NGÔN NGỮ & VĂN HÓA

CHÚC MỪNG NĂM MỚI

Hội thảo văn học Việt Nam – Hoa Kỳ sau chiến tranh: Nhiệm vụ của lương tâm

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Sáu 9, 2010

Bình Nguyên Trang

Một sự kiện văn hoá đặc biệt diễn ra trong những ngày đầu tiên của tháng 6 này là Hội thảo Văn học Việt Nam – Hoa Kỳ sau chiến tranh diễn ra tại Hà Nội.

Sức mạnh hoà giải của văn học

Với mục đích phân tích, đánh giá sứ mệnh của văn học Việt Nam và vai trò to lớn của các nhà văn Mỹ thông qua Trung tâm William Joiner trong việc truyền bá văn học Việt Nam đến Mỹ trong suốt mấy chục năm qua, nhằm tăng cường sự hiểu biết của công chúng Mỹ với con người và đất nước Việt Nam, góp phần hóa giải những hận thù giữa hai dân tộc, tiến tới một tương lai tốt đẹp, hội thảo đã thu hút sự tham gia của 150 đại biểu, trong đó có nhiều văn nghệ sĩ, trí thức đến từ hai nước Việt – Mỹ. Trường đại học Văn hóa Hà Nội là đơn vị chủ trì cuộc hội thảo.
Với chức năng nghiên cứu về hậu quả chiến tranh, ngay từ những năm 80, những người điều hành của Trung tâm Wiliam Joiner (Đại học Massachusetts, Boston – Mỹ) đã đến Việt Nam và nhanh chóng nhận ra rằng, văn hóa nói chung và văn học nói riêng chính là một con đường tốt đẹp cho sự hòa giải giữa hai dân tộc. Biết bao khó khăn cho một buổi đầu tưởng chừng như bế tắc, khi Việt Nam vẫn là một quốc gia phải chịu lệnh cấm vận của Mỹ. Nhưng, những tác phẩm văn học Việt Nam đầu tiên đã đến với công chúng Mỹ nhờ tình yêu và lòng nhiệt tình của một số giáo sư, nhà văn, dịch giả của Trung tâm William Joiner.

Không chỉ có thế, những nhà văn Việt Nam đầu tiên đã được mời đến Mỹ, như là những sứ giả đầu tiên của một nền văn học đi tìm kiếm tiếng nói hòa bình, yêu thương và lòng nhân ái giữa hai dân tộc. Nhà văn Lê Lựu là nhà văn “cộng sản” Việt Nam đầu tiên đến Mỹ. Sau Lê Lựu là nhiều nhà văn, nhà thơ khác như Nguyễn Quang Sáng, Nguyễn Khải, Nguyễn Duy, Phạm Tiến Duật, Hữu Thỉnh, Đỗ Chu, Lê Minh Khuê, Nguyễn Quang Thiều, Trần Anh Thái, Lâm Thị Mỹ Dạ… Sự xuất hiện của họ trên đất Mỹ, cùng với những cuộc hội thảo, thuyết trình, đọc tác phẩm, đã từng bước giúp cho những người Mỹ thêm hiểu về Việt Nam, xóa đi những hiềm khích, hiểu lầm trong lòng những Việt kiều ở Mỹ.

Tràn đầy một tình yêu thương, sự cảm thông, gắn bó là cảm nhận chung về những người bạn văn nghệ sĩ của hai nước tại Hội thảo này. Những câu chuyện buồn có, vui có, ngậm ngùi cũng có đã được họ kể lại. Hai mươi năm là một quãng thời gian đủ dài để thấu hiểu những khó khăn họ đã đi qua để nhẫn nại xây một cây cầu hữu nghị bằng văn hóa. Những người bạn nhà văn ở Trung tâm William Joiner hầu hết là những cựu binh trở về từ cuộc chiến tranh Việt Nam, với ám ảnh quá khứ đè nặng, đã quyết tâm đi trên con đường khó khăn ấy để tìm thấy sự bình yên trong chính tâm hồn mình và cũng chính là để hàn gắn những vết thương đau mà họ biết rằng còn đang hiện diện mỗi ngày trên đất nước Việt Nam, cho dù chiến tranh đã kết thúc. Nói như nhà thơ Nguyễn Duy thì đó còn là một “nhiệm vụ của lương tâm”.

Nhà thơ Hữu Thỉnh, trong bài phát biểu của mình, ngoài việc nhấn mạnh những đóng góp của văn nghệ sĩ hai nước trong quá trình hòa giải giữa hai dân tộc, đã không quên nhắc về những nạn nhân chất độc da cam, để nói rằng, nước mắt vẫn còn đó, cho dù đã hết đạn bom. Ông mong rằng, các nhà văn hai nước, những người nhân danh lương tâm của nhân dân có thể làm nhiều hơn nữa để xoa dịu những nỗi đau này. Đó cũng là một mệnh đề không nằm ngoài câu chuyện văn học.

Hoà giải và hội nhập bằng văn hoá (phỏng vấn nhà văn Đỗ Chu)

– Thưa nhà văn Đỗ Chu, là thành viên tham dự Hội thảo Văn học Việt Nam – Hoa Kỳ sau chiến tranh, lắng nghe những ý kiến, những câu chuyện của các nhà văn, nhà thơ, các trí thức đến từ hai nước, ông đánh giá thế nào về sức mạnh của văn hóa nói chung và văn học nói riêng trong việc hóa giải những bất đồng, hận thù giữa hai dân tộc?

+ Hành trình 20 năm qua là một chặng đường đòi hỏi các nhà văn cả hai nước Việt – Mỹ đều phải có một cái nhìn vừa dũng cảm lại vừa có tầm văn hóa. Nhà văn, GS Kevin Bowen là một minh chứng cụ thể. Ngay từ lần đầu tiên trở lại Việt Nam, khi quan hệ hai nước còn nhiều căng thẳng, Kevin Bowen đã một mình đi trên đường phố Hà Nội, Sài Gòn, không phải như những người Mỹ thông thường, mà như một nhà thơ lớn của ngày mai, một trí thức, một trí tuệ với đầy khát vọng tốt đẹp cho con người của cả hai nước, cho một Việt Nam nhiều nếm trải mà tự bản thân ông ấy thấy mình phải chịu trách nhiệm, sau đó là nước Mỹ. Và Kevin đã tìm đến với các nhà văn Việt Nam, đó là những cuộc gặp gỡ tiếp nối mỗi ngày một thêm cởi mở và tin cậy.
Tôi đánh giá cao những lần gặp ban đầu của các nhà văn hai nước. Đó là những bước đi táo bạo của những con người táo bạo, để nhận chân ra trách nhiệm sống của mình, cũng như trách nhiệm của văn học nghệ thuật. Và chúng ta cùng nhận thức rằng, tiếng nói của văn học nghệ thuật lợi hại ở chỗ, nó có thể thay cho súng gươm, bom đạn, và có thể làm thay đổi những tình thế tưởng như khó có thể vượt qua.

– Là nhà văn đã từng đến Mỹ, tham dự các hội thảo về văn học, nói chuyện với công chúng Mỹ, ông nhận thấy sự quan quan tâm của người Mỹ dành cho các nhà văn và văn học Việt Nam như thế nào?

+ Bản thân tôi có trong danh sách các nhà văn cựu chiến binh Việt Nam tham dự cuộc gặp mặt đầu tiên với các nhà văn Mỹ. Trưởng đoàn phía Mỹ, không ai khác, chính là nhà thơ Kevin Bowen. Nhưng cuối cùng tôi vắng mặt vì phải đi công tác gấp ở Đông Âu. Đến những cuộc gặp gỡ lần sau, khi thì ở ta, khi thì ở Mỹ tôi mới có cơ hội được tham dự. Có một chuyến sang Mỹ tôi là trưởng đoàn. Ấn tượng chung là vui mừng, vì qua những người cầm bút nhiều phương tiện truyền thông khác mà chính phủ và nhân dân hai nước có thêm niềm tin và hy vọng để đi đến sự hiểu biết và hội nhập.

– Từ cuộc hội thảo này, với tư cách là một người cầm bút, ông nhìn nhận thế nào về tương lai hợp tác và phát triển của hai nước, đặc biệt trên lĩnh vực văn hóa, văn học?

