NGÔN NGỮ & VĂN HÓA

CHÚC MỪNG NĂM MỚI

Đến phim trường “Cánh đồng hoang”

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Sáu 1, 2010

Thiên Tường

Chiếc xuồng máy chồm chồm lao ngược dòng kênh 79 hướng về phía biên giới Campuchia. Kênh này cắt ngang quốc lộ 62 thuộc huyện Mộc Hoá, tỉnh Long An xuôi về Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp. Chúng tôi đang trên đường đến Trung tâm Nghiên cứu Bảo tồn và Phát triển Dược liệu Đồng Tháp Mười, nơi có kho dược liệu thiên nhiên được xem là lớn nhất Việt Nam.

“Cánh đồng hoang” bây giờ

Vượt ngang con sông Vàm Cỏ Tây đục ngầu chảy cuồn cuộn, chiếc xuồng máy rẽ phải rồi rẽ trái thẳng hướng theo kênh Nùi Gõ. Đến đây dòng nước đột nhiên trong vắt có thể nhìn tận đáy.
Những con kênh ở hai bờ sông Vàm Cỏ có lẽ đã nhiễm phèn quá nặng, chỉ có rong rêu hiện diện còn tôm cá thì biệt tăm. Những ngôi nhà chơ vơ thưa thớt hiện ra trên những lộ nước mênh mông. Anh Ba Nô hướng đạo cho biết hầu hết dân ở đây sống bằng nghề trồng đay, tràm cừ bán cho vùng Đồng Tháp, cả sang Campuchia.

Ngày đó, cả Đồng Tháp Mười là một vùng đất phèn quanh năm hoang hóa. Mùa nắng thì đất khô cỏ cháy, mùa mưa thì nước ngập tràn lan. Đất cứ cháy ngún âm ỉ, nước phèn, độ pH gần bằng 1, không uống được. Đây cũng là địa điểm xây dựng phim trường của bộ phim nổi tiếng Cánh đồng hoang, năm 1979.

Rải rác vài ngôi nhà mới xây đồ sộ trên những doi đất thấp thoáng bóng tràm, đôi chiếc ghe bán tạp hoá rong, mấy người túm tụm trước cửa chờ ghe “ôm”… Tất cả vẽ nên những gam màu nóng sống động trên khung nền sông nước vốn quá đỗi yên bình này…

Trung tâm Nghiên cứu bảo tồn và Phát triển dược liệu Đồng Tháp Mười nằm trên kênh Nùi Gõ thuộc xã Bình Phong Thạnh, địa phương cuối tỉnh Long An. Từ xa, mùi dược liệu, tinh dầu đã thoảng bay. Dưới bến trước cổng trung tâm, mấy chiếc xuồng đang ghếch mũi sẵn sàng “tác chiến”.

Ông giám đốc “Ba đất phèn”

DS Nguyễn Văn Bé, giám đốc Trung tâm Nghiên cứu bảo tồn và Phát triển dược liệu Đồng Tháp Mười, người to lớn, đen trũi, quần soóc, chân đất, giọng nói sang sảng. Ông là người đầu tiên có công khai sáng để biến hàng ngàn hecta đồng hoang này trở thành kho dược liệu khổng lồ.
Bà con vùng Mộc Hóa này ai cũng biết ông với tên gọi ông “Ba đất phèn”, “Ba Bé”, “Ba ve chai”. Riêng ông tự nhận mình là kẻ “bụi đời”, suốt năm đi ghe và nhảy xe đò, không sử dụng xe con để “tiết kiệm chi phí”. Ông không có phòng làm việc riêng, hằng ngày cùng làm việc chung với các công nhân, khó phân biệt được ai là giám đốc, ai là nhân viên.

Năm 1982, quyết định bị nhiều người cho là điên rồ khi ông nghỉ làm cán bộ giảng dạy ở trường Đại học Y Dược, để vợ con ở lại TP.HCM để xuống nơi đồng không mông quạnh này. Ông cùng các cộng sự đã đào hơn 100km kênh rạch, đắp đê bao giữ nước, rồi thành lập Trung tâm Nghiên cứu bảo tồn và Phát triển dược liệu Đồng Tháp Mười. Đến nay, ông đã gần 30 năm lăn lộn nơi “cánh đồng hoang”, gắn bó cùng cây cỏ.

Hiện trung tâm sở hữu 1.041ha, 19 giống tràm, trong đó có 800ha tràm hương thiên nhiên là “bảo bối” của trung tâm. Theo DS Bé, giống tràm hương này là loại dược liệu đặc sản để bào chế tinh dầu mà thiên nhiên ưu đãi cho Việt Nam.
Trên thế giới ngoài Việt Nam chỉ có Indonesia và Malaysia có loại tràm hương, nhưng trước đây do không phát hiện được giá trị kinh tế của nó nên Indonesia đã chặt phá để trồng mía, Malaysia chặt phá trồng cây cọ dầu.
DS Bé tiếc hùi hụi khi trước đây ở Long An có hơn 7.000ha tràm hương, nhưng bị người dân chặt phá trồng tràm cừ, trồng lúa, hiện trung tâm chỉ bảo quản, giữ gìn, khai thác được 800ha. “Thực ra đó là nhờ may mắn chứ chẳng phải giỏi gì” – DS Bé nói.

