NGÔN NGỮ & VĂN HÓA

CHÚC MỪNG NĂM MỚI

Archive for Tháng Năm, 2010

Tổng giám đốc “gương điển hình” nhận hối lộ 300 triệu đồng

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Năm 31, 2010

(TinnhanhVietNamNet) – Ngày 24/5, Ông Võ Nhật Duy, cá nhân điển hình tiên tiến toàn quốc bị bắt quả tang đang nhận hối lộ 300 triệu đồng.

Thông tin trên được Cục CSĐT tội phạm về quản lý kinh tế và chức vụ (Bộ Công an) xác nhận. Lực lượng này cho biết, ông Võ Nhật Duy (Giám đốc Công ty Cổ phần Cao su Sơn La) bị bắt khi đang nhận 300 triệu đồng từ phó giám đốc một công ty cổ phần ở Hà Tĩnh vào sáng 24/5.

Địa điểm bắt quả tang là một nhà nghỉ trên đường Đào Duy Anh (quận Đống Đa, Hà Nội). 300 triệu đồng trên được xác định là số tiền lót tay cho ông Duy để công ty nọ nhận được hợp đồng khai hoang, trồng mới cao su ở Sơn La.

Điều đáng nói là trước đấy chưa lâu, TGĐ Võ Nhật Duy được công nhận là điển hình tiên tiến, học tập và làm việc theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

Không chỉ có vậy, ông Duy còn được bà con các dân tộc thiểu số Sơn La xem là ân nhân, là người giúp họ xóa đói giảm nghèo, đưa hàng ngàn nông dân dân tộc thiểu số tại Sơn La trở thành công nhân lâm nghiệp.

Tuấn Cường (Tổng hợp)
________________________________________

Posted in Chuyện lạ, Chuyện pháp luật, Chuyện đất nước, Kinh tế | Tagged: , , | Leave a Comment »

Những khả năng dẫn tới chiến tranh Triều Tiên

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Năm 31, 2010

Trước kia, CHDCND Triều Tiên đã phóng một tên lửa qua lãnh thổ Nhật Bản và tiến hành một vụ thử hạt nhân. Giờ đây, họ bị cáo buộc phóng ngư lôi đánh chìm tàu chiến Hàn Quốc làm 46 thủy thủ thiệt mạng. Điều này đã dấy lên phản ứng giận dữ của nhiều nước.

Mỹ và các nước láng giềng của CHDCND Triều Tiên – gồm Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và Nga – nhắc nhở lẫn nhau rằng họ chẳng được lợi gì từ một cuộc đối đầu dai dẳng, chứ chưa nói đến một cuộc chiến tranh. Từng bước một, các lệnh cấm vận được áp đặt. Các cuộc hội đàm được tiến hành. Về phần mình, Triều Tiên ngay lập tức bóng gió rằng nước này có thể bị lôi kéo vào việc từ bỏ chương trình hạt nhân.

Rốt cục, vòng tuần hoàn lại bắt đầu.

Nhà Trắng đánh cược rằng, cuộc khủng hoảng mới nhất trên bán đảo Triều Tiên, bắt nguồn từ vụ chìm tàu hồi tháng 3, cũng sẽ tiêu tan chứ không leo thang. Nhưng nguy cơ lớn, như luôn thế, là những gì xảy ra nếu Triều Tiên đi sai một nước cờ quan trọng.

Trong quá khứ đã không có sự leo thang hành động sau cuộc đột kích năm 1968 vào dinh Tổng thống Hàn Quốc, hoặc khi Triều Tiên bắt giữ tàu do thám Pueblo của Mỹ vài ngày sau đó, hoặc vào năm 1983, khi đa số trong Nội các Hàn Quốc thiệt mạng trong một vụ đánh bom ở Rangoon, Myanmar, hoặc vào năm 1987, một máy bay của Hàn Quốc bị các điệp vụ Triều Tiên cho nổ tung, giết chết 115 người.

Vậy lần này có gì khác. Dưới đây là 5 tình huống có thể dẫn đến chiến tranh.

Một vụ việc trên biển

Kể từ khi cuộc chiến Triều Tiên kết thúc nhờ một thỏa thuận ngưng bắn, hai miền bán đảo thường xuyên tranh chấp – đôi khi xảy ra đụng độ – về vị trí chính xác của “Giới tuyến Bắc” – lằn ranh phân chia hải phận hai nước.

Vào tháng 3 vừa qua, tàu tuần tra Cheonan của hải quân Hàn Quốc bị chìm. Lần đầu tiên trong danh sách các mối quan ngại của chính quyền Obama có một vụ việc trên biển mà có thể biến thành một trận chiến hỏa lực kéo dài. Bất cứ một sự ràng buộc chặt chẽ nào cũng có thể lôi kéo Mỹ vào cuộc vì nước này là một đồng minh lớn của Hàn Quốc, chịu trách nhiệm chỉ huy nếu nổ ra một cuộc xung đột lớn.

Cho đến trước khi cuộc điều tra của nhóm chuyên gia 5 nước kết luận rằng tàu Cheonan bị trúng ngư lôi, Hàn Quốc và các đồng minh của nước này vẫn không nghĩ hạm đội tàu ngầm mini của Triều Tiên đủ sức đánh chìm một tàu chiến được trang bị “tận răng” của Hàn Quốc.

Nã pháo vào Vùng Phi quân sự (DMZ)

Các máy bay chiến đấu của Hàn Quốc và Mỹ hàng ngày vẫn tập luyện phản ứng trong trường hợp đội quân 1,2 triệu binh sĩ Triều Tiên đổ vào DMZ như kiểu những năm 1950. Nhưng chỉ vài người thực sự nghĩ điều đó xảy ra.

Trong một biện pháp trả đũa hồi tuần trước, Hàn Quốc mở lại các chương trình tuyên truyền qua loa phóng thanh tại DMZ. Những năm qua, các chương trình như vậy chỉ binh lính Hàn quốc nghe được và giờ đây vùng đất “không người ở” này lại chỉ toàn động vật hoang dã.

Tuy nhiên, biện pháp này đủ mạnh để khiến cho ban lãnh đạo Triều Tiên dọa bắn vỡ hệ thống loa phóng thanh Hàn Quốc. Điều đó có thể dẫn tới các cuộc đọ súng “ăn miếng trả miếng” và dẫn tới một sự đe dọa bắn vào Seoul từ phía Triều Tiên – khoảng cách mà đạn cối dễ dàng đáp tới. Nếu điều đó xảy ra, hàng nghìn người có thể chết và các nhà đầu tư của nền kinh tế Hàn Quốc chắc chắn sẽ hoảng loạn.

Các quan chức Mỹ tin rằng người Hàn sẽ nghĩ lại về chiến thuật dùng loa phóng thanh tuyên truyền.

Một cuộc đấu tranh quyền lực hoặc đảo chính

Khi hỏi các nhà phân tích tình báo Mỹ rằng điều gì có thể làm cho tình hình leo thang hoặc dẫn tới một cuộc khủng hoảng tương lai, họ nêu cái tên Kim Jong-un, con trai út 27 tuổi của lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-il, người đã được chọn kế nhiệm cha mình.

Theo một số thông tin, nhiều người ở tầng lớp thượng lưu Triều Tiên xem Kim Jong-un là chưa qua thử thách và không xứng đáng. “Chúng ta sẽ chứng kiến những dấu hiệu căng thẳng bên trong hệ thống Triều Tiên”, một quan chức Mỹ nói.

Một khả năng khác là cuộc chiến nội bộ liên quan đến người kế nhiệm ông Kim Jong-il có thể sẽ khiến cho bạo lực lan rộng ở Triều Tiên, lôi kéo các cường quốc bên ngoài vào can thiệp để ngăn chặn đổ máu.

Sụp đổ nội bộ

Chiến lược lâu dài nhất của Mỹ về Triều Tiên rút cục lại không phải là một chiến lược; đó là một lời cầu nguyện cho nước này sụp đổ. Harry Truman, Dwight Eisenhower và John F. Kennedy đều hy vọng điều đó. Dick Cheney cũng cố gắng đẩy nhanh theo hướng này.

Nhưng chính quyền Bình Nhưỡng vẫn trụ vững qua tất cả.

Vậy liệu Triều Tiên có đổ vỡ khi xảy ra một cuộc đấu tranh quyền lực? Rất có thể.

Một sự khiêu khích về hạt nhân

Với căng thẳng tăng cao, các vệ tinh do thám của Mỹ đang tìm kiếm bằng chứng Triều Tiên sắp thử một vũ hí hạt nhân nữa – như khi họ làm năm 2006 và 2009 – hoặc là phóng thử thêm các tên lửa tầm xa.

Trong quá khứ, những cuộc thử nghiệm như vậy đã gây căng thẳng. Nhưng đó không phải là nỗi lo lớn nhất của chính quyền Obama vì Triều Tiên được cho là chỉ có đủ nhiên liệu cho từ 8 đến 12 quả bom.

Đáng lo hơn nhiều là một quyết định xuất khẩu công nghệ hạt nhân của Bình Nhưỡng và người Mỹ không biết được.

Nhiều năm qua, các cơ quan tình báo Mỹ đã bỏ lỡ bằng chứng Triều Tiên đang xây dựng một lò phản ứng ở hoang mạc Syria, gần biên giới Iraq. Người Israel phát hiện ra cơ sở này và xóa sổ nó trong một vụ oanh kích năm 2007. Giờ đây, cuộc điều tra đang được tiến hành để tìm xem có nước nào đang sử dụng công nghệ của Triều Tiên, thậm chí tệ hơn là nhiên liệu bom của Triều Tiên.

Tóm lại, nỗi lo lớn nhất là Triều Tiên có thể quyết định rằng dạy người khác cách chế tạo vũ khí nhân là cách nhanh nhất để thách thức một vị Tổng thống Mỹ từng tuyên bố ngăn chặn phổ biến vũ khí hạt nhân là nhiệm vụ số 1 của ông.

Chưa biết hiện giờ ngành tình báo Mỹ đã thu thập được những tín hiệu mà họ bỏ lỡ ở Syria hay chưa. Nếu rồi, một cuộc khủng hoảng có thể không chỉ giới hạn ở bán đảo Triều Tiên, nó có thể lan tới Trung Đông hoặc bất kỳ nơi nào mà Triều Tiên tìm được khách hàng.

Thanh Hảo (Theo NY Times)
____________________________________________

Posted in Chuyện an ninh, Quốc phòng các nước | Tagged: , , | Leave a Comment »

Bong bóng bất động sản Trung Quốc có thể sắp vỡ

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Năm 31, 2010

Đang có những dấu hiệu cho thấy, thị trường bất động sản (BĐS) Trung Quốc đã rơi vào tình trạng bong bóng thực sự và có thể nổ bất cứ lúc nào.

Theo hãng tin Bloomberg, sự lo ngại về tình trạng bong bóng BĐS tại Trung Quốc đã lên mức cao. Giới đầu tư đang thực sự lo ngại về thị trường này trong bối cảnh trái phiếu USD được phát hành bởi các doanh nghiệp BĐS Trung Quốc tụt hạng thảm hại.

Trái phiếu USD của các doanh nghiệp BĐS Trung Quốc đã rớt xuống vị trí thấp nhất trong số các khoản vay của các doanh nghiệp khu vực phi tài chính tại châu Á.

Cụ thể, lãi suất cho các lô trái phiếu trị giá 3,9 tỷ USD được phát hành bởi Group Holdings Ltd., Country Garden Holdings Co. và 7 doanh nghiệp bất động sản Trung Quốc khác tính từ đầu năm tới nay đã tăng trung bình 2,26 điểm phần trăm so với trái phiếu chính phủ Mỹ cuối tuần vừa rồi.

So với trái phiếu niêm yết bằng 7 đồng dollar của các doanh nghiệp trong khu vực châu Á (ngoại trừ Nhật), thì lãi suất của trái phiếu doanh nghiệp BĐS Trung Quốc cao hơn tới 2,05 điểm phần trăm.

Điều này có nghĩa là, các nhà đầu tư đang yêu cầu lãi suất cao hơn đối với các doanh nghiệp BĐS Trung Quốc. Đây là một tín hiệu cho thấy các doanh nghiệp này sẽ ngày càng gặp nhiều khó khăn hơn, đặc biệt trong bối cảnh chính phủ Trung Quốc đang hạn chế cho vay đối với lĩnh vực này.

Hai tập đoàn tài chính hàng đầu thế giới là Goldman Sachs Group Inc. và Credit Suisse Group AG cũng dã cắt giảm dự báo lợi nhuận của các doanh nghiệp BĐS Trung Quốc sau khi giá BĐS tại nước này trong tháng 4 tăng 12,8% so với cùng kỳ năm trước, bất chấp những quy định thắt chặt của chính phủ.

“Các nhà đầu tư cần lãi suất cao hơn đối với trái phiếu doanh nghiệp trong một lĩnh vực đang có các chỉ số cơ bản ngày càng thấp đi”, Vince Chan, chiến lược gia trưởng chi nhánh Hong Kong về mảng tín dụng của Công ty tư vấn và môi giới Amias Berman & Co. LLP nói.

Theo Bloomberg, tổng giá trị trái phiếu phát hành bằng đồng USD của các doanh nghiệp BĐS Trung Quốc chiếm tới 45% tổng nợ trái phiếu doanh nghiệp trong năm nay tại châu Á (trừ Nhật).

Được biết, hiện tại, các doanh nghiệp BĐS Trung Quốc trả lãi suất cho trái phiếu bằng đồng USD lên tới 14%/năm, so với mức trung bình 9,2% của các doanh nghiệp khác tại châu Á, và 6,2% của các doanh nghiệp BĐS Mỹ. Tính trung bình các doanh nghiệp BĐS Trung Quốc đang trả lãi trung bình 10,875%.

Mạnh Hà (Theo Bloomberg)
_____________________________________________________

Posted in Kinh tế | Tagged: , , | Leave a Comment »

Siêu dự án mà thất bại là có tội với nhân dân

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Năm 31, 2010

– Nên chọn thời điểm xây dựng tuyến đường sắt cao tốc sao cho hợp lý. Với cách làm hiện nay chi phí dự án là quá đắt và các nhà khoa học trong nước có thể góp sức để làm giảm chi phí này. Chưa có bất cứ tiền lệ nào trên thế giới ghi nhận về một nước nghèo như Việt Nam mà lại đầu tư vào một dự án như thế này.

Thiết kế đường sắt cao tốc không phải là quá khó

Tôi xin được hỏi thẳng, theo anh Việt Nam có nên xây dựng đường sắt cao tốc hay không?

Quan điểm cá nhân tôi là nên xây. Nhưng thời điểm nào thì nên đánh giá lại. Có vẻ họ đã đưa ra con số dự báo về lưu lượng hành khách, nhu cầu vận tải hơi quá lạc quan. Việc đánh giá sơ bộ thời gian hoàn vốn, giá trị thực tại ròng của dự án cho thấy dự án rất khó xây dựng trong niên hạn gần.

Theo anh những con nào số mà dự án đưa ra là chưa xác thực?

Theo tôi thì con số hơn 55 tỷ USD mà dự án này đưa ra là chưa đủ cơ sở. Đó là con số mà phía nhà thầu Nhật đưa ra. Mình cần những đánh giá độc lập khác nhau. Không nên bị ảnh hưởng bởi quan điểm của các chuyên gia Nhật.
Ví dụ như chỉ ở khâu tư vấn thiết kế, trong đề án ghi là chi 4 tỷ USD. Nhưng nếu để các nhà khoa học trong nước làm, thực hiện định mức chi phí tư vấn riêng, cùng với sự trợ giúp của các chuyên gia nước ngoài thì chỉ cần 500 triệu USD là ổn.

Nhưng vấn đề ở đây là chất lượng. Có thể 4 tỷ USD kia đắt nhưng lại xắt ra miếng khi họ so sánh chất lượng giữa chuyên gia trong nước và chuyên gia ngoài nước?

Đúng là cũng có những sự chênh lệch nhất định. Nhưng vấn đề đó mình khắc phục được. Thiết kế đường sắt cao tốc không phải là quá khó.
Về phần đường, nhiều chi tiết trên đường các cán bộ khoa học kỹ thuật trong nước có thể nghiên cứu sản xuất được. Cầu cạn xưa nay mình đã làm rất tốt. Ngành hầm mình xây dựng ít hơn, nhưng trong quá trình xây dựng, các chuyên gia Việt Nam cũng làm rất tốt. Tôi biết có những sự cố, các chuyên gia Việt Nam xử lý được khi chuyên gia nước ngoài bó tay.

Rẻ hơn một nửa nếu…

Nếu giao nhiệm vụ làm được sắt cao tốc cho các nhà khoa học trong nước, liệu giá thành có rẻ hơn?

Tôi nghĩ là sẽ rẻ hơn khoảng một nửa so với con số nhà thầu đưa ra hiện nay. Chi phí quản lý dự án, tư vấn, xây dựng cơ sở hạ tầng, có thể giảm rất đáng kể. Các thiết bị, thông tin tín hiệu, điện, đầu máy toa xe có thể gia tăng tỉ lệ nội địa hóa, có chính sách đặc biệt trong giải phóng mặt bằng, bố trí cán bộ… Hơn nữa, nếu tổ chức tốt quá trình xây dựng, chi phí còn rẻ hơn nữa.

Được biết, nhiều nước có tiềm lực kinh tế, chất xám, nhân lực rất mạnh nhưng họ cũng chưa xây dựng đường sắt cao tốc. Vậy chúng ta “có gì” trong tay để quyết định đầu tư vào dự án cả trăm tỷ đô này?

Đức, Pháp, Nhật có đường sắt cao tốc nhưng họ sử dụng công nghệ của họ nên chi phí không quá cao. Trung Quốc có chính sách nhập khẩu công nghệ hợp lý nên có thể hạ giá thành xây dựng. Dự án xây dựng đường sắt cao tốc ở Việt Nam, kinh phí ban đầu là 56 tỷ USD và phát sinh có thể lên đến hơn 100 tỷ USD khiến nhiều người hãi hùng. Đó là vì chúng ta phải nhập khẩu hoàn toàn. Chúng ta không có gì cả ngoài tiền… đi vay.

Nếu Việt Nam muốn xây dựng tuyến đường sắt này thành công với giá rẻ thì cần huy động các nhà khoa học trong nước. Chất xám chúng ta bỏ ra càng nhiều thì chi phí càng giảm đi. Vì bản thân các nhà khoa học Việt Nam có nhiều người tâm huyết, được Nhà nước trả lương để nghiên cứu, kể cả khi được trả lương không cao so với thế giới, nhưng mặt bằng chung nền kinh tế ở Việt Nam là như thế.

Anh nghĩ rằng các nhà khoa học của chúng ta hiện nay có thể làm chủ được bao nhiêu phần trăm trong dự án này?

Nếu được đầu tư tốt cho các nhà khoa học, tôi tin rằng phần hạ tầng có thể đảm nhận 100%. Có thể gia tăng tỉ lệ nội địa hóa phần thiết bị và phương tiện. Phát huy tối đa nguồn lực của đất nước thì sẽ giải quyết được rất nhiều nhiệm vụ đặt ra.

20 năm nữa mới hợp lý

Theo anh, thời điểm để Việt Nam xây dựng đường sắt cao tốc vào lúc nào là hợp lý?

Tôi cho rằng phải bắt đầu chuẩn bị từ giờ để 20 năm nữa Việt Nam bắt đầu tiến hành xây dựng ĐSCT. Chỉ cần thực hiện đầy đủ các bước thiết kế, lấy ý kiến phản biện của các chuyên gia cũng phải mất từ 5 – 10 năm. Hơn nữa, khi đó tổng thu nhập đầu người không dưới 5.000USD/năm thì tiến hành xây dựng là hợp lý.

Thời điểm đó mình có thể làm chủ hoàn toàn không?

Chắc chắn là sẽ làm chủ tốt hơn rất nhiều. Mà nói thẳng là nếu 20 năm nữa mình muốn xây thì ngay từ bây giờ, mình đã phải bắt đầu những công việc cụ thể rồi.

Nếu ngay tại thời điểm này mình có thể tự thiết kế đường sắt cao tốc không?

Có. Nếu mời thêm cố vấn là các chuyên gia nước ngoài chắc chắn sẽ làm được.

Địa hình Việt Nam có gây trở ngại gì trong việc xây dựng đường sắt cao tốc?

Địa hình Việt Nam dễ xây dựng hơn của Nhật rất nhiều. Không có động đất. Chỉ có đoạn miền Trung địa hình tương đối khó, ở hai đầu thì không có vấn đề gì.

Siêu dự án mà thất bại là có tội với nhân dân

Tôi nghe nói tiền đầu tư trong các dự án ODA thì nước đầu tư sẽ lấy lại khoảng 2/3?

Đúng.

Nghĩa là nếu mình tự làm, dùng nguồn tiền trong nước đầu tư sẽ chỉ mất 1/3 so với số tiền mà đơn vị nhà thầu đưa ra trong dự án?

Nói dân dã một chút thì đúng vậy. Nó chính là vấn đề tiền lưu thông ở đâu. Nếu một nước nào đó đầu tư cho Việt Nam thì có đến 70 – 80% nguồn tiền lưu thông trong nội bộ nước họ. Các khâu từ tư vấn, thiết kế giám sát, thẩm tra, các nhà thầu xây lắp chính… đều của người ta. Do vậy mà 70 – 80% tiền chạy trong nội bộ nước người ta chứ không chuyển sang Việt Nam. Về bản chất, dòng tiền đưa vào Việt Nam chỉ chiếm khoảng 20 – 30% tổng chi phí dự án.

Vậy có thể nói mình nghèo thì đành phải chịu! Hay mình đang chơi ngông, tiêu hoang?

Nói thế cũng không đúng. Có thể ở mức độ thấp thì mình không hiểu hết được ý tưởng của các nhà lãnh đạo. Vì người ta có trực giác riêng. Nếu trực giác đúng thì kéo đất nước đi lên rất nhanh. Ngược lại thì…

Anh thấy dự án này có quá sức với Việt Nam không? Đã có tiền lệ nào trên thế giới xây dựng đường sắt cao tốc trong điều kiện kinh tế như ở Việt Nam không?

Tất cả những nước có đường sắt cao tốc khi họ bắt tay xây dựng đều có mức thu nhập cao hơn hẳn nước mình.

Theo anh, tỷ lệ thành công và thất bại của dự án là như thế nào?

Mình không có quyền nói đến thất bại. Siêu dự án mà thất bại là có tội với nhân dân. Các nhà khoa học, quản lý thực hiện các dự án chỉ được phép thành công. Xây dựng đường sắt cao tốc chắc chắn phải làm nhưng phải cân nhắc về thời điểm xây dựng.

Vâng. Xin cảm ơn anh về buổi trò chuyện thẳng thắn này. Tôi cũng như anh rất mong các nhà khoa học trong nước được góp sức mình vào sự phát triển chung của đất nước.

Bộ môn Đường sắt của trường Đại học Giao thông vận tải Hà Nội là nơi duy nhất trong cả nước đào tạo về chuyên ngành xây dựng đường sắt. Dự án xây dựng tuyến đường sắt cao tốc là chủ đề đang rất được các giảng viên trong bộ môn quan tâm.

Nguyên Tô (thực hiện)
________________________________________________

Posted in Chuyện đất nước, Khoa học & Công nghệ, Kinh tế | Tagged: , , , | Leave a Comment »

Ba trạm nghỉ 40 tỷ đồng: Thành chùa Bà Đanh

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Năm 31, 2010

Trần Võ

TP – Hơn 40 tỷ đồng đầu tư xây dựng thí điểm ba trạm nghỉ, nhưng đến nay các trạm nghỉ này đang trong cảnh “vắng như chùa Bà Đanh” do các xe khách không mặn mà ghé thăm.

Khách thờ ơ

Trong khi các trạm nghỉ, nhà hàng tư nhân hoạt động khá sôi động trên các tuyến quốc lộ thì các trạm nghỉ do Nhà nước đầu tư 40 tỷ đồng (trong đó Nhật Bản viện trợ không hoàn lại 250.000 USD/trạm) lại vắng lạ thường.

Đầu năm 2009, ba trạm nghỉ đường bộ chính thức được đưa vào sử dụng là trạm nghỉ Mường Khến (Hòa Bình), Ninh Bình (thị xã Ninh Bình) và Song Khê (Bắc Giang) với mục tiêu bảo đảm an toàn giao thông, hạn chế tình trạng cơm tù, cơm nhốt gây bức xúc dư luận thời gian qua. Theo tính toán, mỗi trạm nghỉ như vậy có thể cùng lúc đáp ứng nhu cầu nghỉ ngơi, ăn uống của hàng trăm hành khách.

Tuy nhiên, những trạm nghỉ đường bộ này lại không thu hút được xe khách và hành khách. Ông Lại Thanh Sơn – Giám đốc Sở GTVT Bắc Giang cho biết: Trạm Song Khê được xây tại Km120 thuộc QL1A qua Bắc Giang được UBND tỉnh giao cho Cty Bắc Hà khai thác. Đây là trạm nghỉ được đầu tư khoảng 20 tỷ đồng xây dựng. Ngoài chức năng cung cấp miễn phí các dịch vụ nghỉ ngơi, thư giãn, vệ sinh cho lái xe, hành khách, trạm nghỉ còn cung cấp các dịch vụ về du lịch, giao thông và đặc sản địa phương.

Tuy nhiên, theo ông Sơn, những ngày đầu đưa vào khai thác, xe khách gần như thờ ơ với trạm nghỉ này. Sau một thời gian tuyên truyền, vận động, đến nay trạm nghỉ đạt khoảng 40 xe/ngày với khoảng 250 khách vào trạm, doanh thu 12 triệu đồng/ngày.

Chiều 25-5, có mặt tại trạm nghỉ Song Khê, chúng tôi thấy một không khí vắng vẻ. Trong bãi xe khá rộng trước khuôn viên của trạm nghỉ chỉ có hai chiếc xe con của khách đỗ trước cửa để khách vào nhà hàng ăn uống, giải trí. Trong gian trưng bày sản phẩm và dịch vụ, chúng tôi cũng chứng kiến sự vắng vẻ đến lạ thường. Có lẽ khách ghé vào đây chỉ để ăn uống và giải trí tại nhà hàng của Cty Bắc Hà nằm ngay cạnh và tiện cho việc làm bãi đỗ xe của nhà hàng dù đó không phải là mục đích để xây dựng các trạm nghỉ đường bộ.
Trạm nghỉ Ninh Bình tại Km267 QL 1A gần như bất động. Xây được trạm nghỉ này, Nhà nước tốn 13,5 tỷ đồng. Trạm được giao cho Xí nghiệp Bến xe khách Ninh Bình quản lý. Đáng lẽ nằm tại một vị trí có lưu lượng phương tiện qua lại lớn như vậy, trạm nghỉ này phải thu hút được nhiều xe khách. Tuy nhiên, theo báo cáo của trạm, lưu lượng bình quân chỉ đạt khoảng 20 xe với khoảng 300 khách/ngày đêm, trạm đạt doanh thu khoảng 5 triệu đồng/tháng. Thực tế mỗi tháng hoạt động, trạm này phải bù lỗ nhiều triệu đồng.

Èo uột hơn là tại trạm dừng nghỉ Mường Khến (Hòa Bình) tại km101 trên QL6. Trạm này tốn gần 10 tỷ đồng tiền đầu tư, được đưa vào khai thác cách đây 1 năm nhưng đến nay mỗi ngày cũng chỉ có hơn 10 xe ghé thăm, khiến việc duy trì hoạt động và tổ chức công việc cho 13 cán bộ, nhân viên tại trạm nghỉ gặp nhiều khó khăn…

Đơn điệu

Nhiều ý kiến cho rằng, sở dĩ xe khách không mặn mà với trạm nghỉ xây bằng tiền thuế của dân vì vị trí xây dựng các trạm nghỉ thí điểm hiện nay không thật sự phù hợp với lộ trình, thời gian chạy xe của khách đường dài. Hà Nội đóng vai trò trung tâm, đầu mối cho hầu hết các tuyến vận tải khách đường dài. Song khoảng cách giữa các trạm nghỉ chỉ 50 – 100km là quá gần để hành khách, lái phụ xe dừng chân nghỉ ngơi, ăn uống. Đây là lý do khiến hệ thống trạm nghỉ đường bộ đến nay “vắng như chùa Bà Đanh”.

Thực tế này đối lập với hoạt động tại các nhà hàng, trạm nghỉ tư nhân đang rất được lòng hành khách và lái xe. Một trong những lý do khiến lái xe thích đưa khách vào các nhà hàng, trạm nghỉ tư nhân là vào đó họ được ưu đãi về ăn uống, nghỉ ngơi.

Ông Nguyễn Văn Quyền – Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Đường bộ Việt Nam cũng cho rằng các trạm nghỉ đường bộ do Nhà nước đầu tư xây dựng chưa thu hút được khách là do thiết kế chưa phù hợp, hàng hóa và các dịch vụ tại đây còn đơn điệu.

Tuy nhiên, cũng theo ông Quyền, Luật Giao thông đường bộ mới đã quy định trên các tuyến quốc lộ phải có trạm nghỉ đường bộ theo quy hoạch. Vì vậy, sắp tới sẽ có thông tư hướng dẫn cụ thể về hoạt động này.

_____________________________________________

Posted in Chuyện đất nước, Kinh tế | Tagged: , , | Leave a Comment »

Khởi tố, bắt tạm giam người nổ súng

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Năm 30, 2010

Hoàng Lam

TP – Chiều 28-5, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy, Sở Thông tin – Truyền thông, Công an tỉnh Thanh Hóa họp báo, thông báo kết quả điều tra ban đầu về vụ “Ba người bị bắn tại Khu kinh tế Nghi Sơn (huyện Tĩnh Gia)” diễn ra ngày 25-5.

Vụ việc được cơ quan điều tra bước đầu xác định như sau: Sáng 25-5-2010, có khoảng 200 người dân xã Tĩnh Hải, huyện Tĩnh Gia đến khu đất mặt bằng Khu kinh tế Nghi Sơn để cản trở không cho thi công công trình Nhà máy Hóa lọc dầu Nghi Sơn.

Theo báo cáo của Nguyễn Mạnh Thư, chiến sĩ công an huyện Tĩnh Gia, khoảng 10h đến 10h30 phút, thấy tình hình phức tạp, Thư đã dùng súng ngắn bắn một phát chỉ thiên để cảnh cáo, với ý thức ngăn chặn các hành vi quá khích. Liền theo đó, có người xông vào giằng co với Thư, định cướp súng, dẫn đến có phát súng nổ thứ hai.

Phát súng oan nghiệt này làm cháu Lê Xuân Dũng (12 tuổi) tử vong, anh Lê Hữu Nam (43 tuổi) bị thương vào đầu đang được điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thanh Hóa, chị Lê Thị Thanh (37 tuổi) bị thương ở bàn tay.
Sự việc xảy ra đã kích động những kẻ quá khích, khiến hai đồng chí công an bị thương, một xe ô tô của cảnh sát cơ động, một xe mô tô cao tốc của cảnh sát giao thông bị hư hỏng. Ngoài ra, nhà riêng của ông Lê Trọng Hồng, Chủ tịch UBND xã Tĩnh Hải bị đập phá tài sản.

Trên cơ sở kết quả điều tra, ngày 27-5, cơ quan CSĐT Công an tỉnh Thanh Hóa đã khởi tố vụ án hình sự để điều tra làm rõ hành vi vi phạm pháp luật gây chết người, và các hành vi vi phạm pháp luật khác như hủy hoại tài sản, gây rối trật tự công cộng.

Bước đầu, cơ quan CSĐT Công an tỉnh Thanh Hóa đã khởi tố bị can và bắt tạm giam bốn tháng đối với Nguyễn Mạnh Thư, về hành vi “làm chết người trong khi thi hành công vụ” theo Điều 97 BLHS. Đồng thời, cơ quan này cũng đang khẩn trương điều tra làm rõ các hành vi gây rối trật tự công cộng, chống người thi hành công vụ, hủy hoại tài sản Nhà nước, tài sản công dân để xử lý nghiêm theo pháp luật.

_____________________________________________________________________

Posted in Chuyện pháp luật, Chuyện xã hội, Chuyện đất nước, Kinh tế | Tagged: , , | Leave a Comment »

Cổ Loa- kinh đô bi tráng

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Năm 30, 2010

HÀ LẬP NHÂN

Lần đầu tiên người Việt phát hiện ra những điều sâu kín nhất trong chính tâm hồn mình. Đó là tích truyện An Dương Vương quay lại chém chết con gái Mỵ Châu yêu quí của Người sau khi kinh đô Cổ Loa thất thủ. Vì vậy cho dù bản thân An Dương Vương không phải là một nhà tư tưởng, nhưng tích truyện về ông thì lại có một tầm tư tưởng thật sâu sắc.

Có lẽ không một người Việt Nam nào khi đọc câu truyện trên lại không tin vào “sự kiện” đó. Vì vậy việc đặt câu hỏi: Có thật như vậy không? sẽ trở nên thừa. Bởi vì vấn đề ở đây không phải là đi tìm để chứng minh hay bác bỏ một sự kiện lịch sử. Và nếu trong thực tế đã có một sự kiện lịch sử như vậy được chứng minh, thì có lẽ ý nghĩa của tích truyện sẽ bị thu hẹp đi nhiều, bởi lẽ trong trường hợp này, huyền thoại sâu sắc hơn và rộng lớn hơn một sự kiện. Một sự kiện lịch sử chỉ liên quan tới số phận của một con người cụ thể, dù đó là con người ở trên đỉnh cao của danh vọng, quyền lực, và đại diện cho cả một quốc gia như cha con An Dương Vương. Còn trong câu chuyện này, cái chết của Mỵ Châu đã trở thành ý chí của nhân dân – một nhân dân không bao giờ chịu khuất phục. Vì vậy, sự tồn tại ngắn ngủi của quốc gia Âu Lạc của Thục Phán, hay nói cách khác, thất bại đầu tiên của người Việt cần phải được lý giải. Và chính việc cố gắng lý giải ấy đã trở thành động thái người Việt nhìn lại bản thân mình.

Dù cho đó là cách nhìn muộn mằn của thời Lý, thời Trần, thời Lê hay có thể sớm hơn, ngay từ thời Bắc thuộc – và nhiều khả năng là như vậy – thì vẫn là Cổ Loa, chứ không phải bất cứ một kinh đô nào khác đã được lịch sử lựa chọn để làm công việc đó, bởi vì cái kinh đô bi tráng ấy đã có một số phận thật đặc biệt. Lần đầu tiên trong lịch sử hình thành nhà nước Việt cổ, kinh đô Cổ Loa đã trở thành giao điểm của mọi mối quan hệ mà kịch tính đã được đẩy lên tới đỉnh điểm. Cổ Loa đã trở thành biểu tượng của sự xung đột giữa Tình yêu và Quyền lực, giữa Mất và Còn, giữa Tình cảm và Lý trí, giữa Cha và Con, giữa Vợ và chồng, giữa Bạn và Thù, giữa Hợp và Tan, giữa Sáng và Tối, giữa Phút giây và Muôn thuở, giữa Thủy chung và Phản bội. Những mâu thuẫn ấy dường như không có bất cứ một lời giải nào ngoài cái chết, đổ vỡ, và mất mát. Nhưng với cái chết của Mỵ Châu, mọi mâu thuẫn đã được hóa giải. Những xung đột đã trở thành cái ầm ào trên bề mặt đại dương, còn lòng biển sâu hùng vĩ vẫn lặng như tờ. Với tích truyện Mỵ Châu, người Việt đã tìm thấy cái bản thể vĩ đại ẩn sâu sau mỗi sự kiện, cho dù tầm vóc của sự kiện có to lớn đến đâu.

Lâu nay, không ít sử gia đã từng đặt câu hỏi: Nếu không có sự xâm lược của Phương Bắc thì quốc gia Âu Lạc đã phát triển theo đường hướng nào? Lịch sử thiên về việc giải thích các sự kiện bằng các qui luật, nên nó không nhìn nhận quá khứ theo cách giả định như vậy. Tuy nhiên có một thực tế là việc người Việt chuyển kinh đô từ Phong Châu xuống đất Cổ Loa là một bước tiến mang tính lịch sử lớn lao. Kinh đô Phong Châu dẫu là một thánh địa của người Việt cổ trong buổi đầu dựng nước, nhưng khi biển rút đi, một đồng bằng phì nhiêu trải rộng đến tận chân trời đang chờ được khai phá. Nếu trước đây Phong Châu là đầu mối giao thông thuận lợi, đặc biệt với các vùng sản xuất đồ đồng phát triển như quốc gia Điền thì đến thời An Dương Vương đồng không còn đóng vai trò quyết định nữa. Đồ sắt ra đời đã trở thành một ưu thế tuyệt đối so với đồ đồng. Trung tâm sản xuất sắt lúc này là vùng đất Trung Nguyên của đế quốc Tần Hán. Con đường vận chuyển, buôn bán sắt giờ đây là tuyến đường ven biển. Công cụ sắt ra đời thúc đẩy nông nghiệp phát triển vượt bậc. Cùng với nó là việc cải thiện các loại giống, kỹ thuật canh tác, tăng các vật nuôi, làm cho giá trị thặng dư nông nghiệp trở thành đầu bảng. Lúc đầu, vùng Lĩnh Nam và Âu Lạc đều nhập khẩu những thứ đó từ Trung Nguyên thông qua tuyến đường biển. Vì vậy so với Cổ Loa nằm giữa đồng bằng sông Hồng, Phong Châu đã trở thành nơi hẻo lánh. Những biến động chính trị tại khu vực này trở nên dồn dập hơn. Các bộ tộc tự trị cũng cảm thấy cần liên hợp lại với nhau để trở thành nhà nước. Những thiết chế bộ lạc không còn thích hợp cho một tình thế nóng bỏng nữa, mà nó cần phải được thay thế bằng một hình thức nhà nước có tổ chức cao hơn. Chính vì vậy, câu chuyện tranh giành ngôi báu giữa Hùng Vương và An Dương Vương, dù có xô sát, có đổ máu, nhưng vẫn được huyền thoại kể đến như một cuộc nhường ngôi nội bộ để chuẩn bị cho một cuộc đối đầu quyết liệt với ngoại nhân. Đó chính là cuộc đấu tranh một mất một còn giữa An Dương Vương và Triệu Đà, dù rằng cuộc hôn nhân Mỵ Châu- Trọng Thủy đã tưởng chừng gắn bó hai thế lực chính trị- nhà nước ấy lại với nhau để chống một kẻ thù chung còn to lớn hơn.

Như mọi người đều biết, trong các xã hội bộ lạc, hôn nhân là một hình thức trao đổi, mặc cả, và trên hết là một cam kết hình thành các liên minh quyền lực. Nhưng với trường hợp Triệu Đà và Thục Phán, giữa Mỵ Châu và Trọng Thủy thì lại hoàn toàn khác. Ngay từ đầu, cuộc hôn nhân giữa đôi trai tài gái sắc đã là một âm mưu đánh cắp bí mật quân sự của đối phương, để loại trừ và thôn tính đối phương. Một bên quá mạnh và quá tin tưởng vào sức mạnh nỏ thần của mình nên đã thất bại, đó chính là An Dương Vương, biểu tượng của quyền lực trong sự đối đầu với một quyền lực khác là Triệu Đà. Đây là típ quan hệ đơn giản Còn- Mất. Nhưng cặp quan hệ Mỵ Châu- Trọng Thủy thì lại không hề đơn giản như vậy. Trong mối quan hệ này, Trọng Thủy mạnh vì một âm mưu đã được thực hiện quá trọn vẹn, dễ dàng. Mỵ Châu yếu vì đã quá dễ dàng để bị lừa dối. Nhưng kết cục Trọng Thủy vẫn phải bỏ lại tất cả để đi theo nàng, bằng cách gieo mình xuống giếng mà chết. Một kết cục thật có hậu, bởi vì My Châu chỉ trở thành ngọc trai quí sáng khi ngọc ấy được rửa bằng nước giếng Cổ Loa, nơi Trọng Thủy đã ký thác số phận mình. Cái chết ấy có phải là một trả giá cho lỗi lầm? Hay chỉ có như vậy thì tình yêu mới được bù đắp và trở nên trọn vẹn? Giếng Ngọc Cổ Loa đã trở thành biểu tượng của một mối hận tình, nó đã muôn đời gột rửa nỗi oan khuất cho nàng Mỵ Châu.

Nhưng còn Thục Phán, một ông Vua sai lầm và một người cha sai lầm, ai sẽ gánh chịu tội lỗi cho ông? Với ông mọi sự không còn chỉ là huyền thoại nữa. Sử cũ ghi rằng: Khi nhà Tần đổ, Triệu Đà đã giết hết các trưởng lại do nhà Tần đặt ra rồi đưa thân thích lên thay, mưu lập nước riêng. Đà dùng kế đưa Trọng Thuỷ vào làm con tin tại triều đình Cổ Loa để phá lẫy nỏ thần của An Dương Vương, rồi tiến đánh nhà vua. Vua không biết lẫy nỏ đã mất, vẫn ngồi đánh cờ mà cười bảo rằng: “Đà không sợ nỏ thần của ta sao?” Khi Đà phá thành, vua đem nỏ ra bắn, nhưng không công hiệu. Rồi vua thua, đưa Mỵ Châu ngồi trên mình ngựa chạy về phía nam. Khi cùng đường, Thần Kim Qui nổi lên nói “Kẻ ngồi sau ngựa là giặc đấy, sao không giết đi?”. Vua rút gươm chém Mỵ Châu, cầm sừng tê bước xuống biển rẽ nước mà đi.

Tích truyện vua chém Mỵ Châu có lẽ không gây ấn tượng cho người nghe bằng câu hỏi của nhà vua: “Đà không sợ nỏ thần của ta sao?”. Câu hỏi ấy có một dư vị thật đặc biệt. Nó không hẳn là một lời tự đắc, không hẳn là một lời đe dọa, cũng không hẳn là một tin tưởng thái quá vào sức mạnh kỹ thuật của mình, cũng không hẳn là một sự ngờ vực nào đó. Nó có tất cả những cái đó. Nhưng nhà vua chỉ thiếu cái bản lĩnh mà Đà có thừa. Vì vậy cho dù cuộc chiến giữa An Dương Vương và Triệu Đà giống như một cuộc tranh giành quyền lực giữa hai bộ lạc ngang sức, ngang tài, thì Triệu Đà vẫn là một cái gì đó nằm ngoài tầm hiểu biết của tư duy Việt. Ông ta không chỉ đại diện cho một sức mạnh quân sự, mà còn đại diện cho một cái gì khác thế, một thế lực hắc ám mà lần đầu tiên người Việt vấp phải. Đó chính là cái hắc ám của những mưu đồ khao khát thống trị lâu dài của một nền văn minh này với một nền văn minh khác, của một dân tộc này với một dân tộc khác.

Nếu đằng sau Triệu Đà là cả một bề dày 2000 nghìn năm người Trung Hoa hợp tung, liên hoành, tách nhập, chinh phạt, âm mưu, giết chóc, biến tất cả thành phương tiện để đạt được quyền lực, và người ta đã tìm được hầu hết các chủ thuyết chính trị thích ứng với bất cứ tình huống nào của lịch sử, thì đằng sau An Dương Vương là một bầu trời huyền thoại, đầy chất bao dung, mơ mộng. Trong nước, người ta tôn trọng người hiền tài, với người ngoài đối xử như khách quí. Các cuộc va chạm bộ lạc dường như nặng chất nghĩa hiệp. Người ta phục tài nhau mà đi theo nhau. Và đôi khi cái tài đó cũng mơ hồ như một thứ gì xa lạ vậy. Cuộc đụng đầu giữa An Dương Vương và Triệu Đà là một cú va đập giữa hai vũ trụ quá chừng khác biệt bỗng rơi vào giao điểm của hai quĩ đạo đang tìm đường vận động, trong đó riêng An Dương Vương không hề được chuẩn bị.

Cái bi kịch của nhà nước Âu Lạc là nó quá mới mẻ. Về phương diện nhà nước, chắc chắn An Dương Vương chưa tìm được cho mình một ý thức hệ nhất quán hay một chủ thuyết để làm chỗ dựa tinh thần. Di sản kinh nghiệm của các Vua Hùng trong trường hợp này không còn hữu dụng nữa., vì một tổ chức xã hội kiểu gia đình mở rộng thời bộ lạc không còn là một qui mô thích hợp trước một nhiệm vụ lịch sử nặng nề gấp bội. Giờ đây trên vai ông là cả một sứ mệnh. Ông đã gánh quốc gia từ huyền thoại đi thẳng vào lịch sử. Anh sáng êm dịu của quá khứ dường như đã cho An Dương Vương một lối nhìn khác vào hiện thực. Ông nhìn nó trong màu sắc huyền thoại. Vì vậy ông mới vừa đánh cờ vừa hỏi: “Đà không sợ nỏ thần của ta sao?”. Câu hỏi của ông có vẻ thừa, vì Đà đã thực sự sợ nỏ thần của ông. Chính vì biết sợ mà Đà đã vô hiệu hóa được nỏ thần của An Dương Vương. Trong cuộc đấu giữa ông và Đà, ông đã thua vì kẻ thù của ông đã biết dùng trí một cách hữu hiệu. Tích truyện về An Dương Vương là một kinh nghiệm tổ chức nhà nước, mà trong đó không đơn giản chỉ là vấn đề quân sự. Triệu Đà đã được rèn luyện để có thể tổ chức được một nhà nước hoàn chỉnh, còn An Dương Vương thì vẫn đang đi tìm một hình thức nhà nước thích hợp trong một hoàn cảnh lịch sử đã trở nên nóng bỏng.

Tính bi tráng của tích truyện là ở chỗ cả An Dương Vương, Mỵ Châu lẫn Trọng Thủy đều rất chân thành. Mỗi người chân thành theo cách của mình. Mỵ Châu vì chân thành tin yêu chồng nên đã lầm lỗi. Trọng Thủy vì chân thành với sự nghiệp của cha mà lừa dối vợ. An Dương Vương chân thành với vương vị và cương thổ mà giết oan ái nữ. Kinh đô Cổ Loa trong bối cảnh ấy không khác gì một sân khấu với các nhân vật, các sự kiện đều ở điểm nút. Tích truyện đã xây dựng thành công một nàng Mỵ Châu tột cùng trong trắng, bởi cuộc đời nàng đã bị đặt vào một mê cung quyền lực không có lối ra. Trong bối cảnh ấy, cuộc đời nàng đã thăng hoa trở thành thuần túy tinh thần, trở về với cõi mênh mang vô định của bản thể. Vì vậy một vị vua phàm trần như Thục Phán không còn cách thức nào khác để thăm dò cái bản thể tinh thần ấy bằng cách chia tách, xé lẻ. Nói bằng một ngôn ngữ khác thì đó chính là phương pháp phân tích. Nhát gươm của Thục Phán giết con chính là nhát cắt vào một nguyên biểu tượng để quan sát nó và nhận thức nó.

Vậy là một thời đại vụt qua như một tia chớp. Nó là ranh giới giữa bán khai và văn minh. Nó chẳng khác nào một trạng thái liễu ngộ chân lý để thoát ra khỏi đêm thẳm vô minh tiền sử. Kinh đô Cổ Loa chính là tia chớp của ý thức Việt. Nó rạch đôi bầu trời tình cảm và lý trí, hệt như lưỡi gươm đã cắt ngang cuộc đời trong trắng của nàng Mỵ Châu để dòng máu của nàng mãi mãi sinh sôi thành trai ngọc. Cổ Loa trở thành Kinh đô Bi tráng vì lần đầu tiên người Việt nếm trải thất bại trong tuổi trưởng thành.

H.L.N
_____________________________________________________________

Posted in Chuyện lịch sử, Chuyện đất nước, Di tích, Hà Nội nghìn năm | Tagged: , , | Leave a Comment »

Các siêu dự án và nguy cơ nợ nần

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Năm 30, 2010

Nguyễn Quang A

TP – Một người, một doanh nghiệp thiếu vốn mà vay được tiền để làm ăn là một điều không dễ, song rất nên làm nếu công chuyện làm ăn có hiệu quả. Nếu các dự án có hiệu quả, tức là sau khi hoàn thành và trừ mọi chi phí vẫn còn lời, thì vay được càng nhiều để thực hiện các dự án như vậy càng tốt.

Tỷ lệ của tổng số tiền vay để làm một dự án trên số tiền riêng của chủ sở hữu dùng cho dự án đó được gọi là tỷ lệ đòn bẩy tài chính. Tỷ lệ đòn bẩy càng cao thì tỷ lệ lời (hay lỗ) trên vốn của chủ sở hữu càng lớn. Nếu dự án hiệu quả, thì vay được càng nhiều càng tốt. Nếu dự án không hiệu quả (lỗ) thì chủ sở hữu có thể sạt nghiệp rất nhanh chóng hay chủ nợ có thể mất tiền vì người vay phá sản và không có gì để trả.
Nợ công thực sự ở Việt Nam là bao nhiêu? Có nhiều số liệu không nhất quán… Hãy nhớ lại kinh nghiệm của chính mình và bài học của những người khác.
Rắc rối là ở chữ “nếu”. Chúng ta chỉ biết hiệu quả của dự án sau khi dự án đã hoàn thành. Trước đó tất cả chỉ là dự đoán. Mà dự đoán rất hay bị sai. Có các dự án có hiệu quả, có các dự án không. Đấy là chuyện bình thường, là chuyện hằng ngày mà chúng ta phải đối mặt và quản lý rủi ro là câu chuyện hàng đầu của những người kinh doanh.
Đối với một nước cũng vậy. Vay được tiền để xây dựng đất nước là việc rất tốt. Song luôn phải tính đến khả năng thực của mình (kể cả khả năng quản lý, khả năng tiêu tiền) và, quan trọng nhất, là phải tiêu tiền vay một cách hiệu quả. Nếu không, sẽ đẩy đất nước vào cảnh nợ nần. Tỷ lệ nợ công trên GDP là một chỉ số tổng hợp có ý nghĩa nào đó gần giống tỷ lệ đòn bẩy tài chính. Tỷ lệ ấy càng cao, rủi ro càng lớn. Công nợ trên 40% GDP được coi là không an toàn.

Nợ công thực sự là bao nhiêu?

Nhưng nợ công thực sự ở Việt Nam là bao nhiêu? Có nhiều số liệu không nhất quán.
Theo Bộ Tài chính, ở thời điểm 30-6-2009, nợ nước ngoài của Việt Nam bằng 29,8 % GDP (23,6 tỷ USD). Báo cáo của Chính phủ trước Quốc hội ngày 20-5-2010 nói “Dư nợ Chính phủ và dư nợ quốc gia nằm trong giới hạn an toàn” nhưng không thấy nêu con số.
Người ta nói tổng số dư nợ công đến cuối năm 2009 của Việt Nam khoảng 44,7% GDP, trong đó nợ của Chính phủ là 35,4% GDP, nợ được Chính phủ bảo lãnh là 7,9% GDP và nợ của chính quyền địa phương là 1,4% GDP.
Theo The World Factbook (tạm dịch: Sách Sự kiện Thế giới) của một tổ chức chính phủ ở Mỹ, nợ công ở Việt Nam năm 2008 ở mức 38,60% GDP nhưng năm 2009 đã tăng rất nhanh, lên mức 52,30% GDP, đứng hàng thứ 44/129 quốc gia về nợ nần. (Vẫn theo phân loại trong cuốn sách này, mức nợ công thấp nhất là 1,1% và mức cao nhất là 304,3% GDP; có 44 quốc gia có nợ công trên 50% GDP).
Nếu thực hiện đầu tư các siêu dự án như hệ thống cảng biển 5 tỷ USD, điện hạt nhân hơn 10 tỷ USD, sân bay Long Thành 12 tỷ USD, 18 tuyến đường cao tốc 48 tỷ USD, đường sắt cao tốc 56 tỷ USD, dự án xây dựng Thủ đô 60 tỷ USD v.v…, không biết nợ công của Việt Nam sẽ ở mức nào?
Mỹ là nước mang tiếng nợ nần nhiều nhất nhưng nợ công chỉ chiếm 39,70% GDP. Trong các nước thuộc Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), chỉ Philippines có nợ công cao hơn Việt Nam. Tại châu Âu, Hy Lạp đã thực sự vỡ nợ và phải cầu cứu đến gói cứu trợ 120 tỷ euro của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và các nước thuộc Vùng Euro (Euro Zone). Cuối năm 2009, nước này có mức nợ công chiếm 108,10% GDP.
Điều đáng chú ý là nợ công của chúng ta tăng rất nhanh, trong khi hiệu quả chi tiêu, hiệu quả đầu tư không cao, nạn tham nhũng tràn lan và nạn khát đầu tư của các cơ quan nhà nước vẫn không hề dịu đi.
Minh chứng là các siêu dự án được đưa ra tới tấp như dự án đường sắt cao tốc gần 56 tỷ USD của Bộ Giao thông Vận tải đang được Quốc hội Khóa XII, Kỳ họp thứ 7, xem xét, và dự án quy hoạch chung Hà Nội của Bộ Xây dựng, chỉ tính đầu tư cho xây dựng hạ tầng kỹ thuật đến năm 2030, khoảng 60 tỷ USD…
Một số quan chức vẫn lạc quan, thậm chí có người còn cho rằng “nếu nợ công cao hơn nữa, vẫn đảm bảo trong giới hạn an toàn cho phép”. Nhưng số liệu cụ thể thì không nêu, giới hạn an toàn cũng chẳng công bố. Thậm chí có người còn nói người ta nợ cả 80%-100% GDP có sao đâu (!?).
Nếu coi 40% GDP là giới hạn an toàn thì dường như chúng ta đã vượt quá rồi. Đó là chưa kể đến các khoản sẽ phải vay nếu các siêu dự án được tiến hành.
Hãy nhớ lại kinh nghiệm của chính mình và bài học của những người khác.
Từ 1993 đến 2003 chính Chính phủ Việt Nam đã phải rất vất vả để cơ cấu lại nợ nước ngoài. Đó là việc xử lý với IMF (1993); xử lý nợ chính thức qua Câu lạc bộ Paris (1993); xử lý nợ thương mại qua Câu lạc bộ Luân Đôn (1998); xử lý nợ với các nước chủ nợ song phương khác. Tổng cộng giảm được trên 11 tỷ USD nghĩa vụ nợ nước ngoài.
Hãy ngó tình hình bất ổn của Hy Lạp không biết bao nhiêu năm nữa mới thoát được ra.
Sẽ chẳng ai xóa nợ cho con cháu chúng ta; và con cháu chúng ta cũng chẳng cần phải làm vậy nếu chúng ta, thế hệ hiện tại hành động có trách nhiệm hơn.

________________________________________________

Posted in Chuyện đất nước, Kinh tế | Tagged: , , , | Leave a Comment »

Đầu vào ngành sư phạm thấp: Nỗi lo chất lượng người thầy

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Năm 30, 2010

Hà Ánh

Những năm gần đây, số thí sinh đăng ký dự thi (ĐKDT) vào các trường, ngành sư phạm ngày càng thấp. Đầu vào thấp, dự báo ảnh hưởng tới chất lượng đội ngũ giáo viên tương lai.

Mất dần sức hút

Thạc sĩ Tạ Quang Lâm – Phó trưởng phòng Đào tạo trường ĐH Sư phạm (SP) TP.HCM cho biết: “Hồ sơ (HS) ĐKDT nộp vào các ngành SP ngày càng giảm rõ rệt. Năm 2000, có 42.300 HS đăng ký vào trường. Sau đó, HS giảm dần đến năm 2009 còn 24.500 và năm nay là 12.856”. Trong đó, có những ngành số HS ĐKDT nộp vào không đủ chỉ tiêu đề ra, như: SP song ngữ Nga – Anh: 1/0,57 (30 CT/17 HS), SP Tiếng Pháp: 1/0,87 (30 CT/26 HS)…

Riêng ngành SP Giáo dục tiểu học có số lượng thí sinh ĐKDT khá cao. Năm 2010, tỷ lệ “chọi” các ngành này ở trường ĐH Sài Gòn là 1/53,86 (90 CT/4.847 HS); ĐH SP TP.HCM là 1/20,68 (120 CT/2.482 HS)… Tuy nhiên, mức điểm chuẩn ngành này những năm qua không cao. Thạc sĩ Tạ Quang Lâm cho rằng, sở dĩ thí sinh dự thi vào ngành này đông một phần do nhu cầu giáo viên ngành này còn nhiều. Tuy nhiên, điểm chuẩn không cao có thể thấy thí sinh thi vào ngành này chủ yếu có học lực trung bình, khá chứ ít người giỏi.

Tại ĐH Cần Thơ, số HS ĐKDT vào các ngành SP cũng giảm dần. Chẳng hạn năm 2008 có 13.513 HS, năm 2009 là 10.281 và 2010 là 8.646. Trường ĐH An Giang cũng tương tự, năm 2005 có 4.881 HS ĐKDT vào 10 ngành SP, đến năm 2010 chỉ còn 1.914 HS vào 17 ngành.
HS nộp vào ít, tỷ lệ “chọi” thấp nên điểm chuẩn cũng không cao. Từ năm 2009 trường ĐH SP TP.HCM phải lấy điểm trúng tuyển một số ngành rất thấp (chỉ cao hơn điểm sàn từ 1-2 điểm), như: SP Tin học 15,5 điểm, SP Địa lý (khối A) 15 điểm. Ngoài ra, trường phải xét tuyển thêm 755 chỉ tiêu NV2 cho nhiều ngành. Điểm chuẩn một số ngành SP của ĐH Cần Thơ cũng chỉ ở mức điểm sàn như SP Vật lý, SP Vật lý – Công nghệ, SP Anh văn, SP Tiếng Pháp: 13 điểm; SP Lý – Tin, SP Giáo dục tiểu học: 13,5 điểm; SP Sinh học, SP Sinh – Kỹ thuật nông nghiệp là 14 điểm…
Là một trường lớn đào tạo giáo viên kỹ thuật nhưng các ngành có tên “SP” của trường ĐH SP kỹ thuật TP.HCM cũng không thực sự hấp dẫn thí sinh. Tiến sĩ Nguyễn Tiến Dũng – Trưởng phòng Đào tạo nhà trường cho biết, năm 2009 có những ngành chỉ có vài HS như SP Kỹ thuật công nghiệp, SP Điện công nghiệp. Điểm chuẩn trúng tuyển năm 2009 của các ngành này chỉ cao hơn điểm sàn 1 điểm và phải tuyển thêm NV2.

Khó kiếm việc làm

Thạc sĩ Lâm quan ngại: “Với tình trạng này, chắc chắn các ngành SP sẽ không thu hút được thí sinh khá, giỏi. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến các thế hệ sau bởi ngành SP đào tạo ra người thầy mà muốn có trò giỏi thì trước hết người thầy phải giỏi”. Nói về nguyên nhân của hiện tượng trên, thạc sĩ Lâm cho rằng: “Dù ngành SP ưu đãi cho người học bằng cách miễn học phí nhưng mối quan ngại của người học hiện nay là chế độ chính sách đầu ra. Sinh viên ra trường rất khó tìm việc, và khi đã tìm được việc thì đồng lương nghề giáo lại không đủ sống. Thêm nữa, việc điều động giáo viên mới tốt nghiệp tại các địa phương còn nhiều bất hợp lý”.
Tiến sĩ Dũng nói thêm, chính môi trường làm việc trong lĩnh vực giáo dục ít mang tính thúc đẩy như ngoài doanh nghiệp, thiếu thốn nhiều thứ cũng góp phần kém thu hút thí sinh. Do vậy, chỉ cần nghe thấy 2 chữ “SP” trong tên ngành đã khiến thí sinh không muốn thi vào.

_________________________________________________

Posted in Chuyện giáo dục, Chuyện đất nước, Giáo dục Việt Nam | Tagged: , , , | Leave a Comment »

‘Siết’ chặt nguy cơ lũng đoạn ngân hàng

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Năm 30, 2010

Cao Nhật

Dự thảo Luật các tổ chức tín dụng (sửa đổi) đặc biệt lưu tâm ngăn chặn sự lũng đoạn của nhóm cá nhân, tổ chức gây rủi ro cho an toàn của hệ thống ngân hàng.

Không để bị thao túng bởi nhóm cá nhân

Trình bày báo cáo tiếp thu, chỉnh lý dự án Luật các tổ chức tín dụng (sửa đổi) chiều nay (22/5), Chủ nhiệm UB Kinh tế Hà Văn Hiền cho biết điểm đáng chú ý trong Luật sửa đổi lần này là có thêm các quy định nhằm đảm bảo sự chặt chẽ, thận trọng trong hoạt động ngân hàng.

“Những sửa đổi này sẽ giúp ngăn chặn sự lũng đoạn của nhóm cá nhân, tổ chức thao túng hoạt động của tổ chức tín dụng, gây rủi ro cho an toàn của hệ thống ngân hàng”, Chủ nhiệm UB Kinh tế cho biết.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội cũng khẳng định trong hoạt động của các tổ chức tín dụng, vấn đề an toàn hệ thống phải được đặt lên hàng đầu.
Cụ thể, dự thảo Luật quy định tổ chức tín dụng không được cấp tín dụng cho người quản lý, người điều hành, hoặc pháp nhân là cổ đông có người đại diện phần vốn góp là thành viên hội đồng quản trị, ban kiểm soát.
Mục đích chủ yếu của các quy định này là hạn chế các hoạt động cấp tín dụng trong nội bộ một tổ chức tín dụng.
Thêm vào đó còn có các quy định về hạn chế tỷ lệ góp vốn. Cụ thể, dự thảo quy định một cổ đông là cá nhân không được sở hữu vượt quá 5% và một cổ đông là tổ chức không được sở hữu vượt quá 15% vốn điều lệ của một tổ chức tín dụng.
Trong khi đó, cổ đông và những người có liên quan của cổ đông đó không được sở hữu vượt quá 20% vốn điều lệ của một tổ chức tín dụng.
Đây là những điểm mới nhằm hạn chế khả năng lũng đoạn của các tổ chức có thể kiểm soát được hoạt động của các ngân hàng thương mại thông qua việc nắm giữ số lượng lớn cổ phần tại ngân hàng.
Thường vụ Quốc hội đề nghị Chính phủ khi ban hành văn bản hướng dẫn thi hành Luật có các quy định cụ thể về việc kê khai nguồn gốc tiền của các cá nhân, tổ chức góp vốn thành lập tổ chức tín dụng.

Cho phép mua cổ phiếu của tổ chức tín dụng khác

Thường vụ Quốc hội cũng cho biết vẫn còn nhiều ý kiến tranh luận liên quan đến việc cấm ngân hàng thương mại mua, nắm giữ cổ phiếu của tổ chức tín dụng khác.
Cụ thể, một số ý kiến tán thành với quy định của dự thảo Luật, theo đó không cho phép các ngân hàng thương mại trong nước được phép mua, nắm giữ cổ phiếu của các tổ chức tín dụng khác.
Lý do được đưa ra là việc sở hữu vốn đan chéo lẫn nhau trong khu vực ngân hàng làm tăng nguy cơ rủi ro hệ thống trong hoạt động của các ngân hàng thương mại.
Trong khi đó, nhiều ý kiến lại đề nghị không quy định cấm ngân hàng thương mại, công ty con của ngân hàng thương mại mua, nắm giữ cổ phiếu của các tổ chức tín dụng khác.
Tuy nhiên, kết luận của Thường vụ Quốc hội khẳng định, hiện nay, một số ngân hàng nhỏ rất cần thu hút kinh nghiệm quản lý, điều hành và công nghệ của các ngân hàng lớn bằng việc bán cổ phần cho các ngân hàng lớn.
Hơn nữa, hệ thống các tổ chức tín dụng của nước ta còn đang trong giai đoạn đầu của sự phát triển nên cần thiết có mua bán cổ phiếu giữa các tổ chức tín dụng làm tiền đề cho việc sáp nhập nhằm nâng cao năng lực tài chính của các tổ chức tín dụng, lành mạnh hóa hệ thống.
Mặt khác, theo ông Hà Văn Hiền, việc cấm ngân hàng thương mại Việt Nam nắm giữ cổ phần của các tổ chức tín dụng khác sẽ gây ra bất bình đẳng giữa ngân hàng thương mại trong nước với các ngân hàng nước ngoài.
Do vậy, Thường vụ Quốc hội đề nghị quy định cho phép các ngân hàng thương mại, công ty con của ngân hàng thương mại được phép mua, nắm giữ cổ phiếu của các tổ chức tín dụng khác nhưng phải tuân thủ các điều kiện chặt chẽ do Ngân hàng Nhà nước quy định.
Đồng tình với ý kiến trên của Thường vụ Quốc hội nhưng đại biểu Phạm Thị Loan (Hà Nội) cho rằng “Luật cần quy định rõ ràng luôn tỷ lệ nắm giữ cổ phiếu chứ không nên giao Ngân hàng Nhà nước quy định để tránh những sự “tùy tiện” về sau”.
Nguyên thống đốc Ngân hàng Nhà nước Cao Sỹ Kiêm thì đề nghị “ngay từ bây giờ phải chuẩn bị các văn bản hướng dẫn để đến thời điểm Luật có hiệu lực (1/1/2011) sẽ sớm được thực thi”.
Luật các tổ chức tín dụng (sửa đổi) sẽ được Quốc hội biểu quyết thông qua ngày 16/6 tới.

__________________________________________________________

Posted in Chuyện pháp luật, Chuyện đất nước, Kinh tế | Tagged: , , | Leave a Comment »