NGÔN NGỮ & VĂN HÓA

CHÚC MỪNG NĂM MỚI

Archive for Tháng Sáu, 2010

Việt Nam sẽ cung cấp nguồn nhân lực cấp cao cho Singapore

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Sáu 30, 2010

(HNMO) – Nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại Việt Nam, mới đây, Chính phủ Singapore đã lựa chọn một số trường đại học tại Việt Nam và chỉ định Công ty RPT (Recruit, Place & Train Pte 195 Pearl’s Hill Terrace #01-13 Singapore 168976) thực hiện việc liên kết, ký kết với các trường đại học như Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Kinh tế Quốc dân, Đại học Phương Đông, Đại học Huế… để đưa sinh viên Việt Nam sang thực tập tại Singapore.

Đó là nguồn đầu tư gián tiếp từ Chính phủ Singapore cho việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam.

Theo ông Patrick Hogan, Tổng Giám đốc của RPT, mặc dù được thành lập 6 năm có trụ sở đặt tại Singapore nhưng ban lãnh đạo cấp cao của công ty đã hoạt động trong lĩnh vực cung cấp nguồn nhân lực và tài chính ngân hàng trên 20 năm nay tại khắp các nơi trên thế giới. Mục tiêu hàng đầu của RPT là cung cấp các dịch vụ tuyển dụng với chất lượng hàng đầu cho các công ty đặt tại Singapore. Một trong các dịch vụ của họ là tìm kiếm các sinh viên ngoại quốc phù hợp và sắp xếp các chương trình thực tập sinh cũng như các chương trình đào tạo sau đại học ở các công ty Singapore có chương trình đào tạo tập chung đặc biệt vào chuyên ngành Du lịch, Khách sạn và Dịch vụ, Kinh doanh Quốc tế và Truyền thông Đại chúng.

Một số nhà giáo và các chuyên gia kinh tế nhận xét, thực trạng đào tạo của hầu hết các trường đại học, trung học… Việt Nam hiện nay đang trong tình trạng thiếu thực hành và chủ yếu sinh viên chỉ được đào tạo về lý thuyết. Thực tế, sau khi tốt nghiệp đại học, sinh viên Việt Nam gặp khó khăn để thích nghi với môi trường làm việc cũng như phải học thêm một bằng thứ hai hoặc công ty phải đào tạo lại, họ mới có thể làm được việc. Bên cạnh đó, những ngành mà sinh viên được đào tạo trong trường, gần như không áp dụng được khi đi làm, nhất là làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Ngoài ra, trình độ ngoại ngữ, nhất là tiếng Anh yếu kém, đang là trở ngại lớn của sinh viên và nguồn nhân lực Việt Nam hiện nay.

Eric Trotter, Giám đốc phụ trách khu vực Đông Nam Á cho biết, hiện nay RPT đang tuyển dụng các sinh viên từ Malaysia, Trung Quốc, Philippines và mở rộng, tạo thêm cơ hội cho các sinh viên đến từ Việt Nam. Thông thường, sinh viên Việt Nam đi thực tập trong các doanh nghiệp tại Việt Nam sẽ không được nhận bất cứ một khoản trợ cấp nào từ phía doanh nghiệp. Riêng với sinh viên đã được nhà trường và RPT phỏng vấn, lựa chọn đủ tiêu chuẩn để gửi sang Singapore thực tập 6-12 tháng, họ sẽ được hưởng trợ cấp từ $450-650/tháng. Ngoài ra, làm thêm giờ, họ sẽ được tính theo chính sách quy định của nhà tuyển dụng.

Khi được biết, sinh viên được chọn tham gia chương trình này còn được hưởng nhiều quyền lợi khác như: Vé máy bay hai chiều, đến nơi làm việc và trở về Việt Nam sau khi hoàn thành khóa đào tạo; được công ty giúp đỡ tìm chỗ ăn ở và được tạo điều kiện ở cùng nhau để tiết kiệm chi phí…; được miễn phí một suất ăn trong giờ làm việc, được trang bị đồng phục và giặt khô trong suốt thời gian đào tạo, tùy vào nơi đăng ký; được hỗ trợ đi lại tới chỗ ở nếu ca làm việc kết thúc vào nửa đểm hoặc sau nửa đêm… Ban lãnh đạo các trường đại học đều rất ủng hộ chương trình này.

Do nắm bắt được cơ hội nâng cao trình độ tiếng Anh, nghiệp vụ từ thực tế của một môi trường làm việc chuyên nghiệp, nên trong buổi gặp mặt mới đây giữa Lãnh đạo RPT với sinh viên các trường Đại học Kinh tế Quốc dân (NEU), Đại học Phương Đông, Đại học Kinh doanh công nghệ Hà Nội (HUBT), các sinh viên đều hỏi rằng: “Làm thế nào để tôi có thể được sang Singapore thực tập?” Họ biết rằng, ngoài cơ hội được đào tạo chuyên nghiệp, khi hoàn thành chương trình đào tạo, nhà tuyển dụng sẽ cấp cho họ một Chứng chỉ quốc tế tham gia khóa đào tạo.

Được cung cấp một phương pháp tiết kiệm để xây dựng và phát triển lực lượng lao động, được biết, trong số các đối tác của RPT hiện nay là Tập đoàn Khách sạn Ritz-Carlton, Khách sạn quốc tế Rafflles, Khách sạn Hoàng Gia Park Royal, Tập đoàn Nhà Hàng Imperial Treasure và rất nhiều đối tác khác. Hầu hết thực tập viên đều là sinh viên quốc tế đang theo học tại trường tư thục tại Singapore như trường Cao đẳng quốc tế Shelton, Học viện Quản Lý Đông Á (EASB) và Viện Dimensions Singapore. Ngoài ra, RPT đang phối hợp với hai trường đại học của Malaysia là trường Cao đẳng Taylor và trường Nilai để sắp xếp việc làm cho sinh viên tại Singapore.

Tuy nhiên, bên cạnh việc được hưởng các quyền lợi lớn từ chương trình thêm cả việc cá nhân như: kiểm tra sức khỏe, chụp x quang, bồi thường lao động và bảo hiểm y tế mà tổ chức MOM yêu cầu… sinh viên buộc phải đạt trình độ tiếng Anh tương đương IELTS 5.0 và bất kỳ phàn nàn nào về kết quả làm việc, hoặc liên quan tới hành vi của học viên sẽ được ghi chép lại và phản ánh về RPT ngay lập tức.

Ngoài ra, họ còn có nghĩa vụ tuân thủ các chính sách, luật lệ và qui định của luật pháp địa phương và của nhà tuyển dụng. Họ phải hoàn thành các công việc mà Trưởng ban hay người quản lý giao cho. Trong quá trình thực tập, họ phải nộp báo cáo thường kỳ cho RPT và trường đại học về diễn biến của khóa học. Báo cáo phải được Trưởng Ban hay người quản lý chấp thuận và ký trước khi nộp cho RPT. Điều rất quan trọng là cấm hút thuốc và uống rượu bia trong giờ làm việc hay trước khi bắt đầu làm việc. Được Chính phủ Singapore lựa chọn, mới đây Trường đại học Phương Đông đã chính thức ký kết biên bản ghi nhớ (MOU) với RPT và xúc tiến những hoạt động tích cực để tiến tới đưa sinh viên sang thực tập tại Singapore.

Hy vọng rằng, được làm việc, đào tạo trong một môi trường chuyên nghiệp tại Singapore sẽ mở ra một tương lai phát triển hơn nữa cho ngành du lịch, dịch vụ tại Việt Nam.

H.A

___________________________________________________

Posted in Chuyện đất nước, Giáo dục Việt Nam, Tin tức nổi bật | Tagged: , , | 1 Comment »

Khi Trung Quốc “nói vậy mà không làm vậy”

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Sáu 30, 2010

An Thái

Nỗ lực trấn an về một chiến lược phát triển hòa bình, không đe dọa an ninh nước nào của giới lãnh đạo Trung Quốc cũng không làm an lòng phần còn lại của thế giới, khi những hành động thực tế lại chứng minh điều ngược lại.

Dựng hình tượng

Nhiều năm qua, sự trỗi dậy Trung Quốc đi liền với mối lo ngại về mối đe dọa Trung Quốc trong cộng đồng quốc tế. Cho rằng thế giới đang hiểu nhầm mình, Trung Quốc bằng nhiều cách thức, khi lặng lẽ, lúc ồn ào, cố gắng làm an lòng phần còn lại của thế giới về một chiến lược phát triển hòa bình của nước này.
Tranh thủ mọi cơ hội, mọi diễn dàn, khu vực và quốc tế, người Trung Quốc đang tỏ ra muốn “minh bạch hóa” chiến lược phát triển, nhất là các chính sách an ninh gắn với sự đầu tư ngày càng lớn cho quân sự.
Những cụm từ “phát triển hài hòa”, “phát triển chung”, “an ninh chung”, “hợp tác”, “đối tác bình đẳng”, “tin cậy lẫn nhau”, “đối tác có trách nhiệm”… thường xuyên xuất hiện trên cửa miệng của giới lãnh đạo Trung Quốc.

“50 năm sau này, lãnh thổ Trung Quốc sẽ vẫn là 9.600.000 cây số vuông… Nếu như chúng ta xâm chiếm dù chỉ một phân đất đai của nước khác, chúng ta sẽ biến mình thành kẻ xâm lược” – Chủ tịch Trung Quốc Mao Trạch Đông nói 50 năm trước.

Khẩu hiệu hòa bình và chống bá quyền được giới chức Trung Quốc tận dụng mọi cơ hội phô diễn.
Khi Biển Đông nóng lên, những phát ngôn mang tính trấn an như thế của lãnh đạo Trung Quốc càng xuất hiện với tần suất dày đặc, nhất là tại các diễn đàn khu vực, nơi các nước láng giềng chia sẻ mối lo về an ninh khu vực.

Chỉ trong vòng một tháng, nhân vật thứ 3 của giới quốc phòng Trung Quốc, Trung tướng Mã Hiểu Thiên, Phó Tổng Tham mưu trưởng quân đội đã hai lần trấn an đại diện các quốc gia Đông Nam Á và nước lớn, rằng “quân đội Trung Quốc không đe dọa an ninh nước nào”.

“Sự phát triển năng lực của quân đội quốc gia Trung Quốc không nhằm thách thức, đe dọa hay xâm lược quốc gia nào mà trước hết và trên hết là để đảm bảo an ninh của Trung Quốc”.

“Chỉ phát triển chung mới đảm bảo phát triển bền vững cho tất cả. Chỉ có an ninh chung mới có thể đảm bảo an ninh bền vững thực sự”, ông Mã Hiểu Thiên nói. “Duy trì an ninh trong khu vực là lợi ích và bổn phận của Trung Quốc”… “Trung Quốc không bao giờ nhắm tới bá quyền, ngay cả khi mạnh hơn”.

Cho rằng việc tìm kiếm an ninh qua đối đầu và chạy đua vũ trang đã lỗi thời, và việc hợp tác mới là lựa chọn cho an ninh, lãnh đạo Trung Quốc tuyên bố, “Chính phủ Trung Quốc cam kết tìm các giải pháp hòa bình cho các điểm nóng khu vực”.

Nói như Phó Giáo sư Peter Dutton, thuộc Viện Nghiên cứu Hàng hải, trường Cao đẳng Hải chiến Hoa Kỳ, Trung Quốc đang xây dựng hình tượng “hòa bình phát triển” với thế giới.

Đáng tiếc, hình tượng đó dựng lên phần nhiều bằng lời nói, chứ không phải việc làm của chính Trung Quốc.

Tự định chuẩn

Cố gắng thuyết phục thế giới hiểu đúng về Trung Quốc và tham vọng phát triển của nước này, nhấn mạnh xây dựng quan hệ đối tác thực sự dựa trên sự hiểu biết và tin cậy lẫn nhau, thế nhưng, hành động của Trung Quốc, nhất là liên quan đến Biển Đông lại buộc thế giới đặt những dấu hỏi nghi ngờ.

Những lời trấn an của lãnh đạo Trung Quốc không thể an lòng thế giới, nhất là khu vực, khi những hành động của giới chức nước này lại “một mình một lối”.

Từ đường ranh giới chữ U đòi chủ quyền trên Biển Đông tham lam “lờ đi những giới hạn luật pháp được quy định bởi Công ước Luật biển Quốc tế 1982” (nhận xét của PGS Peter A. Dutton) đến những hoạt động thực tế mang tính hiếu chiến trên Biển Đông, Trung Quốc đã phá vỡ cam kết “giữ nguyên trạng”, “không làm căng thẳng tình hình” mà nước này đã kí năm 2002 với các quốc gia ASEAN trong Tuyên bố về các nguyên tắc ứng xử trên Biển Đông DOC.

Trung Quốc liên tục “gây chuyện”, với từng nước riêng rẽ liên quan đến tranh chấp, trực tiếp và gián tiếp, và với cả khu vực. Xây dựng đơn vị hành chính, đơn phương cấm đánh bắt cá, bắt giữ và đòi tiền chuộc với các tàu cá của các quốc gia ĐNA, va chạm với tàu Mỹ, xây dựng cơ sở hải quân khổng lồ ở đảo Hải Nam, tổ chức tàu tuần tra, tập trận không quân và hải quân trong khu vực tranh chấp… là những bước leo thang của Trung Quốc trong việc làm căng thẳng tình hình Biển Đông. Quy mô và tần suất của các hoạt động phá vỡ lòng tin này ngày càng gia tăng.

Mới đây, Trung Quốc đã bắt đầu định danh tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông là “lợi ích chiến lược” của nước này, đặt ngang hàng với các vấn đề Đài Loan, Tây Tạng vốn được Trung Quốc ưu tiên cao. Và cùng với nó, việc tuyên truyền về khả năng giải quyết tranh chấp Biển Đông bằng vũ lực cũng xuất hiện ngày càng dày trên truyền thông Trung Quốc.

Có vẻ như, cái gọi là “cam kết”, “hợp tác”, “không đe dọa”… đã được Trung Quốc tự định chuẩn theo cách hiểu của riêng nước này. “Phương cách đơn phương Trung Quốc” không chỉ được áp dụng trong giải thích luật biển quốc tế, mà trong những thuật ngữ hoa mỹ nước này dùng để dựng hình tượng về mình cũng như mô tả về quan hệ tốt đẹp với láng giềng.

Thay vì dùng lời nói thuyết phục thế giới và khu vực “hiểu đúng” về Trung Quốc với tư cách “cổ đông có trách nhiệm” trong cộng đồng quốc tế, có lẽ, đến lúc Trung Quốc dựng hình tượng ấy bằng hành động cụ thể, trước hết và trên hết bằng việc minh bạch hóa vấn đề an ninh Biển Đông với hành động thiện chí và xây dựng thực sự của nước này.

Và thay vì sử dụng phương cách Trung Quốc để rồi trách thế giới hiểu nhầm mình, Trung Quốc cần thực sự áp dụng phương cách và chuẩn mực quốc tế trong hành xử, để làm thế giới tin.

______________________________________________________________

Posted in Chính trị thế giới, Chuyện chính trị, Việt Nam và thế giới | Tagged: , , | Leave a Comment »

Hệ thống quốc tế thay đổi, rốt cuộc Trung Quốc ở vị trí nào?

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Sáu 30, 2010

Tạp chí “Quan hệ quốc tế hiện đại”

Có một vấn đề đang được giới học thuật Trung Quốc thảo luận rất nhiều, là xác định vai trò của Trung Quốc trong thời đại mới, song do tư duy quá nhiều chiều, góc nhìn đa dạng, đến nay vẫn thiếu một đáp án thống nhất.