Nhưng may mắn mà không có sức người tận tuỵ thì không thể thành công như hôm nay. Chị Nguyễn Thị Ngọc Mai, phòng nghiên cứu của trung tâm đưa chúng tôi xuống ghe đi tham quan vườn dược liệu cách trung tâm 5km. Hệ thống kênh mương dài hơn 100km được bố trí ngăn nắp, thẳng thớm. Những mương cá được bố trí theo mô hình dưỡng cá của Ấn Độ.
“Tất cả là do chú Bé nhắm hướng phóng tuyến rồi công nhân theo đó mà đào mương, xắng cạp. Nhà xưởng cũng vậy”, chị Mai cho biết.

Vườn dược liệu rộng 50ha, bảo tồn nguồn gen của hơn 20 loài thực vật, 5 loài động vật. Những luống, giồng thẳng tắp xanh ngắt bóng hoắc hương, hà thủ ô, liễu rũ, ngải tiên, hà thủ ô đỏ, nhàu rừng, mù u, diệp hạ châu, bạch đàn chanh, mua, mù u, quao, dành dành, sả Indonesia, ớt bơ Pháp… Trên những tán tràm xanh ngắt là lớp lớp dây thố ty (tơ hồng) vàng ươm giăng oằn như buông rèm.

Cây thuốc ở đây được chăm sóc theo tự nhiên 100%, không sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu. Từ đây hơn 30 sản phẩm, tinh dầu được chế biến hoàn toàn hữu cơ, cung cấp thành phẩm cho Xí nghiệp dược trung ương 25, Xí nghiệp dược Domexco Đồng Tháp…
Đến nay, trung tâm đầu tư trang bị phòng thí nghiệm và xây dựng xưởng tinh chế tinh dầu hiện đại và đã sản xuất hơn 100 loại tinh dầu từ thiên nhiên như dầu tràm, dầu rau má, rau răm, rau diếp cá… được xem là bộ sưu tập tinh dầu đồng bộ nhất Đông Nam Á, trong đó, khoảng 80% đang được sử dụng để phục vụ ngành dược phẩm, 20% phục vụ ngành hương liệu và thực phẩm.
Trung tâm còn trực tiếp sản xuất nhiều loại thuốc chống ung thư, viêm siêu vi, sốt rét, viêm xoang, các loại rượu thuốc đặc trị. Ít ai biết nơi đây là một trong bảy nhà cung cấp hương liệu trên thế giới của hãng dầu gió xanh nổi tiếng Eagle.

Chuyện ít biết

Hằng năm, trung tâm chỉ mở cửa đón du khách tham quan từ tháng 10 – 12 là mùa chim chóc về nhiều nhất. Ông Ba Bé sợ rằng mở cửa du lịch kiểu đại trà như nhiều tỉnh miền Tây Nam Bộ thì dễ “đụng hàng”, du khách dễ nhàm. Mặt khác dễ ảnh hưởng đến môi trường xung quanh.

Dây chuyền thiết bị hiện đại của trung tâm có thể cho ra sản phẩm trực tiếp hoặc kiểm nghiệm chất lượng trong 12 – 24 tiếng. Ít ai biết những người thợ vận hành những cỗ máy tối tân kia hầu hết là nông dân, trình độ văn hoá cấp 1, cấp 2 mà thôi.
Chị Mai cho biết khoảng 150 công nhân ở đây là người địa phương, ban ngày bơi xuồng đến làm, ban đêm tập trung học văn hoá do chính trung tâm tổ chức dạy theo kiểu người biết chữ dạy người chưa biết, rồi mời giáo viên ở phòng giáo dục về bồi dưỡng.

Khi nhập máy móc nước ngoài về công nhân được thực tập trực tiếp với chuyên viên nước ngoài để nắm vững các thao tác vận hành từng khâu theo phương châm “Huấn luyện nông dân làm kỹ thuật”. Kiểu “dân dã” này kéo dài trên 15 năm nay và đem lại hiệu quả hơn “mô hình bằng cấp” thông thường. Mỗi năm trung tâm trích ra hàng trăm triệu đồng bằng hình thức chuyển đổi hỗ trợ thuốc men cho bà con nông dân huyện Mộc Hoá.

“Chúng ta đang sống trên kho thuốc. Không thể cạnh tranh bằng sản phẩm khoa học kỹ thuật cao với nước ngoài, nhưng từ những loài cây cỏ nếu chúng ta biết tận dụng, bảo tồn, khai thác và chế biến thành những chế phẩm đặc biệt, riêng có thì chắc chắn sẽ có chỗ đứng trên thương trường quốc tế”, DS Bé khẳng định.

_______________________________________________________

Advertisements

Trả lời

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: