trầm” VN tầm cỡ thế giới”.

___________________________________________

Posted in Chuyện làng nghề | Tagged: | Leave a Comment »

Chuyện sợ như đùa: Tàu hỏa chạy qua… ao cá

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Hai 28, 2010

Thái Phương

Không ít người dân tại tại TP.HCM đang “giỡn” với tính mạng của chính mình cũng như hàng trăm người trên tàu hỏa khi ngang nhiên vi phạm hành lang an toàn đường sắt…

Họp chợ, ao cá, rác thải “vây” đường ray

Nhiều năm nay, người dân khu phố 4, phường Hiệp Bình Chánh đã quen với một ao nuôi cá rộng khoảng 60m, ăn sâu vào hàng lang đường sắt hơn 1m. Đáng nói, ao nuôi cá này nằm gọn lỏn giữa đường bộ dân sinh và đường ray xe lửa, bên ngoài là đường Kha Vạn Cân. Với người đi đường lần đầu qua khu vực này, tấm biển “cá nuôi” được cắm giữa ao khiến họ không khỏi bất ngờ.

Một người dân khu vực này cho biết chị dọn khu này hơn 4 năm đã thấy cái ao nằm “chình ình” bên cạnh đường ray xe lửa. Đến giờ vẫn chẳng thấy ai hỏi thăm gì? Thậm chí, một số người dân còn cho biết chủ ao cá vừa đánh tiếng sẽ cơi nới thêm cho ao… rộng ra để tiện việc phát triển ao cá. Chủ ao cá vừa vi phạm an toàn hành lang đường sắt, lấn chiếm đất hành lang đường bộ nhưng lại không bị “sờ gáy” suốt mấy năm qua?!

Tương tự, khu vực cầu Bình Lợi thuộc phường 13, quận Bình Thạnh, người dân vô tư kê bàn ghế nằm hẳn trong hàng lang đường sắt để… bán đồ ăn, chật kín khách. Không hiểu lúc tàu hỏa chạy qua liệu khách đang ăn có chạy tán loạn khỏi đường ray?

Không chỉ dựng bàn ghế, lều bạt để buôn bán mà người dân còn… họp chợ trên đường ray tại khu vực chùa Quang Minh (phường 10, 11, quận Phú Nhuận). Mỗi ngày có khoảng 20 lượt tàu hỏa chạy qua lại trên đường ray nên cảnh ôm sạp cá, sạp rau… chạy tán loạn là điều không tránh khỏi, một nhân viên ngành đường sắt thừa nhận.

Ghi nhận của PV VietNamNet dọc theo đường ray xe lửa trên địa bàn các quận Phú Nhuận, Gò Vấp, Bình Thạnh… người dân vứt rác tràn lan, nước thải chảy lênh láng dọc theo đường ray. Đứng từ cầu Hang Ngoài (trên đường Nguyễn Văn Nghi, quận Gò Vấp) nhìn xuống, hai dòng nước đen ngòm kèm theo rác rưởi chạy song song với tuyến đường sắt…

“Chúng tôi rào, dân lại cắt…”

Ông Phan Thế Quang, Phó Giám đốc Công ty quản lý đường sắt Sài Gòn thừa nhận các vi phạm hành lang an toàn đường sắt của người dân còn tồn tại nhiều. Việc đường ray xe lửa ngập bởi rác, nước thải về lâu dài sẽ ảnh hưởng đến nền móng, làm rỉ sét các thanh sắt trên đường ray… rất nguy hiểm đến an toàn đường sắt. Nhưng hiện tại, ngành đường sắt chỉ có thể kiểm tra, giám sát rồi lập biên bản vi phạm gởi chính quyền địa phương xử phạt vì ngành không có thẩm quyền xử phạt hành chính.

Chẳng hạn, tại các điểm giao cắt đường sắt với đường bộ khi đoàn tàu chỉ còn cách 1-2 phút, nhân viên đang kéo rào chắn xuống thì người đi đường vẫn cố tình luồn lách qua bằng được. Thậm chí một số người đi đường còn gây gổ, cự cãi rồi… đánh lại nhân viên rào chắn khi bị nhắc nhở, lãnh đạo Công ty quản lý đường sắt Sài Gòn phân trần.

Được biết Ban ATGT thành phố, ngành đường sắt và các quận huyện thường xuyên kiểm tra an toàn hàng lang đường sắt. Tuy nhiên, do ý thức của người dân chưa cao nên chuyện cắt hàng rào chắn để qua lại, chiếm dụng hành lang làm nơi buôn bán, để đồ đạc, trồng cây, trồng rau… còn phổ biến. Chưa kể, chính quyền địa phương không ít lần nhắc nhở, dẹp nạn buôn bán lấn chiếm hành lang đường sắt nhưng đâu lại vào đấy!

“Dân cứ cắt hàng rào, chúng tôi cho người dựng lại. Được vài bữa dân lại cắt… Nếu tổ dân phố, khu phố ở các địa phương làm nghiêm hơn nữa, giám sát thường xuyên may ra tình trạng này mới hết” – ông Quang nói.
Còn ao cá “hồn nhiên” giữa đường ray và đường dân sinh song hành, ngành đường sắt cho biết đây là ao cá của người dân đào từ lâu chưa thể giải tỏa. Được biết trước đây, dọc theo đường ray khu vực phường Hiệp Bình Chánh, đường Kha Vạn Cân là các ao hồ của người dân từ khoảng năm 1990. Sau này làm đường giao thông, nhiều ao được lấp nhưng chỉ ao cá này vẫn tồn tại đến nay?!.

“Các thông tin về việc chủ ao cá đang có ý định mở rộng diện tích ao, chúng tôi sẽ làm rõ và đề nghị chính quyền địa phương kiểm tra lại. Bởi người dân tuyệt đối không được mở rộng thêm diện tích lấn vào hàng lang đường sắt” – ông Quang khẳng định.

Theo các nhân viên ngành đường sắt trực tiếp quản lý hệ thống đường ray qua TP.HCM, rất nhiều lần cảnh họp chợ, buôn bán lấn chiếm… bị dẹp bỏ, chính quyền địa phương xuống giải tán, cảnh cáo nhưng đâu lại vào đấy!

_________________________________________

Posted in Chuyện đất nước | Tagged: | Leave a Comment »

Rủi ro lạm phát rất đáng lo!

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Hai 27, 2010

GS.TS Trần Ngọc Thơ

Dự báo lạm phát Việt Nam năm 2010 không đơn thuần nằm ở chính sách tiền tệ và những yếu tố khách quan.
LTS: Gần đây đang có các ý kiến nhiều chiều quanh dự báo lạm phát của năm 2010. Để rộng đường dư luận, Tuần Việt Nam xin giới thiệu góc nhìn của một số chuyên gia và các nhà hoạch định chính sách quanh vấn đề này. Sau đây là quan điểm riêng của GS. TS Trần Ngọc Thơ.

Lạm phát Việt Nam có nguồn gốc từ chiến lược tăng trưởng chạy theo số lượng bắt đầu từ những năm 2000 đến 2008. Đỉnh điểm đến vào năm 2008 với lạm phát 28%. Nói đến dự báo lạm phát năm 2010, phải đặt nó trong mối nhân quả giai đoạn 2000-2008 mới thấy hết những rủi ro khôn lường.

Rất may cho Việt Nam là những sai lầm trong chiến lược tăng trưởng méo mó và do đó dẫn đến lạm phát phi mã của thập niên đã tạm thời được che đậy bởi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Sang năm 2010, khi kinh tế toàn cầu phục hồi rõ hơn, lạm phát có “quán tính” từ thập niên trước sẽ chuyển dần sang những năm sau đó – trừ phi ta có những thay đổi mang tính bước ngoặt trong thể chế.

Nhiều chuyên gia nói rằng các biện pháp chống lạm phát thì đã có đầy trong các kho sách giáo khoa thế giới, chỉ cần có quyết tâm thì ta sẽ kiểm soát được lạm phát? E rằng nhận định này có thể không đúng ở nước ta.
Khác với hầu hết các nước, lạm phát có thể được NHTW đánh đổi bằng mục tiêu tăng trưởng. Nhưng đối với Việt Nam, ngay cả khi chính phủ cũng nhượng bộ phần nào với mục tiêu không đạt được tăng trưởng bằng mọi giá – để kiềm chế lạm phát – thì vẫn còn đó nhiều khả năng để lạm phát có thể vượt ngoài tầm kiểm soát của chính phủ.

Trước hết, nói thẳng ra là những hậu quả của các chiến lược tăng trưởng giai đoạn 2000-2008. Chính phủ phải xử lý thế nào với hàng loạt công trình dở dang ngổn ngang ở các tỉnh, thành, bộ ngành, các DNNN và tập đoàn kinh tế? Nếu không tiếp tục bơm tiền để hoàn thành, liệu có ảnh hưởng gì đến uy tín của lãnh đạo các đơn vị này khi mà mùa đánh giá và đề bạt cán bộ năm nay sẽ ở mức cao trào? Đây là hệ quả mà những thời kỳ trước cũng chính phủ hiện nay đang phải gánh chịu và tìm cách khắc phục.

Sức ép thể chế có thể sẽ đánh bại những nỗ lực của NHNN trong kiểm soát lạm phát. Anh đã lỡ hứa xây cây cầu, trạm xá… rồi, nay lại sắp tới mùa thi đua hoàn thành vượt mức và thi đua hoàn thành trước thời hạn. Thôi thì, không ngân sách bơm vốn ra thì cũng bằng cách nào đó ngân hàng thương mại nhà nước cũng hỗ trợ.

Mà đó cũng chỉ là một trong nhiều ví dụ về cái gọi là “đặc thù” riêng có của Việt Nam. Cộng tất cả những đặc thù đó lại, kiểm soát lạm phát ở Việt Nam khó hơn nhiều so với mọi người tưởng.

Đó là chưa kể những tác động mặt trái và độ trễ của gói kích cầu năm 2009 sẽ phát huy tác dụng và ngấm vào năm 2010. Rõ nhất là tỷ giá đã tăng liên tục trong nhiều tháng qua và vẫn còn có thể tăng tiếp nữa. Tôi tin chắc rằng biến số tỷ giá tăng mạnh này đã không nằm trong tính toán của các nhà hoạch định chính sách. Không khó để nhìn ra rằng đồng Việt Nam hiện vẫn còn định giá khá cao so với mức cân bằng (của tỷ giá thực) và khả năng tăng tỷ giá trong thời gian tới hầu như là điều khó tránh khỏi, bất chấp những tuyên bố “ổn định” chắc như đinh đóng cột của các nhà làm chính sách.

Xem lại bài phát biểu “Hai kịch bản tăng trưởng và lạm phát năm 2010” của Thống đốc NHNN tại hội thảo “Vai trò chính sách tiền tệ đối với nền kinh tế Việt Nam sau thời kỳ suy giảm” vào thời điểm gần cuối năm 2009, ta thấy Thống đốc có nêu ra rất nhiều các biến số tác động đến lạm phát và tăng trưởng như hệ số ICOR, tổng phương tiện thanh toán, giá dầu… nhưng tuyệt nhiên không thấy tác động của yếu tố tỷ giá đối với CPI (tỷ giá tăng làm cho giá nhập khẩu tăng và do đó kéo theo mặt bằng giá trong nước tăng lên). Nếu để ý, ta thấy vào thời điểm này, vị lãnh đạo ngành ngân hàng vẫn kiên quyết bảo vệ quan điểm không tăng mạnh tỷ giá vì e ngại tác động đến việc trả nợ nước ngoài.

Trong hai kịch bản này, thì lạm phát nằm trong khoảng thấp nhất và cao nhất là 7,5% – 10%. Nếu ta tạm thời dựa vào mô hình tính toán của một trong những cơ quan quy tụ nhiều chuyên gia hàng đầu của Việt Nam và vẫn chưa có yếu tố tác động của tăng mạnh tỷ giá thì lạm phát đã đáng lo ngại lắm rồi.
Và ắt hẳn mô hình dự báo lạm phát của NHNN đã chưa tính hết tới những phản ứng thái quá của các tập đoàn nhà nước từ hiệu ứng tăng giá xăng, giá điện… khá khó hiểu và có thể là ngoài tầm kiểm soát của những nhà làm chính sách khi dự báo về lạm phát 2010.

Nói tóm lại, dự báo lạm phát Việt Nam năm 2010 không đơn thuần nằm ở chính sách tiền tệ và những yếu tố khách quan (như giá dầu thế giới…) mà còn nằm ở (1) tàn dư của những năm tăng trưởng và kích cầu trước đây, (2) thể chế, (3) sự mất giá liên tục và không thể tránh khỏi của tỷ giá đô la/Việt Nam đồng và (4) phản ứng của các DNNN và tập đoàn kinh tế có vì lợi ích chung?

Rõ ràng với nguy cơ đang được cảnh báo, các nhà hoạch định chính sách tài chính tiền tệ Việt Nam phải tính ngay và có giải pháp đi trước một bước để giải quyết vấn đề hệ trọng này.

________________________________________________

Posted in Chuyện đất nước | Tagged: , | Leave a Comment »

Vì sao phải chia với nước ngoài?

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Hai 27, 2010

Nhà nghiên cứu Ngô Văn Trí

SGTT – Trong năm 2009, các nhà khoa học đã khám phá được 19 loài động vật mới ở Việt Nam cho khoa học thế giới. Thế nhưng tất cả các khám phá giá trị này lại đều là công trình hợp tác của Việt Nam với các nước. Vì sao chúng ta phải cần đến những sự hợp tác ấy, khi Việt Nam không thiếu các nhà nghiên cứu có tài, có tâm huyết và nhất là lợi thế ngay trên đất nước mình? Chúng tôi giới thiệu ý kiến của nhà nghiên cứu động vật Ngô Văn Trí, cán bộ viện Sinh học nhiệt đới TP.HCM luận giải cho vấn đề này.

Nhiều khám phá gây tiếng vang

Hầu hết các loài mới đã được khám phá trong năm vừa qua đều là những loài đặc hữu của Việt Nam, đại diện cho các sinh cảnh vốn rất đa dạng của nước ta như rạn san hô, suối, rừng, hang động, núi đá… Nổi bật nhất trong đó là về loài rắn có tên Nguyễn Văn Sáng – Coluberoelaps nguyenvansangi sp. nov. Orlov, Kharin, Ananjeva, Nguyen & Nguyen, 2009 do các nhà nghiên cứu động vật Nga và Việt Nam phát hiện ở khu vực rừng Lộc Bắc (Lâm Đồng).

Đây là một loài rắn không độc, có chiều dài cơ thể vào khoảng 500mm. Loài rắn mới thuộc một giống rắn mới có tên khoa học là Coluberoelaps. Do đặc điểm hình thái cơ thể của giống rắn này giống với đặc điểm hình thái cơ thể của cả hai nhóm rắn nước và nhóm rắn hổ gộp lại nên các nhà nghiên cứu động vật đã kết hợp tên giống từ tên Latinh của hai nhóm trên: rắn nước (Coluber) và rắn hổ (Elaps).

Ngoài ra, việc khám phá loài thằn lằn chân lá Aaron Bauer – Dixonius aaronbaueri Ngô & Ziegler, 2009 do các nhà nghiên cứu Việt Nam và Đức phát hiện ở vườn quốc gia Núi Chúa (Ninh Thuận) cũng gây tiếng vang lớn. Loài thằn lằn chân lá này có màu vàng cam trông rất đẹp và sở hữu một kích cỡ nhỏ nhất trong tất cả các loài thằn lằn được tìm thấy ở Việt Nam và Đông Dương với chiều dài đầu thân chỉ vào 34mm. Loài này thích nghi tuyệt vời với điều kiện những lớp lá khô trên nền rừng của rừng bán khô hạn ở vườn quốc gia Núi Chúa.
Phải chia sẻ thông tin vì nghèo?

Kết quả trên là công trình hợp tác nghiên cứu của các nhà nghiên cứu động vật đến từ nhiều quốc gia như Mỹ, Úc, Trung Quốc, Nga, Đức, Pháp và Việt Nam. Nhưng trong 14 bài báo quốc tế công bố về các loài mới thì chỉ có 4/14 bài là các nhà nghiên cứu trong nước làm chủ bút (đứng đầu bài báo), không có bài báo nào do các nhà nghiên cứu Việt Nam đứng tên độc lập.

Điều này có thể xuất phát từ thực tế kinh phí cho nghiên cứu cơ bản ở nước ta còn hạn chế. Nhiều nhà nghiên cứu còn phải tự bỏ thêm tiền túi ra để có thể mở rộng không gian nghiên cứu cho mình. Các mẫu so sánh của các loài đã mô tả trước kia hầu như được lưu giữ ở các bảo tàng nước ngoài (mà các nhà nghiên cứu Việt Nam khó có thể với tới được).

Thêm nữa, chi phí để mua các tài liệu chuyên ngành quốc tế cũng là điều không thể, đôi khi là phải đi xin, hoặc thông qua trao đổi cá nhân… Những hạn chế này đã vô tình kéo ngắn lại những thành công độc lập của các nhà nghiên cứu động vật Việt Nam trong hành trình đi tìm những giống loài mới đang tồn tại trên khắp đất nước và cũng chính là một trong những nguyên nhân cơ bản để trả lời vì sao động vật mới sinh trưởng tại Việt Nam nhưng phải mang thêm tên Tây khi công bố và là niềm tự hào của không ít nhà nghiên cứu người… Tây!

Trong 14 bài báo quốc tế công bố về các loài mới, thì chỉ có 4/14 bài là các nhà nghiên cứu trong nước làm chủ bút, không có bài báo nào do các nhà nghiên cứu Việt Nam đứng tên độc lập.

Tuy nhiên, những khám phá các loài mới trên cho thấy tài nguyên sinh vật của Việt Nam không những đa dạng về mặt chủng loài mà còn rất giàu về các loài đặc hữu. Thực ra vẫn còn một số loài mới khác xuất bản trên các tạp chí chuyên ngành quốc tế mà cho tới thời điểm hiện tại chưa thể cập nhật được do các tạp chí này xuất bản khá trễ. Việc khám phá đa dạng các loài động vật của Việt Nam vẫn còn là chủ đề nghiên cứu cơ bản đầy hấp dẫn đối với các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước. Năm 2010 là năm đa dạng sinh học của thế giới, hy vọng sẽ còn nhiều loài động vật mới được khám phá ở nước ta.

___________________________________________________

Posted in Chuyện Sinh học, Khoa học & Công nghệ | Tagged: | Leave a Comment »

Hà Nội sẽ có 5 đô thị vệ tinh

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Hai 27, 2010

Hoàng Lan

Quy hoạch chung Hà Nội từ 2020 – 2050 được xây dựng gồm 5 đô thị vệ tinh bao quanh. Trong đó, đô thị hạt nhân mở rộng về phía Tây đến vành đai IV, phía Bắc sông Hồng – Khu vực Mê Linh, Đông Anh, Gia Lâm.

Theo Đồ án Quy hoạch chung Thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050, Hà Nội sẽ là đô thị hạt nhân, là trung tâm chính trị, văn hóa, lịch sử, dịch vụ, y tế, đào tạo chất lượng cao của cả nước được mở rộng về phía Tây đến tuyến đường Vành đai IV, phía Bắc sông Hồng – Khu vực Mê Linh, Đông Anh, Gia Lâm.

Trong đó, thành phố lõi lịch sử được kiểm soát bảo tồn nghiêm ngặt các di sản di sản văn hóa Thăng Long cổ và lối sống truyền thống của người Hà Nội, dân số tối đa là 0,8 triệu người, khống chế kiểm soát mật độ và tầng cao xây dựng. Xây dựng Chuỗi đô thị nằm dọc đường vành đai IV Đan Phượng – Hoài Đức – Hà Đông – Thường Tín. Khu vực Gia Lâm, Long Biên phát triển dịch vụ chất lượng cao như thương mại, tài chính, ngân hàng, thị trường chứng khoán, đào tạo nghề, y tế chuyên sâu… Đông Anh phát triển thương mại giao dịch quốc tế. Mê Linh là khu đô thị dịch vụ và công nghiệp sạch, đa ngành, kỹ thuật cao kết nối với sân bay Nội Bài.

Hình thành 5 đô thị vệ tinh là Hòa Lạc, Sơn Tây, Xuân Mai, Phú Xuyên – Phú Minh và Sóc Sơn có dân số từ xấp xỉ từ 21 vạn đến 75 vạn người mỗi đô thị. Trong đó Hòa Lạc là đô thị khoa học, nơi tập trung trí tuệ và công nghệ tiên tiến nhất của Việt Nam, là trung tâm đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao của cả nước. Sơn Tây là hạt nhân thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội cửa ngõ Tây Bắc thủ đô Hà Nội, là đô thị văn hóa lịch sử du lịch sinh thái, phát triển tiểu thủ công nghiệp, nông nghiệp sinh thái. Xuân Mai là đô thị đại học và dịch vụ cửa ngõ phía Tây Nam Hà Nội. Phú Xuyên – Phú Minh là đô thị vệ tinh phía Nam của Thủ đô, phát triển công nghiệp, kho tàng, các dịch vụ trung chuyển, đầu mối phân phối, tiếp vận hàng hóa và Logistics (hậu cần) phân phối nông sản vùng. Sóc Sơn – đô thị cửa ngõ phía Bắc Hà Nội – là đô thị công nghiệp, dịch vụ cảng hàng không Nội Bài gắn với bảo tồn khu vực núi Sóc.

Ngoài ra, để phân tách ngưỡng phát triển của đô thị hạt nhân và các đô thị vệ tinh, sẽ có hành lang xanh dọc sông Đáy, sông Tích, sông Cà Lồ. Hành lang xanh này chiếm 68% tổng diện tích đất tự nhiên, có chức năng bảo vệ những khu vực tự nhiên quan trọng như hệ thống sông hồ, vùng núi Ba Vì, Hương Tích, Sóc Sơn. Trong khu vực hành lang xanh, xây dựng đường cảnh quan Bắc-Nam và 3 đô thị sinh thái mật độ thấp là Phúc Thọ, Quốc Oai, Chúc Sơn.

Thiết lập vành đai xanh dọc theo sông Nhuệ kết nối các không gian mở và hệ thống công viên đô thị tạo vùng đệm và là không gian cách biệt giữa đô thị lõi lịch sử với phần mở rộng mới của đô thị hạt nhân trên tuyến vành đai IV tránh việc phát triển theo vết dầu loang. Vành đai xanh dọc sông Nhuệ sẽ giảm tối đa mật độ xây dựng, tiến tới không phát triển dân cư đô thị chỉ có các công trình công cộng sinh thái cây xanh và mặt nước.

Tuyến đường trục Thăng Long được kết nối giữa Ba Vì với trung tâm Ba Đình lịch sử. Ngoài chức năng về giao thông, đây cũng là trục không gian văn hóa kết nối văn hóa Thăng Long và văn hóa Xứ Đoài. Trên tuyến trục sẽ xây dựng mới công trình văn hóa, lịch sử và giải trí của cả nước và Hà Nội. Trung tâm hành chính quốc gia dự kiến sẽ đặt tại khu vực Ba Vì – Hòa Lạc, gắn với trục Thăng Long.

Bộ Xây dựng và UBND TP Hà Nội đang chỉ đạo các đơn vị chức lấy ý kiến đóng góp của nhân dân về Đồ án Quy hoạch chung Thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050.

______________________________________________________

Posted in Chuyện đô thị | Tagged: , | Leave a Comment »

Nhìn sâu chiến lược hiện đại hóa của Ấn Độ, Trung Quốc

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Hai 27, 2010

Hầu hết các học giả Trung Quốc đều có vẻ quan tâm tới việc làm sao để “hút” được những tài sản ở nước ngoài – tại châu Á, châu Phi, và Viễn Đông – để nuôi sống các ngành công nghiệp trong nước, bao gồm hàng hóa, sản phẩm nông nghiệp, năng lượng và các nguyên liệu thô, cũng là để bảo đảm quá trình hiện đại hóa và xây dựng nền kinh tế hiện đại.

Chủ trương tự do hóa nền kinh tế của nhà lãnh đạo Đặng Tiểu Bình và của Đảng Cộng sản Trung Quốc cho tới nay ở một khía cạnh nào đó được một số nhà phân tích hiểu là nhằm thu về những tài sản từ châu Phi, Trung Á, Afghanistan, Australia, vịnh Ba Tư, và Sudan… để thúc đẩy sản xuất mạnh hơn ở trong nước, đặc biệt là trong thời kỳ suy thoái kinh tế hiện tại, cùng với các khoản viện trợ lớn.

Mặc dù những nỗ lực của Trung Quốc đã giúp vực dậy nền kinh tế của một số quốc gia, nhưng có vẻ chúng lại đang khiến những nước này trở nên phải phụ thuộc hơn vào Trung Quốc, và đôi khi còn phải đưa ra những nhượng bộ nhất định. Điều này gây ra 2 hậu quả lớn không mong muốn. Trước hết, hiện nay, đa số các nước này cung cấp hàng hóa đều gặp khó khăn và không có gì bảo đảm họ sẽ nhận được những lợi ích công nghiệp vĩnh viễn, và thứ hai, Trung Quốc nhận ra các tuyến giao thông đường biển của mình đã phát triển vượt quá khả năng hiện tại để mà nước này có thể bảo vệ và đã đầu tư mạnh hơn cho lực lượng Hải quân.
Bộ Chính trị Trung Quốc đã nâng cấp chiến lược ống dẫn dầu, dù cho chi phí có đắt đỏ, để đưa năng lượng, dầu và khí từ các mỏ ở những nước cách xa hàng nghìn km, hay ở khu vực địa lý khó khăn. Nước này tự tin sẽ bảo vệ được các ống dẫn qua đất liền này với lực lượng quân đội giải phóng nhân dân hiện có.

Việc đẩy mạnh các tàu ngầm cho Hải quân Ấn Độ năm 2009 ít “ồn ào” hơn nhưng đầy toan tính chiến lược của Thủ tướng Ấn Độ Manmohan Singh đã gây bất ngờ cho các nhà quan sát Ấn Độ của Trung Quốc hơn bao giờ hết. Điều này đã dẫn tới việc ngày càng nhiều người chỉ trích hơn về quyền bá chủ của Ấn Độ và tạo “một hàng rào thép” trên biển quanh Ấn Độ.

Hầu hết các nhà phê bình Trung Quốc đều ngụ ý rằng Ấn Độ đã theo đuổi chiến lược “xây thành lũy” tại vịnh Bengal, biển Ả-rập và bắc Ấn Độ Dương. Hơn thế nữa, việc phóng thành công các thế hệ tên lửa AGNI và dạng phóng từ trên biển của nó, K-15, có vẻ như đã tác động ít nhiều kế hoạch của Trung Quốc, bởi họ không hề lường trước được những hành động này.

Ấn Độ cũng có chiến lược nhập hàng mạnh mẽ tương tự như Trung Quốc và Hải quân Ấn Độ được giao nhiệm vụ tối cao bảo vệ các tuyến đường biển. Do vậy, các tài sản hải quân đang được xây dựng hoặc mua về nhằm đảm bảo hành lang an toàn trên tất cả các đại dương, phù hợp với luật pháp quốc tế, mặc dù tất cả các đảng chính trị lớn tại Ấn Độ đều tuyên bố rằng Ấn Độ không có tham vọng lãnh thổ.

Ấn Độ là nước có sản lượng thương mại lớn và vào tới tháng 3 này, tổng sản phẩm quốc nội có thể sẽ đạt 1,3 nghìn tỷ USD, và được dự báo sẽ tăng trưởng 6,9% mỗi năm. Để đảm bảo tăng trưởng như vậy, Ấn Độ cần phải nhập về hàng hóa như dầu, khí, than, đồng, thép, nhôm, bạc, chì, niken, thiếc, và kẽm từ các mỏ của nước ngoài.

Khi sức mua lớn dần, nhập khẩu các sản phẩm nông nghiệp như gạo, bột mì, đường, dầu ăn, hột đậu, và các sản phẩm sữa cũng sẽ tăng lên.

Trung Quốc cũng có nhu cầu tương tự, và nền kinh tế 4,9 nghìn tỷ USD đang tăng trưởng ở tốc độ hàng năm 9,5%. Sự kết hợp tăng trưởng của Ấn Độ và Trung Quốc trong thập kỷ này sẽ khiến cho thị trường hàng hóa phát triển hơn bao giờ hết, bên cạnh thời điểm nào đó trong thế kỷ này, Mỹ và Liên minh châu Âu cũng sẽ trở lại về mặt kinh tế.

Nhưng những hàng hóa đó ở đâu ra? Chúng sẽ ảnh hưởng như thế nào tăng trưởng và khát vọng dân tộc của hai nước này? Liệu từ đây có sẽ dẫn tới xung đột giữa các quốc gia? Nếu cứ theo chiều hướng như hiện tại, khả năng xảy ra chiến tranh cũng sẽ không hề nhỏ. Có lẽ đã đến lúc Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, Liên minh châu Âu và Mỹ ngồi lại với nhau và với các nước đang nằm trong chiến lược của mình để đảm bảo cuộc “khai thác” của mình đem tới cái lợi lâu dài cho tất cả các bên, chứ không nên cứ chỉ chăm chăm đạt được lợi ích của riêng mình.

Đình Ngân (Theo UPI Asia)
_________________________________________________

Posted in Chuyện chính trị | Tagged: | Leave a Comment »