Trung Quốc: chuyển đổi vai trò và lựa chọn chiến lược

Trong thời đại mới thay đổi hệ thống, rốt cuộc Trung Quốc ở vị trí nào? Cần lựa chọn chiến lược nào? Có thể coi đây là vấn đề bàn luận sôi nổi nhất ngày nay. Phải nói là trong thay đổi hệ thống, Trung Quốc vừa đang “tự xoay chuyển”, cũng đang “cùng xoay chuyển”, Trung Quốc trỗi dậy vừa là lực đẩy quan trọng, vừa là kết quả chủ yếu trong thay đổi hệ thống. Những biến đổi của cục diện chính trị, kinh tế, quốc tế trên mức độ rất lớn là do biến đổi lượng nảy sinh khi Trung Quốc vươn lên.
Đồng thời, kết quả của diễn biến cục diện thế giới là, Trung Quốc đứng mũi chịu sào. Trung Quốc vừa phải tiếp tục kiên trì cải cách mở cửa thực hiện “tự chuyển động”, giữ cho chính trị, kinh tế, xã hội trong nước ổn định, vừa phải theo sát nhịp bước thời đại thực hiện “cùng chuyển động” , gắn với vận mệnh thế giới trong điều kiện toàn cầu hóa, do đó so với các nước khác, Trung Quốc cần nhạy cảm hơn và nhanh chóng thích ứng với thay đổi hệ thống.
Trước mắt, một vấn đề đang được giới học thuật Trung Quốc thảo luận rất nhiều là xác định vai trò của Trung Quốc trong thời đại mới, do tư duy quá nhiều chiều, góc nhìn đa dạng, đến ngày nay vẫn thiếu một đáp án thống nhất. Chúng tôi cho rằng xét từ góc độ, địa vị thực lực biến đổi hệ thống và quan hệ quốc tế, Trung Quốc đồng thời có bốn thân phận khác nhau, là một quốc gia “bốn hợp một”.
Trung Quốc trước tiên là nước lớn đang phát triển, bất luận từ nguyên tắc chính trị, chiến lược phát triển, phương châm ngoại giao hay từ thực lực khách quan, Trung Quốc vẫn trong giai đoạn quốc gia đang phát triển. Trung Quốc vừa là nước lớn đang vươn lên, vừa là một trong “bốn nước BRIC” (bao gồm: Braxin, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc), là cột mốc quyền lực thế giới đang di chuyển sang phía đông và sự vươn lên của các nước lớn mới trỗi dậy. “Trung Quốc vươn lên” trở thành tên hiệu mới mẻ nhất của Trung Quốc ngày nay.

Trung Quốc còn là cường quốc cấp thế giới, mặc dù phạm vi hoạt động và phạm vi lợi ích của Trung Quốc còn hạn chế ở Đông Á, các học giả Trung Quốc phần nhiều định vị Trung Quốc là “nước lớn khu vực có ảnh hưởng toàn cầu nhất định”, nhưng bất luận từ vị thế một trong 5 ủy viên thường trực Hội đồng bảo an Liên Hợp Quốc, hay tổng lượng kinh tế, dự trữ ngoại hối, quy mô dân số, quy mô địa lý và ảnh hưởng quốc tế, tình thế phát triển, Trung Quốc đều xứng đáng với danh hiệu cường quốc cấp thế giới. Trung Quốc là “bán siêu cường”, dù thích hay không, Trung Quốc đã được rất nhiều quốc gia coi là nước lớn thứ hai thế giới chỉ sau Mỹ.
Xác định thân phận của quốc gia được quyết định bởi tự mình đánh giá mình, còn được quyết định bởi người khác đánh giá mình, nếu các nước khác coi Trung Quốc là “bán siêu cường”, thì Trung Quốc không thể né tránh hiện thực này, nếu không sẽ dẫn đến những nhận thức lệch lạc rất lớn, ảnh hưởng đến phán đoán chiến lược.
Trung Quốc đồng thời ở trong cục diện nhiều thay đổi phức tạp. Một là cùng tồn tại “lục hóa”. Trung Quốc vừa ở giữa đường công nghiệp hóa, vừa bước mạnh vào tin học hóa; vừa ở giai đoạn đầu của đô thị hóa, vừa bộ phận bước tới quốc tế hóa; vừa chưa hoàn thành bố cục khu vực hóa, vừa phải đối mặt với áp lực toàn cầu hóa. Cái hay là có nhiều không gian phát triển, ăn cả gói; chỗ dở là phải đồng thời đối mặt với nhiều vấn đề khó khăn, rủi ro tăng mạnh.
Hai là “hai chủ nghĩa lớn” nổi rõ. Đối nội, “chủ nghĩa nhà nước” kiểu mới đang hình thành, chuyển khí đốt từ Tây sang Đông, đưa nước từ Nam lên Bắc, tuyến đường sắt Thanh Tạng, khai phá miền Tây, chấn hưng Đông Bắc, Miền Trung vươn lên, các mảng khu vực ở Trung Quốc bắt đầu được kinh tế thị trường thực sự nối liền thành một khối.
Ý thức “người Trung Quốc”, quan niệm nhà nước dân tộc hiện đại, “ý thức công dân” ngày càng trở thành nhu cầu tự giác của mọi người, vượt trên ý nghĩa chính trị và ý thức hệ trước đây. Từ đó dẫn đến các vấn đề phức tạp như mất cân bằng khu vực, xung đột dân tộc.
Về đối ngoại, chủ nghĩa dân tộc mới phát triển mạnh, vừa có chủ nghĩa dân tộc lý tính lành mạnh, vừa pha trộn chủ nghĩa dân túy phi lý tính. Chủ nghĩa quốc gia mới và chủ nghĩa dân tộc mới đem lại “nhân khí” không thể thiếu để Trung Quốc trỗi dậy, thể hiện tinh thần một lòng vươn lên, đồng thời cũng nảy sinh những “tính cách” không bình thường.
Ba là, hai cục diện lớn trong và ngoài nước chưa bao giờ gắn chặt với nhau như ngày nay. Tình hình Ápganixtan-Pakixtan với Tân Cương, Ấn Độ với Tây Tạng, Mianma với Vân Nam-Tứ Xuyên-Quý Châu, Triều Tiên với Đông Bắc, Nội Mông với Ngoại Mông cấu kết với nhau. Cái hay là có thể “từ đối nội ra đối ngoại”, thừa thế mở rộng lợi ích quốc gia của Trung Quốc; cái dở là rủi ro từ bên ngoài cũng có thể “đổ vào trong nước”, làm cho lợi ích quốc gia càng dễ chịu ảnh hưởng của môi trường bên ngoài.
Bốn là cục diện lớn ổn định và cục diện nhỏ hỗn loạn, cây chưa to đã đón gió trước, nay cây đã lớn càng đón gió mạnh hơn. Nhìn ra xung quanh, cục diện hỗn loạn ở Ápganixtan-Pakixtan, khủng hoảng hạt nhân ở Triều Tiên, cục diện nguy hiểm ở Mianma, cộng thêm những trục trặc giữa Trung Quốc-Ấn Độ, sóng gió ở biển Nam Trung Hoa (Biển Đông), xung quanh Trung Quốc “mây mù bao phủ”.
Nhưng nhìn từ góc độ khác, tổng thể quan hệ Trung-Nga ổn định, quan hệ Trung-Nhật ấm dần trở lại và tốt lên, quan hệ hai bờ Eo biển Đài Loan phát triển hòa bình. Chỉ cần ba trục Nga, Nhật Bản, Đài Loan ổn định thì xung quanh Trung Quốc không còn trở ngại lớn nào nữa. Tình hình này ngược lại đòi hỏi Trung Quốc phải biết nhìn nhận môi trường xung quanh, một cách biện chứng, đừng vì hỗn loạn nhỏ mà tự làm rối loạn thế trận của mình, cũng không vì tình hình chung ổn định mà coi nhẹ kế hoạch chiến lược.
Nhiều thân phận và nhiều tiến trình cùng tồn tại đã quyết định tình hình Trung Quốc phức tạp và lợi ích quốc gia đa nguyên, đòi hỏi chúng ta lấy đa dạng hóa ngoại giao để thể hiện đặc điểm nhiều thân phận.
Như: trong lĩnh vực thay đổi khí hậu, Trung Quốc là nước đang phát triển, lại là một nước lớn trên thế giới. Trung Quốc không thể gánh vác trách nhiệm giảm khí thải theo tiêu chuẩn Mỹ-Âu. Mỹ và Châu Âu đã hoàn thành giai đoạn công nghiệp hóa, bắt đầu đi vào thời đại hậu công nghiệp hóa và tin học hóa, trong khi Trung Quốc còn đang ở giữa thời kỳ công nghiệp hóa. Cho nên Trung Quốc nhấn mạnh tiêu chuẩn lịch sử, tiêu chuẩn bình quân đầu người. Nhưng Trung Quốc quả thực lại không thể lẩn tránh nghĩa vụ cần gánh vác của một nước lớn trên thế giới, do vậy kiên trì đảm nhận “trách nhiệm chung nhưng có phân biệt”, cho thấy nguyện vọng chính trị và ý thức hợp tác.
Trên các phương diện như lĩnh vực kinh tế, quyền lợi biển, Trung Quốc là một nước lớn đang trỗi dậy, chiều rộng lợi ích quốc gia tất phải đi vào vũ trụ, đặt chân tới biển sâu, kinh tế phải “hướng ra ngoài”, quân sự phải hiện đại hóa, đây là xu thế khách quan không chuyển dịch theo ý chí con người.
Phản ứng của thế giới bên ngoài là điều khó tránh khỏi, nhưng phần nhiều là phản ứng tâm lý bình thường, phải nhạy cảm nắm bắt và ứng phó thỏa đáng, cũng không nên vì thế mà tự trói buộc tay chân mình.
Trong lĩnh vực tiền tệ quốc tế, Trung Quốc càng nổi rõ thân phận “một nước lớn trên thế giới”, không những vì mức dự trữ ngoại hối rất lớn, mà còn vì Trung Quốc bắt đầu trở thành lực lượng quan trọng để ổn định thị trường tiền tệ quốc tế. Thuyết “cân bằng khủng hoảng tiền tệ” Trung-Mỹ nói từ một khía cạnh khác cho thấy vị thế rất quan trọng của Trung Quốc trong lĩnh vực này. Cũng vì thế, Trung Quốc không những cần tăng tốc cải tạo và tái tạo thể chế tiền tệ trong nước, mà còn phải phát huy vai trò trong cuộc xây dựng lại trật tự tiền tệ quốc tế, trong đó cơ chế nhóm G-20 vừa thành lập là một vũ đài quan trọng.
Với nhiều lợi ích kể trên tất phải điều chỉnh một số quan niệm chiến lược, như nhất định phải kiên trì, nguyên tắc không can thiệp công việc nội chính, nhưng đồng thời cũng cần tiến cùng thời đại, bổ sung nội dung.
Trên thực tế, giữa không can thiệp nội chính và đảm nhận trách nhiệm quốc tế, mở mang phát triển lợi ích hải ngoại có không gian vận hành rất lớn, chỉ cần Liên Hợp Quốc ủy quyền, nước đương sự hoan nghênh, có lợi cho sự ổn định trong khu vực và trên thế giới, hành động đó không trái nguyên tắc không can thiệp nội chính.
Còn nữa, vấn đề ý thức hệ trong ngoại giao Trung Quốc, như chính sách đối với Triều Tiên, rốt cuộc là lấy lợi ích quốc gia làm thước đo, hay là xem xét nhiều hơn đến nhân tố ý thức hệ?
Ngoài ra, còn có một số vấn đề quan niệm xơ cứng, như:
Cùng với trọng điểm đọ sức trong thế kỷ 21 dần dần chuyển sang Ấn Độ Dương, cùng với việc hộ tống tàu bè ở vịnh Aden dẫn đến vấn đề sự có mặt của Trung Quốc ở Ấn Độ Dương, xử lý thế nào quyền lợi hợp pháp của Trung Quốc ở đại dương này? Xác định thế nào vai trò của Trung Đông trong nền ngoại giao Trung Quốc? Rốt cuộc Trung Đông là mảng chính trị độc lập hay là “Trung Đông của châu Á”? Trung Quốc vào Trung Đông là chia sẻ miếng pho mát của Phương Tây, hay là nhu cầu lợi ích hợp lý của một nước lớn ở Châu Á?
Những sai lầm trong nhận biết và quan niệm trên đã gây khó khăn cho sự lựa chọn ngoại giao của Trung Quốc trong một thời gian dài, cũng thường trở thành cái cớ để Phương Tây ràng buộc Trung Quốc, cần suy ngẫm lại và điều chỉnh.
Khi điều chỉnh những quan niệm trên, trước tiên Trung Quốc cần xử lý quan hệ Trung-Mỹ, vì Mỹ vẫn là siêu cường quốc duy nhất, hơn nữa là nước lớn duy nhất có liên quan toàn diện đến lợi ích chủ yếu của Trung Quốc. Trước mắt, tổng thể quan hệ Trung-Mỹ đang tốt, song những vấn đề mang tính kết cấu ở tầng sâu vẫn nghiêm trọng, như: quan hệ chiến lược không tồi, nhưng thiếu tin cậy nhau về chiến lược; quan hệ kinh tế thương mại phát triển sâu, nhưng giao lưu quân sự đình trệ nghiêm trọng; mối quan hệ giữa tầng lớp tinh hoa với nhau hoàn toàn thông thuận, nhưng giao lưu quần chúng rất kém; vấn đề Đài Loan được khống chế, nhưng xung đột Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông) từng bước leo thang.

Cùng với sự phát triển của Trung Quốc, tính chất quan hệ Trung-Mỹ có thể sẽ dần dần từ “quan hệ giữa một thành viên đa cường và siêu cường duy nhất” diễn biến thành “quan hệ anh cả và anh hai”, mâu thuẫn hai bên có thể sẽ càng thêm sâu sắc. Một vấn đề chiến lược lớn cần suy nghĩ là làm thế nào nắm chắc thời cơ sau khi Obama lên cầm quyền, tổng thể quan hệ Trung-Mỹ tích cực, cùng nỗ lực ứng phó với khủng hoảng tiền tệ, vấn đề biến đổi khí hậu và an ninh khu vực, tăng cường đề phòng, khống chế khủng hoảng, tăng thêm tin cậy lẫn nhau về chiến lược, mở rộng không gian hợp tác, tạo dựng khung quan hệ kiểu mới, từ đó hóa giải mâu thuẫn sâu sắc có thể nảy sinh trong tương lai.
Thứ hai, làm thế nào giải quyết quan hệ với các nước lớn Nga, Châu Âu, Nhật Bản, Ấn Độ. Trung Quốc không nhất thiết trở thành “anh hai”, các nước lớn đều có tiềm lực “nổi trội”. Làm thế nào xóa bỏ ghen ghét, đố kỵ, hóa giải lòng hận thù, ác ý, Trung Quốc và các nước lớn cùng phát triển, cùng vươn lên, phải là phương hướng nỗ lực của ngoại giao Trung Quốc trong tương lai. Xét từ ý nghĩa đó việc tiếp tục củng cố quan hệ Trung-Nga, phát triển sâu quan hệ Trung-Âu, tăng cường quan hệ Trung-Nhật, ổn định quan hệ Trung-Ấn, là những việc quan trọng hơn so với bất cứ thời kỳ nào trong lịch sử. Những việc đó cũng có ý nghĩa chiến lược như thúc đẩy quan hệ Trung-Mỹ. Giữa ngoại giao hai bên và ngoại giao nhiều bên, giữa Mỹ và các nước lớn, thúc đẩy một loạt quan hệ ba bên phát triển (như: Trung-Mỹ-Nga, Trung-Mỹ-Nhật, Trung-Mỹ-Âu, Trung-Mỹ-Ấn), dường như có thể trở thành điểm tựa cho ngoại giao Trung Quốc giai đoạn tới.
Thứ ba là làm thế nào tiếp tục tăng cường quan hệ với các nước đang phát triển. Trước mắt, đã có dấu hiệu Trung Quốc bị các nước đang phát triển gạt bỏ, các nước Ấn Độ, Braxin, Nam Phi muốn giành quyền chi phối hoặc quyền đại diện trong các nước đang phát triển. Dưới chiến lược trợ giúp phát triển mới của Mỹ và Phương Tây cùng tình trạng giành giật giữa các nước lớn, nhận thức của một số quốc gia Mỹ Latinh và Châu Phi đối với Trung Quốc cũng đang lặng lẽ biến đổi. Quan hệ với các nước đang phát triển có thể nói là “không tiến thì lùi”, tình thế buộc chúng ta phải chuyển biến ý thức tư tưởng, mở rộng đầu tư chiến lược, tăng cường hợp tác quốc tế.
Thứ tư, lựa chọn chiến lược quan trọng nhất của Trung Quốc trong tương lai phải là tăng cường xây dựng năng lực bản thân. Cải cách mở cửa 30 năm, nhiệm vụ căn bản của ngoại giao Trung Quốc là tạo dựng môi trường quốc tế hòa bình ổn định, phục vụ công cuộc cải cách mở cửa ở trong nước, nay đã đến lúc lợi dụng tổng thể môi trường quốc tế ổn định để tăng tốc phát triển trong nước. Những sự kiện mang tính quần thể ở trong nước năm 2008 cũng như các vấn đề dân tộc và tôn giáo năm 2009 cho thấy “hội chứng trỗi dậy” đã đến Trung Quốc sớm hơn dự tính. Ngoại giao là tiếp tục của nội chính, những rủi ro bên ngoài tác động được nhờ môi trường bên trong và hình ảnh bên ngoài phản ánh sự phát triển bên trong, bởi vậy, gốc rễ Trung Quốc vươn lên hòa bình được quyết định bởi sự ổn định và hài hòa của tình hình chính trị, kinh tế, xã hội trong nước, và bởi cuộc phục hưng vĩ đại của nền văn minh Trung Hoa.

______________________________________________

Posted in Chính trị thế giới | Tagged: , , | Leave a Comment »

Đường hầm tuyệt mật ở Đà Lạt

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Sáu 30, 2010

Trúc Phương – Khắc Lịch

– Đằng sau những dinh thự cổ kính ở Đà Lạt (Lâm Đồng) là các đường hầm được quân đội Nhật bí mật cho đào kéo dài cả 3 – 4 km nhằm bắt sống các quan lại người Pháp trong cuộc đảo chính năm 1945.

Những đường hầm bí mật này được đào cụ thể vào thời gian nào, một khối lượng đất đá khổng lồ được quân đội Nhật đem đổ ở đâu, hiện vẫn còn là một điều gây tranh cãi!…

Một hệ thống địa đạo

Phóng viên Bee có dịp được lọt vào đường hầm bí mật phía sau Nhà sáng tác Đà Lạt. Một đường hầm nhỏ nằm sâu dưới lòng đất chừng 5 m, ngoằn ngoèo lách qua các kẽ đá ngầm vẫn còn rỉ nước.

Tại điểm này, đường hầm có chiều cao khoảng 1,5 m, rộng chừng 1,3 m. Càng đi sâu vào bên trong, không khí trở nên ẩm mốc, lạnh lẽo. Đường hầm được chia thành nhiều nhánh rẽ đi các nơi tạo thành một hệ thống địa đạo, rất khó xác định được phương hướng. Theo một người dân sống gần đó cho biết, đây chỉ là một đoạn nối liền với đường hầm chính chạy từ Dinh I sang Dinh II cách nhau khoảng 3 m và đã bị sập ở nhiều đoạn.

Cụ Nguyễn Đức Hòa, một người đã được vào Dinh phục vụ Bảo Đại từ năm 13 tuổi kể lại, khi cụ vào Dinh thì đường hầm đã có rồi. Địa đạo này được quân đội Nhật cho đào từ khi nào cho đến nay cụ vẫn không rõ.

Một khối lượng đất đá khổng lồ từ việc đào đường hầm này được quân đội Nhật đem đổ ở đâu hiện còn đang là một điều bí ẩn. Đường hầm không chỉ thông giữa Dinh I và Dinh II mà còn phân nhánh tới các căn biệt thự số 11, 16, 18, 26… trên đường Trần Hưng Đạo nhằm bắt sống các quan lại người Pháp đang sinh sống tại đây.

Khi về Dinh làm được một thời gian, trong một lần lau dọn phòng, cụ Hòa phát hiện một đường hầm sâu hun hút, đen ngòm từ lầu 2 của Dinh, thông ra đến đâu thì cụ không rõ. Cụ còn cho biết, Cựu hoàng Bảo Đại là người rất quan tâm đến những người phục vụ trong Dinh, thường đi đâu cũng cho ông đi theo. Song Bảo Đại căn dặn: “Tuyệt đối không được hé răng cho ai biết có đường hầm này”. Kể từ đó, để bảo toàn tính mạng, cụ không để ý đến đường hầm này nữa.

Đường hầm bí mật được xây từ tầng hai của Dinh I, có bậc tam cấp đi xuống phòng làm việc, phòng khách, rồi thông ra sân sau đến bãi đáp trực thăng. Tại đây, chiều rộng của hầm là 3 m, cao 1,8 m, cách mặt đất 2 m, theo đường hầm đi vào bên trong có chỗ sâu tới gần 10 m nên rất an toàn.

Ở những ngã rẽ đến các dinh và biệt thự đều có một khu vực được đào rộng hơn bình thường, xuyên lên mặt đất và được ngụy trang bằng các cành cây phía trên. Nhiều người cho rằng, những nơi này chính là căn cứ của Bộ tham mưu Nhật.

Cụ Hòa cho biết, khi phát hiện ra đường hầm này, Bảo Đại đã cho đặt một xe du lịch ngay cửa hầm, phòng khi bất trắc thì có thể lên xe chạy đi lánh nạn.

Cửa thoát hiểm của Ngô Đình Diệm

Năm 1956, Ngô Đình Diệm hất cẳng Bảo Đại, Dinh I được dành riêng cho Tổng thống làm việc và nghỉ ngơi. Dinh II do vợ chồng “cố vấn” Ngô Đình Nhu sử dụng, Dinh III dùng để làm nơi phục vụ các quan khách cao cấp của Ngô Đình Diệm mỗi khi có dịp lên Đà Lạt thăm và làm việc.

Cũng trong thời gian này, cụ Hòa lại được Ngô Đình Diệm điều về phục vụ tại Dinh I nên có điều kiện biết rõ hơn mọi ngóc ngách của đường hầm bí mật này. Cụ Hòa kể, khi mới về đây làm việc, vào những buổi trưa khi mọi người đã về hết, cụ cùng vài người thân phục vụ trong Dinh như: cụ Lê Ký, cụ Sáng, cụ Dinh… thường cầm theo đèn pin lẻn xuống đường hầm rồi mò vào sâu tới 500 m. Càng vào sâu bên trong rễ cây đâm xuống tua tủa và có rất nhiều dơi. Các cụ không dám vào sâu trong hầm vì sợ có người phát hiện.

Để thuận lợi cho việc trốn thoát khi có tình huống xấu xảy ra, Ngô Đình Diệm đã cho xây cửa đường hầm ngay cạnh đầu giường phòng ngủ của mình. Phía trước được ngụy trang bằng một giá sách, chỉ cần đẩy sang một bên là có thể bước vào cửa sắt dẫn xuống đường hầm. Nếu đi từ phía nhà vệ sinh thì chỉ cần đẩy nhẹ bức vách là có thể bước ngay vào miệng hầm bí mật này.

Phía dưới, đường hầm được chia làm 3 phòng; phòng nghỉ ngơi và làm việc của Tổng thống, phòng điện đài cơ yếu và phòng bảo vệ, có máy phát điện liên tục 24/24. Toàn bộ những thiết bị này đều được điều khiển một cách tự động.

Cụ Hòa cho biết: “Sau khi Dinh Độc lập bị ném bom, Ngô Đình Diệm liền cho gọi nhà thầu Phan Xứng đến ra lệnh đổ bêtông, xây lại đường hầm bí mật thật kiên cố để phòng tình huống bất trắc có thể xảy ra. Trong thời gian này, Ngô Đình Diệm tỏ ra rất sốt sắng cho kế hoạch kiên cố hóa đường hầm của mình!…”.

Để kiên cố hóa đường hầm cho Ngô Đình Diệm, nhà thầu Phan Xứng đã phải huy động trên 20 thợ sắt, thợ hồ lành nghề đến ăn ở và làm việc tại chỗ. “Nội bất xuất, ngoại bất nhập”, công việc tu sửa kéo dài ròng rã suốt hai năm mới xong. Nhưng đến năm 1960, một số nơi trong đường hầm bị rạn nứt nên phải làm lại.

Sau khi làm xong đường hầm tuyệt mật này, những người thợ lành nghề không còn thấy ai trở về với gia đình nữa. Nhiều người cho rằng, họ đã bị bí mật thủ tiêu để đảm bảo sự an toàn tuyệt đối cho Tổng thống Ngô Đình Diệm.

_________________________________________________________

Posted in Chuyện du lịch VN, Chuyện lịch sử | Tagged: , , | Leave a Comment »

Chuyện xảy ra ở Tiền Giang: “đổi” chân dài… lấy đất

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Sáu 29, 2010

LƯƠNG THIỆN

Những ngày qua, báo chí phơi bày sự thật đằng sau câu chuyện đưa cuộc thi Hoa hậu Thế giới về tỉnh Tiền Giang: Công ty Cổ phần Du lịch Tiền Giang (CTCPDLTG)- đơn vị đứng ra tổ chức cuộc thi, đã thuộc quyền sở hữu 96,32% của đại gia đình Hoàng Kiều. Xung quanh việc định giá tài sản công, đấu giá cổ phần vốn Nhà nước tại công ty này đang đặt ra nhiều nghi vấn…

BÁN NHƯ CHO!

Có lịch sử thành lập rất sớm, từ những năm bao cấp rồi sang kinh tế thị trường, cho đến trước khi cổ phần hóa, Công ty du lịch Tiền Giang là con chim “đầu đàn” về du lịch nói riêng và kinh tế nói chung của tỉnh Tiền Giang. Vì thế, mặt bằng nhà hàng, khách sạn có vị trí tuyệt đẹp… đều được giao cho công ty quản lý, khai thác kinh doanh.

Thực hiện chủ trương cổ phần hóa doanh nghiệp, ngày 12/1/2005 UBND tỉnh Tiền Giang ban hành quyết định số 109/QĐ-UB phê duyệt phương án và chuyển Công ty du lịch Tiền Giang thành Công ty cổ phần Du lịch Tiền Giang (CTCPDLTG). Nhưng chỉ 4 năm sau, công ty này đã “lột xác” hoàn toàn, chuyển sang 100% tư nhân.

Điều ai cũng bất ngờ, một công ty lớn như vậy nhưng khi chuyển sang tư nhân, giá trị cả “xác” lẫn “hồn” nhà nước chỉ thu được 17 tỷ đồng! Chưa hết, giá trị lớn nhất sau cổ phần hóa không phải là tài sản trên đất mà chính là các mặt bằng đất đai nhà hàng, khách sạn, khu du lịch lại cho thuê với giá thật bèo bọt.
Theo số liệu của Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Tiền Giang, hiện tại có 10 mặt bằng giao cho công ty khai thác, đó là Nhà hàng Sông Tiền, Khách sạn Sông Tiền, Nhà hàng Trung Lương, Nhà hàng Quê Hương, Nhà hàng Cửu Long, Nhà hàng Thới Sơn, Phòng hướng dẫn và nhà hàng du lịch, Cửa hàng kinh doanh tổng hợp, Khách sạn Hướng Dương đều thuộc thành phố Mỹ Tho; Nhà hàng Hương Biển thuộc huyện Gò Công Đông. Tổng diện tích đất công mà công ty này sở hữu là 216.000m², tuy có vị trí đẹp, diện tích lớn nhưng lại được cho thuê giá cực kỳ thấp.

Nhà hàng Trung Lương có diện tích đất là 3.338,8m², nằm ngay cửa ngõ thành phố Mỹ Tho, một điểm dừng chân thường xuyên của các công ty du lịch, luôn tấp nập du khách nhưng giá cho thuê nguyên năm 2009 chỉ là 65,3 triệu đồng, tức là chỉ 5,4 triệu đồng/tháng.

Điều này có thể tin nổi không, vì ai cũng biết kinh doanh ăn uống có tỉ suất lợi nhuận cực kỳ cao! Nhà hàng Cù Lao Thới Sơn, một địa chỉ du lịch khá nổi tiếng nằm giữa sông Tiền, giáp ranh với tỉnh Bến Tre nhưng giá thuê cũng chỉ ở mức xấp xỉ 5,5 triệu đồng/năm với diện tích đất trên 11.183,5m².
Nhà hàng Quê Hương tọa lạc ngay trung tâm thành phố có diện tích 509,6m² nhưng có giá thuê chỉ gần 12,5 triệu đồng/năm. Vì cho thuê với giá rẻ mạt, nên tổng số tiền thu được từ việc cho thuê đất của CTCPDLTG hàng năm rất bèo bọt, chẳng hạn trong năm 2009 chỉ có 267,9 triệu đồng!

GIA ĐÌNH “ĐẤU” VỚI NHAU?

Theo thông tin từ Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Tiền Giang, Công ty Tiền Giang được thành lập vào tháng 1/1983, đến tháng 2/1987 sáp nhập vào Công ty Ăn uống – Khách sạn Tiền Giang và đổi tên thành Công ty Du lịch Tiền Giang. Sau khi cổ phần hoá, Công ty tiến hành đại hội cổ đông lần đầu vào ngày 4/3/2005. Hành trình cổ phần hóa của Công ty Du lịch Tiền Giang chia làm bốn đợt đấu giá.

Sau khi đã xác định vốn điều lệ CTDLTG là 7 tỉ đồng, ngày 18/2/2005, thông qua Trung tâm Thông tin, tư vấn, dịch vụ bán đấu giá tài sản, bất động sản Tiền Giang, tỉnh đã tổ chức bán đấu giá lần đầu với số lượng 140.000 cổ phần (chiếm 20%), giá khởi điểm 10.100 đồng/cổ phần. Kết quả có ba người trúng đấu giá, trong đó giá mua cao nhất là 11.140 đồng/cổ phần.

Đến ngày 3/8/2006, UBND tỉnh Tiền Giang quyết định bán 21% cổ phần nhà nước (147.000 cổ phần) trong số 51% cổ phần nhà nước đang nắm giữ ra bên ngoài với giá khởi điểm 45.100 đồng/cổ phần. Chỉ có hai khách hàng tham gia đấu giá là ông Hoàng Kiều và Công ty Tống Linh Giang. Kết quả, ông Hoàng Kiều trúng đấu giá số tiền 6,64 tỉ đồng (giá 45.200 đồng/cổ phần). Sau đó tỉnh Tiền Giang chuyển giao 210.000 cổ phần nhà nước còn lại (30%) tại CTCPDLTG cho Tổng công ty Đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước.

Ngày 10/3/2009, thông qua Công ty chứng khoán An Bình, đơn vị này đã tiến hành bán đấu giá hết số cổ phần nhà nước với giá khởi điểm chỉ 31.000 đồng/cổ phần. Kết quả, ông Hoàng Sammy Hùng (con ông Hoàng Kiều) trúng đấu giá với số tiền 7,56 tỉ đồng (giá 36.000 đồng/cổ phần). Ngoài số cổ phần trúng đấu giá công khai, gia đình ông Hoàng Kiều cũng mua số cổ phần của các cổ đông khác.

Theo kết luận của Thanh tra tỉnh Tiền Giang tháng 7/2009, số cổ phần gia đình ông Hoàng Kiều nắm giữ là 96,53%, trong đó ông Hoàng Kiều nắm giữ 32,53%, ông Hoàng Sammy Hùng (con Hoàng Kiều) nắm giữ 30% và Đào Thị Lan Phương (vợ Hoàng Kiều) nắm giữ 34%.

DẤU HIỆU VI PHẠM PHÁP LUẬT…

Việc đấu giá trong phiên cuối cùng của CTCPDLTG vào tháng 3/2009 gây nhiều hoài nghi cho dư luận khi 7 nhà đầu tư tham gia đấu giá lần này lại chỉ bỏ giá sàn để cho một người thắng cuộc. Mặt khác, việc tổ chức đấu giá có dấu hiệu vi phạm pháp luật. Theo đó, trước ngày 10/3/2009, cả ông Hoàng Kiều lẫn Hoàng Sammy Hùng đều mang quốc tịch Mỹ, nhập cảnh Việt Nam đều là thương mại.

NỢ TIỀN CỦA DÂN

Ông Nguyễn Văn Tư ngụ ấp Thới Thuận, xã Thới Sơn, thành phố Mỹ Tho cho biết đã ký hợp đồng với luật sư để chuẩn bị khởi kiện CTCPDLTG (hiện đã thuộc quyền sở hữu của đại gia đình Hoàng Kiều) ra tòa vì nợ gần 18 tỷ đồng từ tháng 10/2009 đến nay nhưng chưa trả. Tháng 6/2009, ông Hoàng Kiều ký hợp đồng với ông Tư để mua 2,3ha đất gần khu du lịch Thới Sơn với số tiền gần 30 tỷ đồng.

Theo thỏa thuận sau khi hai bên ra công chứng hợp đồng chuyển nhượng thì CTCPDLTG phải trả tiền cho ông Tư. Thế nhưng, công chứng xong, tiền trước bạ đã nộp, đặc biệt sổ đỏ đã đứng tên chủ mới nhưng CTCPDLTG chỉ thanh toán cho ông Tư gần 13 tỷ đồng. Bức xúc, ông Tư nộp đơn đến UBND xã để kiện CTCPDLTG.

UBND xã hòa giải, hai bên đã hai lần ký kết văn bản thỏa thuận trả nợ, nhưng đến nay ông Tư cũng chưa thấy tiền được thanh toán như hợp đồng. Cũng tại cù lao Thới Sơn, thêm một trường hợp nợ khác của CTCPDLTG là trường hợp ông Dương Đình Vinh, người chuyên cung cấp nhà rường cho CTCPDLTG.
Ông Vinh cho biết, theo hợp đồng, ông sẽ cung cấp 16 căn nhà rường và hiện đã chuyển vào 12 căn nhưng công ty chỉ đưa 5 tỷ đồng tiền cọc, số tiền còn lại vẫn chưa trả.

Theo các chuyên gia chứng khoán, cuộc đấu giá lần thứ 2 để cho ông Hoàng Sammy Hùng tham gia lần này là không phù hợp với các quy định của pháp luật Việt Nam.Việc bán đấu giá cổ phần nhà nước phải tuân theo Quyết định số 36/2003 do Thủ tướng Chính phủ ban hành về quy chế góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp VN: “Mức góp vốn, mua cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài ở doanh nghiệp VN tối đa bằng 30% vốn điều lệ của doanh nghiệp VN”.

Quyết định này chỉ hết hiệu lực thi hành vào ngày 15/8/2009, khi Quyết định số 88/2009 được ban hành thay thế. Như vậy, theo đúng quy định thì trong trường hợp CTDLTG, nhà đầu tư nước ngoài chỉ được nắm giữ 30% cổ phần trong công ty này và nhà đầu tư nước ngoài khác sẽ không được tham gia đấu giá cổ phần trong đợt đấu giá tổ chức tiếp vào tháng 3/2009.

Do đó, thời điểm Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) bán phần sở hữu của Nhà nước ra bên ngoài mà không khống chế tỷ lệ phần trăm nhà đầu tư nước ngoài mua được là sai quy định. Vì lúc đó CTCPDLTG đã có 30% cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài (tức là ông Hoàng Kiều nắm giữ), lẽ ra nhà đầu tư nước ngoài sẽ không được mua tiếp. Tuy nhiên, thật khó hiểu SCIC lại bán tiếp cho một nhà đầu tư nước ngoài khác 30%.

Chưa hết, báo chí còn phát hiện ra rằng, trong hai phiên đấu giá cuối cùng có sự “thông thầu”, khi có sự xuất hiện Công ty Tống Linh Giang. Trên trang web của Tập đoàn RAAS, công ty này chính là thành viên, chú ruột ông Hoàng Kiều giữ chức Phó Chủ tịch Hội đồng quản trị. Việc đấu giá nhằm công khai minh bạch, bán được giá tốt nhất cho nhà nước, nhưng kiểu “người nhà” đấu với nhau thì tính khách quan không còn nữa!

AI LÀ NGƯỜI HƯỞNG LỢI?

Đến đây, người ta mới hiểu ra rằng, những tuyên bố hùng hồn của ông Hoàng Kiều khi xin tổ chức cuộc thi Hoa hậu Thế giới hoặc bỏ hằng trăm tỉ làm từ thiện hóa ra hết sức hài hước. Vì rõ ràng câu chuyện đang xảy ra tại CTCPDLTG phơi bày bộ mặt thật: ông Việt kiều này đang tìm kiếm cơ hội làm ăn và tìm mọi cách để mua lại của công với giá rẻ mạt. Tất nhiên trong vụ làm ăn này không phải một mình ông hưởng lợi, vì toàn bộ đất đai, mặt bằng, nhà hàng, khách sạn của CTCPDLTG đều xuất xứ từ của công và tất nhiên không thuộc quyền sở hữu của riêng ai…!!

________________________________________________________

Posted in Chuyện pháp luật, Chuyện đất nước, Kinh tế | Tagged: , , , | Leave a Comment »

Quy chế tuyển dụng “chê” giáo viên giỏi

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Sáu 29, 2010

– Cứ vào dịp hè, chuyện “chạy biên chế” lại nóng lên khi ngành giáo dục tuyển thêm giáo viên mới. Bee.net.vn đã có cuộc trò chuyện thú vị với ông Nguyễn Khắc Hào, giám đốc Sở GD&ĐT Hà Tĩnh xoay quanh nội dung này…

Khá tuyển, giỏi… chờ!

Khảo sát cho thấy, năm học vừa rồi, Sở GD&ĐT Hà Tĩnh “bỏ lọt” nhiều sinh viên tốt nghiệp loại giỏi, trong khi đó chỉ nhận loại khá. Chẳng hạn như ngành lịch sử có 7 em loại giỏi không được tuyển, địa lý 2 em loại giỏi không được tuyển…

Đúng vậy. Song điều này không phải do sở muốn thế, mà do cách tính điểm ưu tiên. Hiện nay, con thương binh được cộng 30 điểm, còn loại giỏi chỉ được cộng 10 điểm. Giả sử, sinh viên A có điểm tổng kết 7,1 (loại khá) thì nhân với hệ số sẽ là 142 điểm, còn tốt nghiệp 8,0 (loại giỏi) sẽ là 160 điểm. Nếu cộng điểm ưu tiên thì người loại khá sẽ trúng tuyển, loại giỏi nếu không được cộng điểm ưu tiên sẽ không được tuyển dụng.

Chuyện này nghe rất phi lý… Tại sao chủ trương này lại vẫn được áp dụng?

Đây chính là điều chúng tôi rất băn khoăn. Tôi cũng đã trao đổi với Lãnh đạo Sở Nội vụ khi xây dựng quy chế tuyển dụng và xin được áp dụng theo Quyết định của UBND tỉnh Hà Tĩnh về thu hút nhân tài để tuyển người giỏi. Nếu cộng điểm ưu tiên đối với con thương binh thì phải theo từng hạng, để có cách cộng điểm khác nhau, ví dụ: con thương binh hạng đặc biệt cộng 30 điểm, các hạng khác sẽ là 20 điểm, 10 điểm. Sở Nội vụ cũng phát hiện được những chỗ bất hợp lý đó song vẫn giữ quan điểm phải thực hiện theo quy định của Bộ Nội vụ.

Ông có thấy lo ngại vì tình trạng này không?

Thực sự chúng tôi rất băn khoăn về cách tính điểm ưu tiên như vậy. Nếu không sửa thì việc người khá, giỏi ít có cơ hội được tuyển hơn so với đối tượng trung bình, trung bình khá là sự thực.
Tôi cho rằng, ưu tiên đối tượng chính sách là đúng. Tuy nhiên, mức độ ưu tiên không tạo khoảng cách quá lớn. Giả sử như hai người có điểm bình quân ngang nhau thì tuyển con đối tượng chính sách trước. Còn nếu có sự chênh lệch lớn về học lực, về mức điểm mà được tuyển do chính sách ưu tiên thì ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng đào tạo.

Vậy sao không sửa?

Năm nay nghe nói sẽ sửa bằng cách nâng tổng điểm lên khoảng 400 điểm. Như vậy, số điểm ưu tiên 30 điểm cho con thương binh sẽ chiếm tỷ trọng nhỏ hơn. Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có văn bản cụ thể. Chúng tôi rất mong các cấp có thẩm quyền có sự điều chỉnh phù hợp.

Lý giải chuyện “chạy” biên chế

Lâu nay dư luận Hà Tĩnh vẫn nói nhiều về việc “chạy biên chế” giáo viên vào các trường. Là người đứng đầu ngành giáo dục Hà Tĩnh, ông nhận xét thế nào về tình trạng này?

Dư luận là điều khó tránh khỏi. Có điều tính chính xác, trung thực của dư luận cần phải được tìm hiểu một cách xác thực. Hiện nay, cung về giáo viên vượt xa cầu. Hàng năm, chúng tôi tuyển rất ít so với số hồ sơ các em nộp vào đây. Số được tuyển, chắc chắn có nhiều niềm vui, số chưa được tuyển không thể không có những băn khoăn, mong mỏi, thậm chí có thể có người hiểu chưa thực đúng bản chất vấn đề.

Như vậy, có thể hiểu là vẫn có chuyện “chạy biên chế” như dư luận nói?

Điều này thì tôi có thể khẳng định chắc chắn là ở Sở GD&ĐT Hà Tĩnh không có và không thể làm được. Việc tuyển dụng hằng năm được tổ chức công khai, đảm bảo quy trình từ việc thông báo quy chế, thời gian nộp hồ sơ, chỉ tiêu các bộ môn, danh sách những người dự tuyển, kèm theo kết quả xét tuyển, thông báo trúng tuyển bằng cách niêm yết và đăng trên báo.
Trước khi các em trúng tuyển nhận quyết định về các trường, chúng tôi niêm yết công khai danh sách để nhận thông tin phản hồi. Nhiều khi, số tiền thu được từ nhận hồ sơ không đủ chi phí đăng báo nhưng chúng tôi vẫn phải làm để đảm bảo sự minh bạch.

Nhưng, không có lửa làm sao có khói?

Như tôi đã nói, tình trạng cung và cầu có sự chênh lệch quá lớn, nhất là một số bộ môn như: Chính trị – Giáo dục công dân, Lịch sử, Ngữ văn, Địa lý số lượng đăng ký quá nhiều trong khi chỉ tiêu được tuyển rất ít, nên phần lớn sinh viên ở các bộ môn đó rất ít cơ hội được tuyển.
Thực tế đã có rất nhiều em nộp hồ sơ liên tục trong 5, 6 năm gần đây vẫn chưa được tuyển. Trước thực tế đó, đã xuất hiện một số “cò” nhằm lừa đảo những người nhẹ dạ để làm tiền bất chính và chúng tôi cũng được biết không ít em bị lừa, bị mất tiền do sự cả tin, thiếu cảnh giác của mình.

Tức là “đổ oan” cho Sở GD&ĐT?

Hội đồng xét tuyển giáo viên gồm có lãnh đạo UBND tỉnh, Sở Nội vụ, Sở GD&ĐT (những năm đang là Hội đồng cấp tỉnh) và hiện nay là Sở và các huyện, thị, thành phố, quá trình xét tuyển cộng điểm ưu tiên theo quy định, lấy từ trên xuống và hoàn toàn công khai. Vậy thì làm sao chạy được? Tôi dám khẳng định là khó nơi nào công khai minh bạch trong tuyển dụng giáo viên như Hà Tĩnh đã và đang làm!

Có thông tin phản hồi tới chúng tôi, giả sử biên chế cần lấy 15 người thì ban đầu Sở chỉ thông báo lấy 5, sau đó cứ gọi thêm dần, những người gọi thêm phải “chạy”?

Việc gọi thêm là do có người gọi mà không đi hoặc có nơi báo về cần bổ sung giáo viên. Chúng tôi gọi thêm trên cơ sở lấy từ trên xuống từ kết quả xét tuyển đã công bố công khai trước đó. Ví dụ như ban đầu gọi 3 em, sau đó cần lấy thêm 2 em nữa thì sẽ gọi em thứ 4 và thứ 5. Việc này cũng được thông báo công khai. Chúng tôi không thể bỏ qua em thứ 5 để lấy thứ 6 hoặc 7… Vậy thì làm sao phải “chạy” và sao mà “chạy” được?

Xin đừng nghe “cò”

Sở có nghe thông tin về việc “chạy biên chế” không?

Có! Năm ngoái chúng tôi quyết định lấy thêm một số giáo viên các bộ môn do nhu cầu thay thế số nghỉ hưu, số sinh viên không nhận công tác và đã có hiện tượng lừa đảo, cho rằng nhờ mình nên mới có quyết định của người này, người khác, quá trình “chạy” phải mất hàng chục triệu đồng kèm theo các khoản hàng triệu đồng mời ăn uống.
Chúng tôi đã sớm phát hiện và vạch rõ chân tướng của vụ việc, cho đến khi người bị hại nhận lại số tiền đã trao cho “cò”, sở mới cho tiếp tục công tác (hiện giáo viên này đang công tác tại một TTGDTX ).

Ông có thể nói rõ hơn không?

Sự việc là thế này, khi chúng tôi xác minh thì được biết, bà mẹ cô này bán nước ven đường, có kể lại hoàn cảnh với một người khách về việc khó xin việc cho con.
Người này hứa là sẽ giúp với điều kiện là phải lo tiền. Khi nắm được thông tin, chúng tôi đã yêu cầu gia đình về đòi lại tiền thì mới trao quyết định. Nếu không kiên quyết như vậy, gia đình sẽ đặt vào chuyện đã rồi, tiền mất và những dị nghị vẫn còn, các loại “cò” không bị vạch chân tướng.

Vậy còn chuyện “cảm ơn” sau khi trúng tuyển thì sao thưa ông?

Theo tôi nghĩ, không ai đặt ra chuyện đó bởi mọi chuyện được thực hiện công khai, minh bạch. Chúng tôi chủ trương, khi phân công công tác thì cố gắng để các em ở gần nhà nếu nơi đó có biên chế, không để đi quá xa khi tại các địa phương các em không còn biên chế và cũng công khai với các em điều này.

Trân trọng cảm ơn ông đã thẳng thắn trả lời.

“Nếu cộng điểm ưu tiên như hiện nay thì người loại khá sẽ trúng tuyển, loại giỏi nếu không được cộng điểm ưu tiên sẽ không được tuyển dụng”.

Yên Lam (thực hiện)
____________________________________________________

Posted in Chuyện giáo dục, Giáo dục Việt Nam | Tagged: , , , | Leave a Comment »

Dự báo động đất và chuyện xây nhà máy điện hạt nhân

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Sáu 25, 2010

Lan Hoa

– Khi trận động đất mạnh 4,7 độ richter xảy ra ngày 23/6 ở vùng biển ngoài khơi Phan Thiết (Bình Thuận) nhiều người mới đặt câu hỏi, liệu nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận nằm ngay đó và sau này là thêm 8 địa điểm xây dựng nhà máy điện hạt nhân mới liệu có an toàn trước các hiện tượng thiên tai như bão, sóng thần, động đất…

TS Lê Huy Minh – Giám đốc Trung tâm Báo tin Động đất và Cảnh báo Sóng thần (Viện Vật lý địa cầu) – khẳng định, khu vực xây dựng nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận hoàn toàn bình yên trước trận động đất 4,7 độ richter ngày 23/6.

TS Lê Huy Minh giải thích thêm, nhà máy điện hạt nhân là một công trình lớn. Khi thiết kế xây dựng, các nhà khoa học đã có những khảo sát đánh giá rất kỹ lưỡng về mặt địa chất, khả năng xảy ra động đất của khu vực xây dựng cũng như khả năng bị ảnh hưởng bởi động đất, sóng thần từ nơi khác lan đến.

“Hiện chúng ta chưa thể dự báo trước được thời gian xảy ra động đất và địa điểm chính xác nơi xảy ra động đất. Tuy nhiên, dựa trên các kết quả nghiên cứu, các nhà khoa học cũng có thể khoanh vùng được các vùng, khu vực có nguy cơ xảy ra động đất.

Đối với nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận, chính Viện Vật lý Địa cầu cũng được mời tham gia vào việc khảo sát khu vực này. Việc khảo sát không chỉ dừng lại ở việc đánh giá nền đất, địa chất, đánh giá khả năng xảy ra động đất ở khu vực này mà điều quan trọng không kém là còn đánh giá được khả năng bị ảnh hưởng bởi động đất từ các nơi khác lan đến”.

Dựa vào các đánh giá toàn diện, người ta sẽ xây dựng các tiêu chuẩn kháng chấn khi xây dựng nhằm đảm bảo tuyệt đối an toàn cho nhà máy điện hạt nhân.

Liên quan đến 8 địa điểm xây dựng nhà máy điện hạt nhân tại 5 tỉnh: Ninh Thuận, Bình Định, Phú Yên, Hà Tĩnh, Quảng Ngãi vừa được Thủ tướng phê duyệt, TS Lê Huy Minh cho biết, cũng giống như địa điểm xây dựng nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận, các địa điểm mới này cũng sẽ được các nhà khoa học tiến hành khảo sát, đánh giá toàn diện.

TS Vương Hữu Tấn, Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam, cũng khẳng định thêm: “Không nên quá lo lắng trước vấn đề này. Trước khi xây dựng sẽ có những tính toán để đưa ra kháng chấn đảm bảo an toàn cho nhà máy điện hạt nhân trước các thảm họa động đất, sóng thần. Nhật Bản là nước có nhiều động đất. Nhưng người ta cũng vẫn có nhà máy điện hạt nhân.

Điều quan trọng là phải lựa chọn địa điểm phù hợp và tính toán đến khả năng kháng chấn khi xây dựng công trình. Một khi chúng ta tuân thủ nghiêm túc các quy định của quốc tế đối với xây dựng nhà máy điện hạt nhân, khả năng xảy ra các rủi ro sẽ được giảm xuống mức tối đa”.

___________________________________________________________________

Posted in Chuyện môi trường, Chuyện đất nước, Khoa học & Công nghệ, Kinh tế | Tagged: , , , | Leave a Comment »

Mua “bằng cấp” xuyên quốc gia và lời…cơ chế

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Sáu 25, 2010

Kim Dung

Câu chuyện làm TS của ông Nguyễn Ngọc Ân đã không còn là chuyện lạ. Nó chỉ là trái đắng của một cái cây, mà gốc rễ từ lâu, đã không bình thường.

Nói thật, trong xã hội hiện nay, từ lâu người ta đã quá quen và cũng quá…chán ngán về những vụ việc gian lận trong học vấn và thi cử: Đạo văn, mua điểm, bán điểm, và nhất là học rởm, bằng dỏm, hoặc học rởm, bằng thật… Thế nhưng nếu những vụ việc ấy lại xảy ra ở các quan chức có trách nhiệm, đầu ngành, đầu tỉnh…thì hệ lụy và tai tiếng của chuyện dối gian sẽ loang xa và di hại rất nhiều, khiến dân mất lòng tin, và hơn nữa, dân sẽ coi thường cả tư cách, phẩm hạnh, coi thường cả phép nước.

Lời của con người…

Đó cũng là câu chuyện xảy ra gần mấy tuần nay ở tỉnh Phú Thọ. Trung tâm của câu chuyện gây xôn xao là ông Nguyễn Ngọc Ân, Giám đốc Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch Phú Thọ vừa có học vị tiến sĩ, với đề tài: “Vấn đề di sản văn hóa với việc phát triển kinh tế du lịch tỉnh Phú Thọ”.

Chuyện sẽ “chẳng có gì mà ầm ĩ thế”, nếu như dân tình trong tỉnh không nhiều người biết, trước đó ông Ân chỉ là cử nhân tại chức kinh tế- quốc dân khóa 24 (được tổ chức tại TP Việt Trì).

Xưa nay, ngay cả ngành GD cũng thừa nhận chất lượng của hệ đào tạo này chưa ổn, thậm chí dân gian còn ví von hài hước: “Dốt như chuyên tu…”, nhất là những khóa đào tạo kiểu này đặt tại cơ sở.

Đùng một cái, ông Ân trở thành TS kinh tế quản trị kinh doanh của Trường ĐH Nam Thái Bình Dương (Mỹ). Việc ông bảo vệ luận án do do Viện Kinh tế (Bộ Tài Chính) giới thiệu, và có tỉnh Phú Thọ hỗ trợ kinh phí.

Dư luận xôn xao, bởi cách ông Ân làm NCS không bình thường. Theo chính ông nói: Trong thời gian làm TS (tháng 2-2007 đến tháng 9-2009), ông sang trường ĐH này học hai đợt, mỗi đợt một tuần để nghe giảng tiếng Anh (có người phiên dịch sang tiếng Việt). Ngay cả khi bảo vệ luận án, cũng có người dịch cho ông từ đầu đến cuối. Trường ĐH Nam Thái Bình Dương không yêu cầu những NCS như ông phải biết tiếng Anh, không phải thi đầu vào (?), mà chỉ cần gửi đề cương sang cho họ chỉnh sửa là được.

Điều ngạc nhiên, tuy hỗ trợ kinh phí, nhưng ngay một vị lãnh đạo của tỉnh Phú Thọ cũng thừa nhận, quy trình đào tạo để trở thành TS của ông Ân “có vấn đề”. Vì theo quy chế của Bộ GD và ĐT, NCS phải có bằng thạc sĩ, hoặc tốt nghiệp ĐH chính quy loại khá trở lên… Và một điều kiện bắt buộc, phải có trình độ ngoại ngữ nhất định để tham khảo tài liệu, tham gia hoạt động quốc tế và chuyên môn phục vụ nghiên cứu khoa học, thực hiện đề tài luận án.

Cũng không chỉ có một mình ông Ân, hiện có khoảng chục cán bộ của các địa phương cũng được đào tạo TS kiểu này (!)

Chưa cần nói đến thời gian đầu tư thực chất, các quy trình… chỉ cần đối chiếu với 2 tiêu chuẩn quy định đầu tiên mang tính chất bắt buộc, đó là tốt nghiệp ĐH chính quy loại khá trở lên, đủ trình độ ngoại ngữ để tham khảo tài liệu, cũng thấy ông Ân chưa đạt yêu cầu.

Nhưng điều đáng ngạc nhiên hơn nữa, là cách hành xử của tỉnh Phú Thọ: Biết cán bộ “có vấn đề”, nhưng vẫn tiếp tay! Vì lý do gì: Vì nể nang, vì ông Ân đã nằm trong đội ngũ được “quy hoạch” từ trước, hay còn vì lý do gì khó nói?….

Ngay sau khi thông tin về học vị TS của ông Ân xôn xao trong nước, trong bài viết mới đây: “Nhu cầu dẫn đến bằng giả từ trường dỏm”, GS Nguyễn Văn Tuấn (Úc), người trước đó đã ngay lập tức tìm kiếm thông tin, khẳng định: “Trường ĐH Nam Thái Bình Dương không phải là một ĐH, mà chỉ là một cơ sở thương mại, buôn bán bằng cấp cho những ai có nhu cầu…Tuy nó đặt ở Hawaii, nhưng gốc gác lại ở tận…Malaysia. Và đã bị…giải thể từ ngày 28/10/2003(!).

Mặc dù, GS Nguyễn Văn Tuấn cho rằng đây là trường hợp “bằng giả, trường dỏm”, người viết bài này không có ý đưa ra một khẳng định gì về cái bằng và Trường ĐH nơi ông Ân đươc cấp bằng TS.
Điều này, chỉ chính ông Ân hiểu rõ hơn ai hết.

Nhưng xin được giả định, nếu GS Nguyễn Văn Tuấn có sự nhầm lẫn, và trường ĐH nơi ông Ân làm NCS là trường ĐH thực chất, thì ông Ân vẫn vi phạm quy chế do Bộ GD và ĐT đề ra. Liệu cái bằng TS do biết cách “nhào lộn” đó có còn mấy giá trị? Và đâu là phẩm cách, là đạo đức trung thực của người cán bộ lãnh đạo ngành văn hóa của một tỉnh có “Đế Đô”?

Còn nếu như trường ĐH đó, lại chính là trưởng “dỏm” như phân tích của GS Tuấn, thì quả thật, tấm bằng TS đó chẳng có giá trị gì. Ông Ân đã bị lừa, hoặc chính ông cố tình để cho mình “bị lừa”!

Và lời của…cơ chế

Mọi chuyện về tấm bằng tiến sĩ của ông Nguyễn Ngọc Ân, mới chỉ là dư luận xã hội nghi vấn, chưa có kết luận gì của cơ quan quản lý cao nhất – Tỉnh ủy, UBND tỉnh Phú Thọ.

Thế nhưng, câu chuyện làm TS của ông Nguyễn Ngọc Ân đã không còn là chuyện lạ. Nó chỉ là trái đắng của một cái cây, mà gốc rễ từ lâu, đã không bình thường.

Hãy thử nhìn vào cái cây ấy – xã hội và cơ chế quản lý xã hội hiện nay.

Nền GD của chúng ta, về bản chất vẫn là nền GD hư danh, một nền GD “hư học”. Với nền GD “hư học” ấy, trẻ em, thanh niên đi học cần “cái bằng” để làm quan, chứ không phải để “làm việc”. Cánh cửa ĐH vẫn là cánh cửa duy nhất và đầu tiên để họ tiến thân

Và cơ chế xã hội, cha sinh – mẹ đẻ của nền GD “hư học” ấy, tuy không biết nói tiếng nói của con người, nhưng cơ chế đó nó lại “biết nói” bằng tiếng nói riêng của mình – những quy chuẩn, tiêu chuẩn cán bộ chính nó định ra, phục vụ cho hệ thống công quyền. Đương nhiên càng ở các vị trí lãnh đạo, trình độ con người ta càng phải nâng cao, và được quy chuẩn duy nhất bằng cái “bằng cấp”: Chuyên môn thì Thạc sĩ, TS, chính trị thì lý luận trung cấp, cao cấp…v .v.. và v..v..

Những quy chuẩn đó, về hình thức, không sai, và tưởng như là đòi hỏi rất có lý về năng lực, phẩm chất cán bộ để “ngang tầm nhiệm vụ”. Vì thế mới có chuyện Thủ đô Hà Nội từng có ý định đòi 100% cán bộ cốt cán phải có bằng tiến sĩ (!)

Nhưng thực chất, gắn với cách tuyển chọn, sử dụng, quy hoạch cán bộ như lâu nay, quy chuẩn “bằng cấp” đó lại rất hình thức, hời hợt. Nó đã không còn là sự khuyến khích con người ta phải có động lực rèn tài năng, phẩm hạnh đích thực. Vô tình còn là mảnh đất mầu mỡ để cho gian dối nở hoa, kết trái, để cho sự biến chất của phẩm cách, lương tâm. Bởi tự lúc nào, bằng cấp là cái đòn bẩy của bậc thang danh vọng.

Đã có bao nhiêu vụ bằng rởm, “học rởm bằng thật” bị phát hiện? Không thể thống kê hết, vì con đường tìm kiếm “bằng cấp” với mọi giá, xem ra lại là con đường được không ít người ham hố còn tiếp tục muốn đặt chân lên. Chắc chắn trên con đường ngắn nhưng đầy biếm nhục này ông Ân không phải là lữ khách cuối cùng.

Bằng cấp không kiếm được bằng năng lực trí tuệ, thì có thể kiếm bằng tiền, bằng rất nhiều tiền. Bằng cấp mua trong nước không có “tên tuổi” lắm, không “oai” lắm, thì có thể mua ngoài nước, xuyên đại dương, xuyên quốc gia.

Vì vậy, chuyện kiếm bằng cấp TS theo kiểu của ông Nguyễn Ngọc Ân không phải là trường hợp cá biệt, mà là chuyện, đáng buồn thay, phổ biến trong xã hội hiện nay.

Ông Ân có thể cảm thấy rất xấu hổ, nếu ông còn có lòng tự trọng. Nhưng có nhiều cán bộ, kiếm bằng cấp theo kiểu “tắt” như thế này, thì cơ chế xã hội có nên day dứt? Bởi phải chăng, với những thang bậc giá trị thực ảo, trắng đen lẫn lộn, cơ chế xã hội hiện nay, đã khiến không ít người như ông Ân tự nguyện làm những việc “phi văn hóa” trong cái guồng quay tham vọng chóng mặt. Nếu không có sự cố ồn ào này, liệu ông Ân và còn biết bao quan chức cùng “cảnh ngộ” như ông có biết điểm dừng?

Và nếu cơ chế này biết… “nói” tiếng người, nó sẽ nói gì nhỉ. Hay chính nó cũng phải thú nhận: Đã đến lúc cần thực sự phải đổi mới?

_________________________________________________

Posted in Giáo dục Việt Nam | Tagged: , , | Leave a Comment »

Nước như nước mắt

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Sáu 24, 2010

Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tư

Đừng sợ hãi, dù vì nó mà người ta sống, chết… (*)

1

Chồng Sáo chết vì mấy lá ngò gai.

2

Nhà chức trách nói rằng họ đang tìm sự thật nhưng có thể chồng Sáo đã lẻn lên bè rẫy Đại Thanh trộm tài sản của họ, lúc người ta bắt gặp đã xảy ra xô xát nhỏ, anh lao xuống sông định trốn, chết nước là chuyện rủi ro không ai ngờ… “Những người đầu tiên trông thấy xác chồng cô đều chứng kiến trên tay anh ta còn cầm một sợi dây chuyền vàng đã đứt”, nhà chức trách bảo vậy. Sáo nói không phải đâu, anh Thi chồng tôi chỉ muốn lén hái vài lá ngò. Nhà chức trách hơi xẵng giọng, chúng tôi dựa trên nhiều bằng chứng quan trọng. Sáo cãi không phải đâu, chồng tôi cần có chút ngò gai thôi. Họ kiên nhẫn kêu vài nhân chứng tới nói mấy câu chuyện ngập ngừng.

Sáo cãi phăng đi. Ngay khi Sáo ôm xiết chồng đang nằm thõng thượt trên cái bàn dài đặt giữa văn phòng nhà chức trách, ngay khi nó vùi mặt mình vào cơ thể lạnh lẽo chi chít những chỗ tím bầm, ràn rụa tìm kiếm hơi thở của anh núp trốn đâu đó, trong rún, trong mắt hay ở bên sườn. Khi lướt qua đôi môi dập nát nó nghe phảng phất mùi ngò gai. Trời đất ơi, chồng nó đã nhấm nháp thưởng thức mùi vị chúng ngay khi vừa hái được. Anh vẫn chưa nuốt trôi khỏi cổ, ý nghĩ đó làm nó nghẹt thở. Người ta đang nhâm nhi ngò gai thì không ngó ngàng tới vàng bạc đâu, Sáo nói và xốc ôm chồng tha về ghe.

Dưới sạp ghe hai con cá Bạc Đầu đã chết. Cặp cá này sáu tiếng đồng hồ trước vợ chồng Sáo giăng lưới bắt được. Cá bị nước đuổi ốm tong teo nhưng chồng Sáo sướng quên trời đất, và như con nít, anh đứng múa may quay cuồng ở đầu ghe, kêu hết sẩy hết sẩy, nói phước đức ông bà để lại. Chưa bao giờ Sáo thấy anh hạnh phúc, hân hoan đến vậy, đến nỗi nó đã chạnh lòng ngay lúc đó, anh đâu có từng tỏ ra quý mình như quý cặp cá này.

Cá Bạc Đầu luôn đi thành đôi, là loại cá rất hiếm hoi. Sục sạo như chồng Sáo cũng chỉ một lần thấy chúng. Má chồng Sáo hồi còn sống thường thắt thẻo nói vợ chồng nào hiếm muộn con cái nuốt mật cặp cá Bạc Đầu thể nào cũng cấn thai. Bà hay ngồi ở cửa trước hóng coi trẻ con bên xóm đang chạy giỡn, tiếng thở dài của bà lửng thửng bay về phía Sáo nhoi nhói. Chồng Sáo cà rỡn, “bắt được cá Bạc Đầu rồi vợ con sanh một lần bảy đứa, cho má giữ mệt nghỉ…”. Má chồng không chờ được, lúc bà chết bên vách vẫn còn giắt mớ vỏ tỏi – thứ đàn bà đẻ dùng để xông da thịt cho thơm. Chồng Sáo vẫn phấn khích quăng chài xuống sông Sắc nuôi hy vọng, không hoàn toàn vì khao khát trẻ con. Chồng Sáo đã được ăn cá một lần hồi mười lăm tuổi mà mỗi khi anh nhắc lại nồi canh cá nấu mẳn, Sáo lại thấy nước miếng rỉ ra rưng rưng bên mép anh. Người Châu Thổ hay nói, bắt tao tả đau bụng đẻ ra làm sao chẳng khác nào kêu tả mùi vị con cá Bạc Đầu, tức là chẳng thể chia sẻ cảm giác với người khác nếu họ không tự mình trải qua. Sách “Bi ký” chép lại, năm 813 đã có một làng chài lưới bị tàn sát vì giữ lại cá Bạc Đầu mà không cống nộp cho vua. Một trăm ba mươi bốn người trong làng đã chết. Ba chồng Sáo quý cuốn sách đó như một gia tài nhưng nhà nó đã làm mất vào một bữa nước đột ngột dâng.

Giờ con cá của những đồn đãi, con cá huyền thoại, con cá vì nó mà người ta sống, chết đang nằm trong ghe nhà Sáo, đuôi màu xám đậm rồi phai dần cho đến phần đầu thì trắng muốt tựa bông lau chín. Cái chết cận kề không làm cho chúng thôi quấn quýt. Chúng chạm râu vào nhau khẽ khàng, như âu yếm như đờ đẫn, như dịu dàng lại như kiệt sức. Phải, nước đuổi đã quá hai tháng rồi, đến con người cũng phờ phạc bạc đi.

3

Mùa nước đuổi bắt đầu từ giữa tháng Giêng. Ngó nước bắt đầu linh đinh bờ bãi, người ở xóm Rẫy thở dài ứ hự, chắc năm sau ăn Tết trên ghe.

Cứ mỗi năm nước đuổi lại tới sớm hơn, mùa mỗi năm mỗi dài hơn. Tết chưa tàn vợ chồng Sáo đã lụi hụi dọn đồ đạc lên ghe, bông vạn thọ trồng trong cái khạp lủng để trước hàng ba còn chưa bung nở hết. Chồng Sáo cứ tiếc là ghe chật quá, không rinh cái khạp đó đem theo được.

Anh còn muốn bứng cả cây cỏ quanh nhà theo, nếu có thể. Nên trên ghe lủ khủ những bụi hành hẹ, sả, vài cây ớt, ít hẹ, ngò om… Mấy thứ cỏn con này hay làm chồng Sáo bận lòng, ăn cá chốt nấu cơm mẻ mà thiếu sả ớt, cá trê nướng mà không gừng… là anh băn khoăn lắm. Anh nói thà không ăn, chứ ăn vầy không đúng điệu.

Chồng Sáo ưa nói hai từ đúng điệu. Coi kìa, đêm nay trời trong nhưng trăng tròn quá nhìn không đúng điệu, phải khuyết chút ngó hay hơn. Nắng vầy mà có bóng cây để treo võng nằm chơi là đúng điệu. Con lá lóc này phải có rơm khô chất lên đốt nướng trui mới đúng điệu. Sống giữa trời nước bao la vầy mà không có nước để tắm cho đúng điệu, nghĩ mà tức.

Sáo nhớ chồng nó nói câu đó khi đang ngồi ểnh ra, se miết mấy ngón tay da cổ làm đất rụng xuống lả tả. Gọi là tắm khô, kỳ cọ bằng mồ hôi xong sẽ tắm ướt bằng hai gàu nước. Nhưng có bữa chồng Sáo tắm cả xô, tắm đúng điệu. Chữ đúng điệu nhiều lúc làm Sáo sợ. Nhất là khi nghe bảo “em nằm day lại tui gãi cho đúng điệu cái coi”. Đêm nào trước lúc ăn nằm với nhau bao giờ chồng cũng gãi lưng Sáo, trong một trình tự lớp lang đúng điệu, bắt đầu từ lúc những ngón chân cọ vào bắp chân Sáo, sau đó này sau đó kia, anh nhẩn nha đến nỗi nó thiu thiu ngủ luôn bỗng nghe cái gì đó xộc tới chới với. Nó không thích vậy nhưng không dám nói, biết đâu vì cái khoảnh khắc chới với đó mà trẻ con không chịu ra đời.

Sáo còn hồ nghi vì hai chữ đúng điệu mà nhà nó nghèo. Gieo mấy giồng cải, chồng Sáo nói lá cải chưa mướt mà nhổ bán là không đúng điệu, nhưng chờ tới lứa cào cào ở đâu bay lại ăn đám rau rách nát. Có năm trồng dưa hấu, thấy dưa lớn trái lại đang được giá Sáo đòi bán cho thương lái. Chồng bảo chờ cho dưa chín thêm ít nữa, cho da trái dưa căng bóng mới đúng điệu. Ai ngờ trời trở mưa một trận, không kịp cắt dây dưa nổ lụp bụp như pháo, nứt vỏ hết. Trắng tay.

Mùa đó là mùa dưa cuối cùng trên đất nhà Sáo. Năm sau nước đuổi tới nơi, cứ nghĩ nước tràn quanh quẩn những vùng gần biển thôi, nhưng nước theo sông ngày càng vào sâu hơn, tràn bờ bãi, ngấm vào chân ruộng. Người ta kéo nhau đi đào đất đắp bờ, nhưng đắp tới đâu nước theo tới đó, cơi nhà tới đâu nước ngập tới đó, không lẽ ở trên mái nhà, thôi kéo nhau lên ghe ở cho rồi. Cây trái tàn rụi, chỉ còn cỏ Đuôi Mèo là sống được, đem bán rẻ mạt cho những người chăn nuôi bò ở bên kia biên giới, chẳng được bao nhiêu tiền.

Chồng Sáo không lấy chuyện đó làm phiền, cả khi ôm cái lư hương cha mẹ rút lên ghe chờ qua mùa nước đuổi, anh vẫn làm mặt tỉnh queo. Cả xứ này bỏ đất mà đi chớ đâu phải chỉ nhà mình, chồng Sáo nói vậy. Chỉ một lần duy nhất chợt thèm ớt giữa bữa cơm, mà cây ớt đem theo đã chết queo, anh mới dựng đũa kêu trời.

Trời im ắng ở trên cao, trong ngằn ngặt, trong như nước mắt. Nắng quay quắt như vắt như vo con người thành những hòn đá khô khốc có thể lăn cọc cạch. Vợ chồng Sáo neo ghe ngay trên đất vườn mình, cạnh mái nhà mình, lây lất sống nhờ chài lưới những con cá nước đục còn sót lại ốm ròm trên mình đầy ghẻ lở… sau đó thì tới đám cá nước trong len lỏi vào sâu trong đất liền, hai đứa kiếm được chút đỉnh tiền gạo và không đến nỗi cực ăn. Nhưng có bữa chỉ bắt được cá Sầu Ngư, đành ăn cơm với muối hột.

Sầu Ngư bình thường vẩy màu xám bạc chỉ nhẩn nha ăn bèo rong trôi dạt, đến nước đuổi thân cá trở nên đỏ thẫm. Chúng có thể sống tỉnh queo nhờ rỉa xác súc vật chết trôi, trong đó có cả xác người. Chồng Sáo vừa ghét vừa ghê sợ chúng, anh xỉa xói, “Cái thứ ham sống tới nỗi bất chấp tội lỗi…”. Sáo mắc cười quá, mắng cá mà như mắng người.

Sáo đâu có ngờ có ngày mình phải bảo vệ chồng khỏi miệng cá Sầu Ngư.

4

Chồng Sáo ốm teo, nằm gọn đeo trong cái hòm được ghép tạm bằng mấy tấm ván ngựa xóm giềng giúp mò lấy từ dưới nhà lên. Lúc lau rửa cho chồng, men tay theo từng tấc thịt da dường như đang tan chảy Sáo thấy buồn quá. Không thể chôn xuống đất, người ta bày cách dìm hòm xuống nước, lấy dây buộc níu vô cột nhà, chờ nước rút mới đem âm thổ. Vị mặn của nước ngấm vào sẽ làm chồng Sáo lâu tàn rữa, họ nói vậy.

Xóm giềng lặng lẽ tiễn chồng Sáo. Cũng mệt mỏi và đuối sức như những con cá nước đục khắc khoải sống với cái vị mặn mòi xa xót của biển, họ chới với khi bị bứng lìa khỏi đất, khỏi cái màu xanh rười rượi của cỏ cây. Cả cái chết cũng không phải xa lạ, nó diễn ra mỗi ngày, người ta chết đuối, chết vì khát, vì thèm tắm, vì nhớ vị của trái ổi chát, vì giành nhau cành củi trôi sông…

Riêng chồng Sáo thì chết vì thèm rau. Hàng xóm bảo, không phải, nó chết vì nghèo đó chớ. Vì nghèo nên không đi ra khỏi cái xứ trần ai này được. Vì nghèo nên phải bỏ mạng vì gặp phải bọn cậy giàu coi sinh mệnh người như cỏ rác. Bứt mấy cọng ngò thôi mà, có phải thù oán gì cho lắm đâu mà nhẫn tâm quá thể? Sáo cũng muốn đi hỏi người của bè rau Đại Thanh câu đó. Sao vậy, tại sao, vì sao?

– Thời thế loạn rồi, đất không còn thì có thứ gì còn.

Ông bán xôi dạo thở hắt ứ hự. Ông nói bữa trước đi ngang bè rau nghe có tiếng kêu cứu, nghe trên đó rầy sao mầy không chết đi, sống làm chi mà làm khổ người ta. Không biết “người ta” là ai, mắc mớ gì tới cái bọn sống sung sướng trên cái bè rau đó.

Sáo nghe xong tưởng trong lồng ngực có thứ gì vừa đứt phựt, nó hức lên, anh ơi sao anh tới chỗ đó mà chết. Ủa, vậy chồng mình chết chỗ khác thì mình đỡ đau lòng hơn sao? Sáo giật mình nghĩ vậy khi vừa khóc dứt. Trong nỗi ân hận Sáo ngồi dựa vách ghe, mong xóm giềng cứ ngồi chơi, nếu không muốn nhắc tới chồng nó thì cứ nói chuyện bâng quơ, chuyện những vùng đất cao cẳng xa xôi nước biển không bao giờ đuổi tới, chuyện ở đâu đó con chó đẻ ra con dê, cây dừa có chín đọt… Hoặc họ không nói gì cũng được, ca hát cũng được… Nhưng họ phải về, phải sống. Cuối buổi sáng là nhà chức trách xả nước ngọt ở các máy nước công cộng, không kịp chèo ghe đi lấy sẽ không có nước nấu cơm, tắm giặt…

Sáo chỉ còn một mình.

Một mình.

Sáo lết đi bắc xoong cơm lên bếp lửa. Cảm thấy tay áo giở lên còn không nổi. Bụng không đói miệng thì đắng nhưng Sáo phải ăn, để chờ người ta trả lời tại sao chồng nó chết. Đợi chán Sáo lại chèo ghe tới chỗ nhà chức trách thăm chừng, khi thì thấy vài anh say sưa chơi cờ, khi thì thấy một anh ngủ gục bên bàn làm việc kệ ruồi o e trên mép. Hỏi thì họ chưng hửng nói cô còn đợi sự thật nào? Như thể có rất nhiều sự thật nằm nhấp nhổm trong ngăn kéo, và họ đang chọn một cái sự thật hợp với tướng tá xơ rơ, túi áo lép kẹp của Sáo.

Hơi thất vọng, Sáo chèo trong chảo nắng mặn trở về, bỗng nín thở nhìn thấy cái lưng dài nhằng của chồng mình trên mái nhà. Em chồng Sáo mang nó về, cả đôi chân mày rậm. Nó thảng thốt hỏi chị Hai làm gì vậy. Sáo nói chị đâu có làm gì. Trời ơi chị xởn tóc chị xơ cờ kìa.

Em chồng nhìn Sáo như thể kêu Sáo nín đi, như thể Sáo xởn tóc là một cách khóc. Sáo chỉ gượng cười rồi luýnh quýnh đi nấu cơm cho em chồng ăn, bận bịu làm sự sống quay trở lại trong nó. Sáo đã quen sống và làm lụng vì ai đó. Như bà nội Sáo vì thương chồng mà bơi xuồng đi cưới hai bà vợ bé cho chồng, như má Sáo vì chuộc chồng khỏi núi nợ ở trường gà mà phải bán hết đất lên ghe sống lênh đênh. Năm mười chín tuổi, nghe má ao ước “lúc chết được nằm trên đất của mình”, Sáo lấy chồng. Lấy người má nó chọn, lý do “thằng đó có tới chục ngoài công đất”. Sáo nhìn thấy chồng lần đầu khi anh đang ôm con gà tre đi trên đường, miệng ngậm vung vinh cọng cỏ mần trầu, nó tự hỏi đây sẽ là chồng mình sao? Lễ ăn trầu uống rượu rồi, chồng vỗ mông Sáo, nó lại hỏi đây là chồng mình sao? Hôm cưới nghe chồng phả hơi rượu nóng rực vô vành tai, vẫn hỏi chồng mình đó sao? Nhưng lúc Sáo cài khuy áo lại, ngó cái người đang lật ra ngủ queo đó, nó nghĩ đây là chồng mình. Nghẹn căng ứ mũi.

Má Sáo vui lắm, gói ghém mấy lễ, bà mua hai công đất dành để chôn. Nhờ con gái hiếu thảo mà thím đổi đời rồi, má giả đò vu vơ khoe với một khách thương hồ quen, không lâu sau, anh ta cũng lấy con gái nhà giàu dưới chợ.

Nước đuổi vào sâu Châu Thổ, đất – thứ mà vì nó mà Sáo lấy chồng – trở nên vô nghĩa, như cái tên xóm Rẫy mà còn cái rẫy nào đâu.

Giờ đến cả chồng, Sáo cũng làm mất.

Em chồng rút trong túi xách ra bộ đồ tây mới cáu đặt cạnh đôi dép da mà nó đã mua cho chồng Sáo từ năm trước. Món quà còn nguyên niêm mạc, chồng Sáo chưa đi lần nào, anh nói chờ kiếm có quần áo đẹp mặc cho đúng điệu. Có lần đi chợ gặp em chồng, Sáo kể, nó buột miệng chửi thề, “Má, thằng cha cầu kỳ quá, con nhà lính tính nhà quan…”. Giờ thì em chồng im lìm ngồi vuốt mớ đồ của anh nó. Bao giờ chồng nhập thổ, Sáo sẽ chôn chúng theo.

Ngó cái cảnh đợi công lý của Sáo, thằng em chồng cười khào, con dao bấm trên tay cứ lè lưỡi ra tanh tách, sáng quắc. Nó nói “công lý ở trong tay mình mà, chị Hai…”

Em chồng đi giang hồ từ nhỏ, lưng em giờ đã hai mươi hai cái thẹo, đó là những lần em thực thi công lý hay bị công lý của nhóm giang hồ khác thực thi lên. Không thẹo người ta không biết mình dân giang hồ, em khoe vậy, giống như ở chợ hay gắn chữ văn hóa cho người ta biết là có văn hóa vậy. Em chồng cũng thường khoe công lý của em nhanh hơn, luật của em công bằng, sòng phẳng hơn. Không tin không được, nhiều lần nó tìm lại những món đồ nhà Sáo bị trộm lấy đi, dù chúng đã bị thay hình đổi dạng, bị tháo rã ra bán đầu một nơi mình một nẻo. Nó còn dẫn thằng ăn trộm về biểu, “xin lỗi anh chị Hai tao, mầy !”, và thằng kia cun cút cúi đầu.

Nhưng đó chỉ là thằng trộm nhỏ thó hom hem, giờ em chồng Sáo sẽ đối đầu với một bè rau đông người lắm của. Em chồng đi rồi Sáo nóng ruột bồn chồn quá, như thể chỉ cần vo gạo rồi ôm cái nồi vào bụng, gạo sẽ sôi thành cơm. Mấy bữa sau nghe ở mấy máy nước công cộng người ta hể hả bàn tán, nói xe hơi của nhà Đại Thanh dưới chợ bị đập phá, tụi giang hồ còn đánh thuốc chết mấy con chó, tưới xăng định đốt biệt thự may mà nhà chức trách tiếp cứu kịp.

Bữa sau nữa, người ta rủ Sáo đi coi một bảo vệ của bè rau bị dìm chết. Sáo không đi, nó không chắc mình sẽ hả hê khi nhìn thi thể đó. Sáo sợ cái bàn lạnh ngắt giữa căn phòng lạnh ngắt, nơi hơi thở một con người bỗng dưng biến mất. Ở đó, biết đâu cũng có con đàn bà gột rửa da thịt chồng bằng nước mắt, mong gọi những hơi thở trở về.

Nhưng buổi tối hôm đó Sáo đã phải xuôi ghe tới văn phòng của nhà chức trách, vì em chồng Sáo. May phước, em chồng không nằm trên bàn mà bị trói gô, khiến cái lưng dài thượt gần như cuốn tròn lại. Sáo thở phào nhẹ nhỏm dù hoàn cảnh của thằng em hiện giờ rất cay đắng. Vậy mấy bữa qua Sáo đã bồn chồn lo lắng cho ai? Nó tự hỏi, người mướt mồ hôi lạnh. Ngó vẻ mặt đờ đẫn của Sáo, em chồng cố an ủi mà giọng nói cứ nghiến sít sìn sịt :

– Chị buồn con c. gì, tụi nó bắt tui như bắt cóc bỏ dĩa. Chỉ uổng là tui chưa kịp bẻ cổ thằng Giang.

Câu nói làm Sáo rúm ró. Sáo biết người đàn ông tên Giang đó, lầm lì ít nói, da ngăm đen mắt sâu, hai bàn tay đều chai. Và tóc gội sương gió cứng đến nỗi nếu ai đó để anh ta gối đầu lên đùi, họ sẽ nghe vừa nhột ran vừa đau nhoi nhói. Người đó đã từng hiền lắm, ngập ngừng mãi mới dám nắm bàn tay con gái, nhưng theo lời em chồng Sáo thì giờ anh ta đã đổi thay quay quắt như con cá Sầu Ngư. Sáo muốn đi tìm coi anh ta nhuốm đỏ tới mức nào.

Sáo sẽ đi. Nó quyết định vậy khi nhìn theo em chồng bị người ta đưa đi mất. Nhanh đến nỗi Sáo nhận ra công lý thật ra đâu có già nua hay chậm chạp hay đui mù. Sáo thấy mình vừa mất hết, cả người thân cuối cùng và chút niềm tin cuối cùng. Nhưng cái cảm giác đó thật sự rõ ràng khi nước bắt đầu rút, Sáo đào xuống năm lớp dá, rồi kéo cái thứ đất ngâm lâu bủng beo trong nước đó, đắp lên cho chồng.

Chờ những mầm cỏ Đuôi Mèo lún phún lên xanh, Sáo chèo ghe đến bè rau Đại Thanh. Nhắm mắt thì nó cũng chèo được tới cái chuỗi xanh ngằn ngặt ở ngã ba sông Sắc, chỗ sông Mê cắt qua.

5

Bè đang tuyển người làm. Những nhân công cũ sợ giang hồ đòi công lý nên xin nghỉ quá nửa. Sáo bị xua đuổi ngay khi trờ tới, họ nhận ra vợ của thằng oan gia bứt ngò. Nhưng vì người ta biết Sáo nên nó vẫn cắp cái nón trong nách nấn ná chờ. Hồi lâu có người kêu, cô kia tên gì để tôi ghi hồ sơ? Ông ta hỏi mà vẻ mặt thảng thốt như không hiểu cái câu vừa rồi sao lại tuôn ra khỏi miệng, như thể đang nghĩ mướn con này chẳng khác nào rước giặc vô nhà, sao ông chủ mình ngu vậy?

Cũng ngơ ngác, Sáo nói tên mình. Ngay lập tức trên danh nghĩa nó trở thành người của bè rau. Dù Sáo chỉ muốn tới hỏi người đàn ông tên Giang đó có thật đã muốn chồng nó chết không. Sáo nghĩ người đó sẽ im lặng hoặc nói không, vậy đỡ quá. Chối bỏ nghĩa là còn biết sợ hãi. Nhưng con rể của nhà giàu Đại Thanh, người quản lý bè rau mênh mông này, anh ta nói có. Anh ta nhìn thẳng vào Sáo, nói có, nó – đáng – chết…”. Anh ta vẫn rám nắng chắc chắn vạm vỡ như năm bảy năm trước, mắt vẫn rười rượi sâu. Mặt anh ta phẳng lặng, giọng cũng đều đặn thản nhiên, mà buốt nhức :

– Em sẽ làm gì tôi?

Sáo chết trân. Nó không biết. Nó đinh ninh là anh ta sẽ chối bay chối biến và nó cắp nón ra về, an ủi mình đã tìm được sự thật giống như sự thật. Nhưng anh ta thừa nhận, trâng tráo như Sáo không thể làm gì được. Sáo sẽ chạy tới nhờ nhà chức trách đang ngủ gục hay sẽ đòi công lý bằng dao bấm giống như em chồng?

Ngơ ngác, Sáo bỏ đi. Vài ba bận chèo ghe trở lại, cũng chừng ấy lần lủi thủi quay về, Sáo nghi chắc tại phải chèo xa mệt mỏi nên sự căm thù hao hụt. Nó quyết định ở lại làm công cho bè rau. Ở đây nó sẽ tích tụ được những cơn giận dữ, đến khi chúng căng chật, nổ tung thì đường đến căn phòng của tên gian ác cũng gần.

Và nơi này làm cho Sáo không bao giờ nguôi oán giận. Sáo gánh nước tưới những giồng ngò gai và tưởng tượng cái tối chồng mình khoái chí nhấm nháp chúng, chắc anh không kịp rửa, chắc trong cái vị cay nồng có lẫn oi oi mùi rơm mục. Sáo ngồi bó rau bồ ngót ở sàn nước và nghe gan bàn chân tê tái bởi ý nghĩ chồng mình đã bị người ta đánh đập, lăn lộn đau đớn ở đây (dựa theo sự thật của ông bán củi). Trầm mình dưới khúc sông bên hông bè để ủ rơm tươi, Sáo đánh dấu lên dòng nước chỗ người ta đã dìm chồng nó xuống (vịn vào sự thật của thím bán bánh dừa).

Có lần lửa bùng lên tới mặt, Sáo đã chạy tới căn phòng đó, khi xô cửa bỗng bàn tay Sáo chui tọt vào vạt áo. Một đứa trẻ đang ngồi trong lòng người đàn ông, nó đang vùng vằng cằn nhằn cha không biết chải tóc làm đầu nó đau lắm luôn. Anh ta nhác thấy Sáo liền nói, “cô để lần sau…”. Ừ, Sáo không muốn khi xiên con dao trong túi nó qua ngực người đàn ông đó lại có đàn bà và trẻ con trông thấy. Đi men theo những giồng gừng về dãy nhà ngang nơi dành cho những người làm công ngủ, tiếng con nít thỏ thẻ vướng chân làm Sáo trợt chân té sấp. Nó gượng bò dậy khỏi những vũng nước săm sắp, nghĩ phải chi mà vợ chồng nó cũng có đứa con như vậy, chắc bọn nó sẽ có nhiều chuyện để nói với nhau, sẽ không phải tìm kiếm mỗi đêm dù nó mệt đến rã rời, chỉ muốn ngủ thôi. Và đứa con sẽ làm Sáo thôi nhớ tháng ngày trôi nổi.

Trưa thứ bảy ca nô đưa trẻ con ra bè, chiều chủ nhật trẻ con vào trong chợ. Vợ của người đàn ông, tức bà chủ của Sáo thì tới bè mỗi buổi chiều, lúc các máy nước công cộng đã khóa chặt và những người không lấy nước kịp sẽ ghé qua chỗ chị ta mua nước với giá cao. Cuối chiều cho tới nửa đêm, thương lái nườm nượp tới để giành giật nhau từng bó rau, chị ta đứng bán rồi sáng hôm sau cũng biến mất sau con đê kiên cố sừng sững như tường thành bọc quanh thành phố. Nó cao tới mức những người lam lũ như Sáo cảm giác bị bỏ rơi, bị rời ra, thấy mình nhỏ nhoi như kiến, cỏ. Nó nhắc nhớ nắm xương của ba Sáo đã lạc mất bên dưới tầng tầng lớp lớp nhà cao. Nó nhắc nhớ ba mươi sáu bậc thang mà Sáo đã dò dẫm từ mặt đê xuống ghe cùng với xác chồng.

Nên nhìn thấy bà chủ là Sáo nghe giận. Chị ta cứ lai vảng hoài nên mỗi tuần Sáo chỉ còn lại chừng bốn mươi tiếng đồng hồ để tiếp cận kẻ thù, mà không phải lúc nào kẻ thù cũng ở một mình, bởi người làm công cứ dập dìu qua lại. Trắc trở nhiều khi đến từ trong Sáo, bởi đôi lúc đứng nhìn một vạt cải con xanh non, đôi lúc đi ngang giồng quế đang trổ bông, hay bước chân giẫm lên một lá gừng già… mùi thơm nồng nàn làm người Sáo lỏng lơi ra, nhẹ bỗng. Vậy đâu có được. Nó ở đây để đòi công lý cho chồng, sao lại quên chỉ vì mùi hương của những thứ cỏ cây này.

Nhưng trước những đọt ổi non, những giồng rau húng lủi, đống rơm mới…Sáo vẫn không cầm lòng nổi. Sáo đã nhớ chúng biết bao nhiêu, từ khi nước đuổi lấp ló phía chân trời.

6

Sáo sống gần như đơn độc trên bè. Thui thủi. Bạn làm công dè dặt, đám bảo vệ canh chừng, và Sáo biết mình đi đâu làm gì cũng có người ngó theo, khi da diết khi mãnh liệt, khi hờn mát khi chua chát. Có cảm giác người ta rọng nó ở lại bè rau chỉ để Sáo quẩn quanh trong tầm mắt, nó không phải thả ghe chơi vơi chài lưới chật vật kiếm sống trong mùa nước đuổi.

Sáo hơi tuyệt vọng, nó vẫn chưa trả được thù chồng. Người xóm Rẫy ghé qua bè mua rau đổi nước cắt Sáo bằng ánh mắt căm ghét đến rát mặt, ý nói “thứ người gì tệ bạc, đi làm tôi mọi cho giặc…”. Sáo càng nôn nóng, sợ năm dài tháng rộng mớ màu xanh ngằn ngặt trên bè sẽ loang hết mảng tím bầm trong lòng nó. Vậy đâu có được. Nhưng kết thúc bằng cách xiên một mũi dao thì quá dễ cho anh ta. Cái cảm giác sống mà mất hết, nhìn thấy mọi thứ chung quanh tàn rữa mới ghê. Nhưng những thứ mà kẻ thù yêu quý Sáo đều không thể chạm vào. Trẻ con, đàn bà, và cả những giồng rau trái thênh thang trên bè – thứ mà mùa nước đuổi trắng xóa những chân trời, chúng là vàng. Có thể anh ta còn thứ quý giá hơn, Sáo đang tìm kiếm. Nó tới gần anh ta hơn, tới mức có thể nghe giữa những cơn nín thở là tiếng nuốt nước bọt lục cục trong cổ họng. Có lần vô tình cùng khiêng chung một cái lu, Sáo bỗng thấy cảnh này sao giống đôi vợ chồng đang chuẩn bị đón mưa đầu mùa, ý nghĩ làm nó giật mình buông tay làm lu rớt xuống mấy ngón chân anh ta tươm máu. Sáo đau, đến nỗi nó tin rằng nếu lưỡi dao thấu qua ngực anh ta chắc nó là người gục xuống.

Phát hiện đó làm Sáo về luẩn quẩn gần mộ chồng ân hận cả ngày. Oán đong đầy lại. Sáo bắt đầu ráo riết tìm kiếm, bằng cách nhìn rười rượi vào mắt anh ta mỗi khi chạm nhau giữa mấy luống cà chua, dưa chuột. Bằng cách vu vơ hát lên một câu hát cũ, hoặc ra ngồi nhìn trời nước chỗ cây quao. Trời ơi, khi mà mỗi tấc đất trên bè này đều là một tấc vàng, thì người ta bứng trồng lên đó một cây quao, chẳng làm gì cả, trái không ăn được lá lại hôi rình.

Anh ta không thèm giải thích. Con người kỳ cục đó hùng hục làm giàu, nhưng có khi Sáo thấy anh ta đứng ngó bạn hàng vây quanh vợ mình, ngó những xấp tiền xập xòe bằng cái nhìn trống rỗng, tựa như chúng vô nghĩa. Dù nhiều tiền thì gì cũng có, có cả nhà chức trách hồ hởi ghé chơi. Bạn làm công lâu năm vui miệng kể hồi lập bè anh ta cũng chỉ nói với vợ một câu, “tôi ra sông làm rẫy, em ưng thì theo…” Bè dứt khoát phải đặt ở ngã ba sông Sắc, người xóm Rẫy đi chợ đằng nào cũng phải ngang qua. Vợ anh ta nghĩ chắc chồng nhớ sông, nhớ quãng đời lênh đênh nên quyết ra bè sống. Sau này nước đuổi, rau trái quý như vàng, bên nhà vợ khen con rễ biết nhìn xa trông rộng. Sáo nghe chuyện nghĩ, thì anh ta hại chồng nó chết mà có giải thích gì đâu.

Mỗi khi nhìn những bông quao trắng muốt, Sáo nghiến ngầm trong bụng, thằng gian ác thằng gian ác, mình căm thù mình căm thù mình căm thù. Như thể không đinh ninh vậy thì Sáo sẽ coi anh ta như người yêu cũ mất. Vậy đâu có được.

Một bữa người ta cho phun thuốc khắp nơi trên bè. Mọi bán mua vốn đang tấp nập bỗng dưng ngưng bặt. Bà chủ của Sáo cũng không trèo đê ra với chồng. Tắm đêm giữa chừng Sáo để nguyên quần áo ướt xông vào căn phòng người đàn ông đó. Anh ta nằm im lìm như mặt ao ngày không gió, cả khi bọc tay nó trong bàn tay chai cứng vì từng chèo chống sông hồ.

– Em đi với tôi nghen…

Sáo muốn khóc. Câu nói này Sáo đã nghe lần đầu dễ chừng bảy năm trước, hồi chưa lấy chồng. Sáo đùng đưa chân khỏa nước trên sông, nói má em bệnh không ai lo. Lần thứ hai ngồi dưới chòm quao lập lòe đom đóm, nó nói má em nhận lễ của người ta rồi. Lần thứ ba là vào một mùa mưa, bữa đó đi chợ, đứng đụt mưa ở hiên nhà người ta, gió tạt làm hai ống quần sũng nước, Sáo bỗng nghe ai đó nói “em đi với tôi nghen…”, như tha thiết như thương hại, xót xa… Nó đi hết chặng đò rồi, về tới nhà vẫn còn nghe. Chục bữa sau vẫn nghe. Sáo không đi chợ nữa, cần gì thì chồng đi hoặc nhờ hàng xóm tiện thể mua giùm.

Nhưng Sáo có cài bao nhiêu cửa, có ngồi miết trong buồng thì vẫn nghe “hãy đi với tôi…”. Bằng thứ âm thanh chỉ mình nó biết, nó nói đâu có được, tui mắc nấu cơm cho chồng tui, người khác không biết ý ổng nấu ăn sẽ ấm ức lắm. Như bữa ở chợ Sáo nói mắc đi mua chỉ về cho chồng vá chài. Sáo luôn phải bận bịu, vướng víu vì ai đó, dù đôi lúc giữa đêm Sáo mặc lại áo, nó nghĩ nếu đi với Câu Nói thì giờ chắc mình được ngủ rồi.

Lần cuối cùng Sáo nghĩ tới chuyện nắm tay Câu Nói ra đi, là khi chồng Sáo nhảy lên chiếc xuồng câu bơi đi hái trộm ngò gai nêm canh cá Bạc Đầu. Nhìn theo anh rẽ lân tinh lấp lánh như con tôm mon men vào ven đó, Sáo nghĩ, nếu con cá, cọng ngò có thể làm anh vui vẻ tới vậy, thì không nó cũng không sao. Nó muốn có một đứa con được tạo thành bởi tình yêu chớ không phải bởi phép màu của cá. Đang nghĩ bùi ngùi bỗng có người tới gọi, chồng bây bị người ta đánh té xuống nước chết queo rồi. Sáo chôn cất cuộc đi, vì mắc tang tế, đòi công lý cho chồng, cúng quảy người nhà chồng. Chớ ai.

Hôm đó, Sáo chôn cất luôn những ý nghĩ chạy trốn vẩn vơ. Giờ người đàn ông này lại bảo, “Em đi với tôi nghen – Cũng câu nói hôm xưa, giờ nhuốm màu vô vọng – Chồng em có còn đâu…”. Sự vô vọng của năm chữ đằng sau phả hơi lạnh tới cả cái gật đầu của Sáo, ừ thì đi.

7

Cả hai không xếp hành lý, thậm chí không lấy ghe, cứ ào xuống nước bơi về phía bờ mà ai cũng biết là đã không còn bờ từ nước đuổi. Sau lưng, bè rau càng lúc càng rực rỡ. Ngọn đèn chong Sáo kê sát vách mùng giờ chắc đã bén lửa lan vào tận những đụn rơm phía ngoài. Người đàn ông bơi cạnh Sáo không một lần ngoái lại. Sáng hôm qua khi tiễn con gái nhỏ trở vô trong chợ, anh ta đã xiết nó đến nỗi nó kêu đau. Như không có lần sau. Giây phút đó Sáo nhận ra thứ anh ta quý nhất, đến nỗi sẵn sàng từ bỏ tất cả để có được. Là Sáo.

Nó rớt nước mắt. Đi cùng nó có gì vui đâu mà người này cứ đòi phải đi cho được, bảy năm trời không chịu thôi. Ừ vậy thì đi. Hai đứa bơi mãi trong ánh lân tinh réo rắt dìu dặt. Nước tràm trụa trên mặt, nước mặn xót mấy cái chân răng. Bơi đến kiệt sức, đến trống rỗng, đến mức có thể chìm trôi, có thể quên hết quá khứ. Chớ Sáo biết đi đâu với người đã vô tình làm chồng nó chết, bởi một cơn nóng giận, bởi một lầm lẫn, tưởng đạp rào là sẽ được bước qua.

Quanh hai con người đau đớn, cá Sầu Ngư đang nhơ nhởn họp bầy.

… Đoạn, có người hỏi rồi hai đứa đó ra sao. Tôi không biết, tôi đâu có lội theo chi. Thấy đi thì biết đã đi, vậy thôi.

(*) Từ Bi Ký
__________________________________________________

Posted in Văn học | Tagged: , , | Leave a Comment »

Suy ngẫm sau việc “bác” dự án đường sắt cao tốc

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Sáu 24, 2010

Những dự án đặc biệt quan trọng như vậy thì không thể trình, duyệt vội vã trong một kỳ họp Quốc hội.
Thay vì quyết định hết và QH chỉ pháp lý hóa, đến dự án này, Bộ Chính trị không quyết trước mà để QH thảo luận, quyết định.

Chiều 19-6, với 37,5% đại biểu Quốc hội (QH) tán thành, 42,2% đại biểu không tán thành, QH đã tuyên bố không thông qua dự án đường sắt cao tốc Hà Nội-TP.HCM. Việc QH nói không với siêu dự án gần 56 tỉ USD là biểu hiện bề ngoài của sinh hoạt nghị trường. Nhưng đằng sau cánh gà, biết bao vấn đề đặt ra để suy ngẫm với việc chuẩn bị dự án của Chính phủ, tổ chức thảo luận, biểu quyết của QH và cả vai trò lãnh đạo của Đảng.

Pháp Luật TP.HCM trao đổi với ông Vũ Mão, nguyên Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại của QH khóa XI, người có 20 năm là ủy viên Ủy ban Thường vụ QH.

Mừng vì không khí dân chủ…

. Phóng viên: QH khóa XII vừa trải qua một kỳ họp sôi động nhất từ trước tới nay. Là người nhiều năm hoạt động QH, cảm nhận của ông thế nào?

+ Ông Vũ Mão: Quy luật là càng cuối khóa, các kỳ họp của QH càng sôi nổi. Những đại biểu mới tham gia lần đầu mạnh dạn hơn, có nhiều kinh nghiệm hoạt động nghị trường hơn. Kỳ họp này lại diễn ra vào lúc đại hội đảng các cấp chuẩn bị cho đại hội toàn quốc nên càng sôi nổi.
Thời sự nhất của kỳ họp này là QH chưa thông qua nghị quyết về chủ trương xây dựng đường sắt cao tốc (ĐSCT). Ở khía cạnh tích cực, việc các đại biểu QH thảo luận thẳng thắn, bộc lộ hết những băn khoăn, suy nghĩ của mình, cuối cùng thể hiện qua biểu quyết, phản ánh những đổi mới trong phương thức lãnh đạo của Đảng với hoạt động của QH.
Thay vì quyết định hết và QH chỉ pháp lý hóa, đến dự án này, Bộ Chính trị không quyết trước mà để QH thảo luận, quyết định. Ngay cả khi thăm dò ý kiến cho thấy tỉ lệ ủng hộ quá bán 57% rất mong manh cũng không có chỉ đạo nào về mặt đảng với các đảng viên trong QH là phải thông qua dự án mà Chính phủ trình… Kết quả của sinh hoạt dân chủ ấy, các đại biểu thoải mái nói lên suy nghĩ của mình và cuối cùng QH nói không với dự án ĐSCT. Nhưng kết quả đó cũng đem lại nhiều suy tư!

Suy tư vì hao tốn tiền của…

. Suy tư là sao, thưa ông?

+ Chính phủ dành bao công sức chuẩn bị một dự án như vậy. Bộ Chính trị thì cũng đã nghe và ít ra đồng ý để Chính phủ trình QH. Quá trình như vậy tốn biết bao tiền của, trí tuệ. Vấn đề là chuẩn bị như vậy đã đầy đủ, chín muồi để trình QH? Thảo luận ở QH thì thấy nhiều ý kiến cho rằng dự án đó chưa thuyết phục, chưa kỹ càng. Và khi thăm dò ý kiến, tỉ lệ ủng hộ rất mong manh. Ở mặt này, tôi nghĩ Bộ Chính trị và cả Chính phủ sẽ còn nhiều suy nghĩ, rút kinh nghiệm.
Còn về phía sinh hoạt QH cũng có những điều phải suy ngẫm. Một dự án lớn như vậy muốn đưa ra nghị trường thảo luận để đi đến một giải pháp hợp lý nào đó thì Chính phủ cũng phải có nghệ thuật về thuyết trình các phương án, còn Ủy ban Thường vụ QH là bên phê duyệt cũng rất cần có nghệ thuật về dẫn dắt thảo luận, tổng hợp.
Đưa ra các nội dung để thăm dò ý kiến, hay các phương án để thông qua nghị quyết mà không khéo léo có thể khiến đại biểu lúng túng. Một số đại biểu có trao đổi với tôi là các nội dung đưa ra thăm dò ý kiến cũng như các phương án trong dự thảo nghị quyết ĐSCT chưa thể hiện hết các dòng chủ lưu của nghị trường. Thế nên mới không quá bán được. Đây là điều đáng suy nghĩ.

Tốt hơn nếu biết phối hợp, trao đổi chân thành

. Nghĩa là ông vẫn băn khoăn việc QH không thông qua một nghị quyết nào về ĐSCT?

+ Một việc như vậy có người vui nhưng có người buồn. Tôi thì thấy vui vì không khí dân chủ, cởi mở trong QH nhưng cũng băn khoăn là việc QH không thông qua một văn bản nào thể hiện quan điểm của mình về đầu tư phát triển giao thông, trong đó có đường sắt thì liệu đã phát huy được hết giá trị của dân chủ?
Tôi nghĩ nếu ra được một nghị quyết hợp lý thì vẫn hay hơn là “nói không” tuyệt đối. “Nói không” như vậy dễ bị cho là QH phủ định sạch trơn sự chuẩn bị của Chính phủ.

. Có người bình luận rằng khi thăm dò ý kiến cho kết quả quá bán mong manh thì Thường vụ QH nên bàn và đề nghị Chính phủ rút dự án để hoàn chỉnh thêm, trình lại kỳ họp sau?

+ Đấy cũng là một cách. Song đồng ý rút hay không lại là quyền của Chính phủ. Hơn nữa, kinh nghiệm cho thấy Chính phủ có xu hướng đã trình thì không rút mà chờ QH ra nghị quyết chính thức mới tiến hành tiếp thu, chỉnh sửa…
Hợp lý hơn, tôi cho rằng Thường vụ QH và Chính phủ chủ động phối hợp, trao đổi chân thành, tiếp thu ý kiến của đại biểu, của cử tri, nhất là các nhà khoa học. Mục đích là tìm được phương án hợp lý nhất, khả dĩ thuyết phục được đại biểu.
Sẽ là tốt hơn nếu Bộ Chính trị nắm bắt kịp thời tình hình thảo luận, chỉ đạo Chính phủ công phu lắng nghe, trao đổi, tìm phương án hợp lý hơn, khả thi hơn, dễ chấp nhận hơn. Nếu làm được như vậy thì kết quả bỏ phiếu có thể đã khác và thu được một sản phẩm chấp nhận được cho cả đôi bên.

Hai bài học về nôn nóng, vội vã

. QH khóa này có hai sự kiện lớn, “nói có” với mở rộng Hà Nội và “nói không” với dự án ĐSCT. Cả hai đều gây nhiều tranh cãi. Ông thấy thế nào?

+ Hai sự kiện phản ánh hai thái cực. Lần mở rộng Hà Nội (kỳ họp thứ ba QH khóa XII vào tháng 5-2008 – NV), thăm dò ý kiến thì tỉ lệ tán thành không quá bán nhưng ra bấm nút chính thức thì lại rất cao, trên 90%. Còn lần này, thăm dò ý kiến chỉ hơn quá bán một chút và ra biểu quyết chính thức thì ủng hộ chỉ có 37%.
Hai sự kiện đó cũng thể hiện những điểm mới trong phương thức lãnh đạo của Đảng.

. Vậy còn bài học rút ra?

+ Cả hai sự kiện đều dẫn tới những bài học về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, về trách nhiệm chuẩn bị nội dung trình dự án của Chính phủ và cả về quy trình điều hành thảo luận, biểu quyết của Ủy ban Thường vụ QH.
Đối chiếu với kinh nghiệm hoạt động của QH khóa trước, thấy rằng những dự án đặc biệt quan trọng như vậy không thể trình, duyệt vội vã trong một kỳ họp QH. Nhiệm kỳ trước, dự án thủy điện Sơn La mới tầm tầm như vậy mà đã phải công phu thảo luận dân chủ hai kỳ họp mới ra được phương án được đa số đại biểu tán thành. Đằng này, dự án mở rộng Hà Nội và ĐSCT hàng chục tỉ đôla kèm theo cả núi vấn đề phải đặt ra bàn cãi, mà lại cố đưa ra quyết trong một kỳ họp thì quả là nôn nóng quá!

. Xin cảm ơn ông.

NGHĨA NHÂN thực hiện

[Phải “bảy lần đo, một lần cắt”

Có thể nói đây là lần đầu tiên trong lịch sử QH đã biểu quyết không tán thành một đề xuất quan trọng của Chính phủ. Việc này thể hiện rõ tinh thần trách nhiệm cao của đại biểu QH vì lợi ích tối cao của đất nước, của dân tộc. Các đại biểu QH đã thể hiện chính kiến của mình chứ không phải thông qua một cách hình thức, chiếu lệ những vấn đề hệ trọng đến quốc kế dân sinh.
Đây cũng sẽ là bài học kinh nghiệm sâu sắc cho những người có trách nhiệm hoạch định chính sách. Đó là đối với những vấn đề hệ trọng đến quốc kế dân sinh thì không thể giản đơn, nóng vội, mà phải cân nhắc điều hơn, lẽ thiệt hết sức thận trọng. Thậm chí phải cân nhắc toàn diện, “bảy lần đo, một lần cắt”. Phải tính đến mọi rủi ro, bất trắc có thể xảy ra và tuyệt đối không phiêu lưu, mạo hiểm, thoát ly thực tế, thực trạng, điều kiện kinh tế-xã hội của đất nước.
TS PHẠM MINH TRÍ]

[Người dân cần nhiều thứ khác

Ai cũng mong muốn nước Việt ta ngày càng hiện đại, văn minh. Nhưng ở thời điểm này thì người dân không cần món quà ĐSCT. Cái mà người dân chúng tôi cần là phải có đủ trường học cho con em chúng ta, trường ra trường, lớp ra lớp để không còn cảnh phải chạy trường, trẻ em không phải bỏ học vì không có tiền đóng học phí; bệnh viện không còn phải chen chúc; đường phố không còn cảnh kẹt xe hằng ngày; điện không phải cúp liên tục; đồng bào miền núi không còn phải đu dây qua sông vì không có cầu đi; đời sống nông dân, ngư dân không còn phải vất vả nhiều như bây giờ…
Dự án này sẽ làm nhưng hãy để cho con cháu chúng ta làm. Bởi vì vài chục năm sau con cháu chúng ta sẽ giỏi hơn chúng ta hiện nay. Nhưng muốn cho con cháu chúng ta giỏi hơn thì chúng ta phải để lại những nền tảng tốt đẹp chứ không phải là những món nợ khổng lồ.
LÊ THÁI BÌNH (thaibinh_1010@…) ]

__________________________________________________________________

Posted in Chuyện đất nước, Khoa học & Công nghệ, Kinh tế | Tagged: , , | Leave a Comment »