+ Tôi cho rằng, từ cuộc gặp gỡ tại Hà Nội năm 2010 này, tôi tin rằng nhân dân hai nước sẽ gần gũi nhau thêm. Trong gần một thế kỷ qua, đất nước ta đã gặp không ít thử thách gian nan, văn học cách mạng luôn gắn bó với vận mệnh của dân tộc. Và như chị thấy đấy, các nhà văn đến sau luôn biết tiếp nối một cách kiêu hãnh bước đi của những thế hệ trước. Trong quá khứ, chúng ta đã có nhiều bạn bè văn học tin cậy ở nhiều nước trên thế giới, và chúng ta cần phải biết tiếp tục duy trì những tình cảm quý báu đó.
Nay chúng ta lại có những người bạn lớn đến từ Trung tâm William Joiner và trong tương lai không xa, như cái đích lớn của cuộc hội nhập và đổi mới mà cả nước đang đồng lòng đi tới, văn học cũng đang chuẩn bị sức vóc để nối những nhịp cầu anh em với tất cả các nền văn hóa khác nữa.

– Xin cảm ơn nhà văn Đỗ Chu.

Văn học kết nối chúng ta (phỏng vấn nhà thơ Kevin Bowen – Giám đốc Trung Tâm William Joiner, Đại học Massachusetts, Mỹ)

– Thưa nhà thơ Kevin Bowen, ngược dòng thời gian để quay lại thời điểm những năm 80 của thế kỷ trước, ông đã đến Việt Nam trong tâm trạng như thế nào và ông muốn tìm kiếm gì qua những chuyến đi ấy?

+ Năm 1986 tôi rời Boston để thực hiện chuyến trở lại Việt Nam lần đầu tiên sau chiến tranh. Chuyến đi này tương đối khó khăn vì lệnh cấm vận vẫn còn. Việt Nam lúc đó còn rất nghèo, thành phố chỉ toàn tiếng kêu vo vo của xe đạp, rất ít ôtô. Vào ban đêm, ánh sáng chủ yếu là những chiếc đèn dầu. Điện có rồi tắt, thất thường lắm. Tôi đã đi qua những khu vực mà tôi từng có mặt trong chiến tranh. Ở Huế, tôi đã gặp một người lãnh đạo của phong trào kháng chiến địa phương. Ông ấy nói: “Chúng ta đã từng gặp nhau như những người lính cầm súng, giờ chúng ta gặp nhau như những giáo viên cố gắng kiến tạo hòa bình. Hãy nhớ rằng ông luôn được chào đón ở đây”.
Câu nói này đã khích lệ tôi quay trở lại Việt Nam vào năm 1987. Rồi đầu năm 1988 tôi lại quay trở lại Việt Nam trong chuyến đi đầu tiên của phái đoàn thuộc Trung tâm William Joiner với những chuyên gia về y tế, công cộng, bác sĩ, lịch sử, khoa học thư viện, nghệ thuật và hậu quả tâm lý xã hội của chiến tranh ở Mỹ. Cuối năm này tôi lại quay trở lại Việt Nam cùng vợ tôi, một người cũng rất yêu Việt Nam và cũng là người trong 20 năm sau đó đã mở cửa nhà chúng tôi cho rất nhiều khách Việt Nam và họ trở thành những thành viên trong gia đình chúng tôi.

– Thưa ông, vì sao Trung tâm William Joiner lại mời nhà văn Lê Lựu là nhà văn Việt Nam đầu tiên đến Mỹ?

+ Trong chuyến đi đầu tiên đến Việt Nam chúng tôi đã gặp nhà văn Lê Lựu ở một khách sạn tại Sài Gòn. Khi ấy Lê Lựu đang cùng hợp tác với Hồ Quang Minh để làm bộ phim “Thời xa vắng”, bộ phim được chuyển thể từ tiểu thuyết của ông ấy. Chúng tôi nói chuyện ở hành lang khách sạn 3 tiếng đồng hồ. Tôi nhận ra một điều rằng, mặc dù là một cựu chiến binh nhưng Lê Lựu không hề tỏ ra bực tức hay giận dữ, hận thù khi nói về chiến tranh. Ông kể những câu chuyện hết sức hấp dẫn. Ông giới thiệu chúng tôi tới trung tâm nuôi dưỡng những cựu binh tàn tật. Tôi nhận ra ông có một tâm hồn lớn, muốn lo cho những thương, phế binh. Cũng giống như những cựu binh người Mỹ chúng tôi, rất muốn được chăm sóc cho các cựu chiến binh khác. Sau Lê Lựu, theo chương trình, chúng tôi còn gặp gỡ nhiều nhà văn Việt Nam khác nữa. Khi rời khỏi Việt Nam, trên chiếc xe buýt đi ra phi trường, dưới trời mưa tầm tã, chúng tôi đã nhìn thấy Lê Lựu đứng dưới mưa, chặn xe chúng tôi lại để chào từ biệt. Rồi ông cứ đứng vẫy tay dưới mưa như vậy. Hình ảnh đó rất cảm động.
Khi về Mỹ, chúng tôi viết thư mời Lê Lựu sang Mỹ và nhờ người đích thân mang thư tới Việt Nam gặp Lê Lựu. Chuyến đi của Lê Lựu sang Mỹ khi đó rất khó khăn, vất vả. Chúng tôi đã phải nhờ tới sự can thiệp của một người bạn mình khi đó đang làm việc ở Bộ Ngoại giao Mỹ. Tiểu thuyết “Thời xa vắng” của Lê Lựu là cuốn sách đầu tiên chúng tôi dịch và là bản dịch đầu tiên của Việt Nam nhận được tài trợ từ Quỹ Quốc gia vì nghệ thuật.

– Văn học chân chính ở đâu cũng vậy, luôn hướng về cái đẹp, ca ngợi tình thân ái giữa con người với con người, bất kể màu da, chủng tộc, biên giới. Trong hai mươi năm qua, ông và các đồng sự của ông ở Trung tâm William Joiner đã làm được rất nhiều việc cho tình hữu nghị giữa hai nước Việt Nam và Hoa Kỳ, thông qua văn hóa, văn học. Nhớ lại những ngày đầu tiên ấy, ông đã tin tưởng vào điều gì khi lựa chọn con đường đi khó khăn, gian nan như vậy, mà không phải là những con đường khác, cách đi khác dễ dàng hơn?

+ Tôi cho rằng, với nhiều người lính Mỹ trở về sau chiến tranh, Việt Nam là một sự mất mát trong tâm hồn họ. Thực sự là với họ thì chiến tranh chưa kết thúc. Trong chuyến trở lại Việt Nam lần đầu tiên vào những năm 80, tôi đã định hướng sự quan tâm của mình vào các vấn đề khác của Việt Nam như hậu quả chiến tranh, nạn nhân chất độc da cam, chấn thương tâm lý… Nhưng rồi tôi đã được gặp rất nhiều nhà văn Việt Nam. Sự rộng lượng của họ đã làm tôi kinh ngạc. Những cuộc hội thảo văn học được diễn ra ở hai nước đã là những điểm kết nối các văn nghệ sĩ Việt Nam và Mỹ.

Tôi đã may mắn được đón nhiều nhà văn Việt Nam trở thành khách quý của gia đình mình. Họ chia sẻ cùng tôi những giây phút tĩnh lặng trong vườn, cùng nấu ăn và nhìn hoa nở. Đỗ Chu đã từng vẽ chân dung mọi người. Hữu Thỉnh, Nguyễn Quang Thiều, Tô Nhuận Vỹ đã thay nhau bế đứa con mới sinh Lily của tôi. Từ khi có thể tự bước đi những bước đầu tiên, con trai tôi đã chơi bóng rổ ở sân sau với Nguyễn Quang Sáng, Nguyễn Khải, Phạm Tiến Duật và nhiều nhà văn Việt Nam khác. Khi được giáo viên lớp 1 hỏi quốc tịch là gì, con trai tôi đã nói rằng cháu có một nửa quốc tịch là Ireland và một nửa là Việt Nam. Có quá nhiều kỷ niệm…
Trong nhiều năm, những chuyến đi của các nhà văn Việt Nam tới Mỹ mang ý nghĩa “hồi phục” cho chúng tôi rất lớn. Nhìn thấy bạn bè, nghe nhạc, nghe thơ, thăm đền chùa, thắp hương, nhìn con của những người bạn lớn lên, và bạn bè trở thành ông bà; nghe bạn bè nói về đất nước chúng tôi, về cái đúng, cái sai… Việt Nam đã trở thành một nơi giống như để hành hương. Tôi không chắc là chúng tôi tìm kiếm cái gì. Có thể là sự hiểu nhau. Hòa bình. Tình yêu. Sự mở mắt.
Mang văn học Việt Nam đến Mỹ, thông qua hoạt động của Trung tâm William Joiner, đối với tôi không phải là một công việc to lớn, một sự hợp tác giữa các chính phủ. Đó đơn giản chỉ là sự hợp tác giữa những con người. Nhưng rất mừng là chính phủ hai nước đã đi theo tinh thần đó của chúng tôi. Tôi cho rằng, với những đóng góp của mình, các nhà văn Việt Nam và các nhà văn Mỹ đã thực sự làm thay đổi lịch sử. Tôi nhớ rất rõ ngày Mỹ tuyên bố xóa bỏ cấm vận Việt Nam, nhà thơ Nguyễn Duy đang ở Mỹ. Cũng ngày hôm đó thơ của ông được xuất hiện trên một tờ báo lớn của nước Mỹ. Bằng văn học, chúng ta đã thực sự làm được nhiều việc trong 20 năm qua, nhưng hãy nghĩ con đường ấy mới chỉ là bắt đầu.

– Xin cảm ơn nhà thơ Kevin Bowen.

Đến Mỹ, chơi bóng rổ với nhà thơ Mỹ (ghi theo lời kể của nhà văn Nguyễn Quang Sáng)

Với tôi, cuộc hội thảo Văn học Việt Nam – Hoa Kỳ lần này mang một ý nghĩa rất tuyệt vời. Chúng ta là công dân của một nước nhỏ. Nền văn học của chúng ta, so với nền văn học Mỹ cũng là rất nhỏ. Nhưng chúng ta có bản sắc riêng. Chúng ta sẽ không dễ dàng trả lời cho câu hỏi văn học nước mình đi ra thế giới bằng cách nào đây? Thật may là chúng ta có những người bạn văn chương quý từ nhiều nơi trên thế giới, trong số đó có những người bạn đến từ Trung tâm William Joiner. Với tôi, đây chính là một cánh cửa rộng để văn học Việt Nam đến với bạn đọc thế giới. Những người bạn ở đây, những GS, nhà văn, dịch giả như Kevin Bowen, Bruce Weigl, Fred Marchant, Martha Collin, Nguyễn Bá Chung… đã và đang giúp chúng ta làm một công việc lâu dài và đầy hứa hẹn. Như các bạn đã biết, cho dù một người Việt giỏi tiếng Anh bao nhiêu đi nữa thì khi dịch một tác phẩm văn học Việt Nam cũng rất cần đến sự hiệu đính của những người bạn Mỹ. Và chúng ta đang có được một sự hợp tác ăn ý, nhịp nhàng giữa các nhà văn hai nước, thông qua Trung tâm William Joiner.
Mùa hè năm 1989 tôi sang Mỹ, đến Boston dự cuộc hội thảo “Nhìn chiến tranh từ hai phía” với các nhà văn, nhà thơ cựu chiến binh Mỹ. Người đầu tiên tôi gặp là nhà thơ Kevin Bowen. Tôi đã đến ở luôn trong nhà anh. Vốn là một cựu chiến binh trong chiến tranh Việt Nam, trở về từ chiến trường Tây Ninh, Kevin Bowen là tác giả bài báo “Một cuộc chiến tranh khác trong lương tâm người Mỹ”. Kevin Bowen, cũng như nhiều nhà văn Mỹ khác, họ rất nhiệt tình, cho dù họ chưa biết nhiều về văn học Việt Nam. Thật tuyệt vời khi nghĩ lại hình ảnh đẹp, là chúng tôi, những nhà văn cựu chiến binh Việt Nam lại đến ở trong ngôi nhà của một nhà văn cựu chiến binh Mỹ. Chúng tôi đã từng một thời ở hai chiến tuyến. Chúng tôi chơi bóng rổ cùng nhau ở sân sau nhà Kevin.
Trước đó tôi chưa từng chơi bóng rổ. Nhưng tôi là dân chơi bóng bàn, nên bóng rổ không khó đối với tôi. Kevin thì cao lớn, nhưng anh không thắng được tôi. Không phải anh nhường tôi đâu, mà vì thực sự anh không chơi tốt môn bóng rổ. Chúng tôi đã cùng cười vui. Sau đó, Kevin có làm một bài thơ nhan đề “Chơi bóng rổ với Việt Cộng”. Như Kevin đã nói, bài thơ này không chỉ nói về tình hữu nghị mà còn là thông điệp rằng chúng ta có thể giải quyết những sự cố trong đời sống theo một cách khác, hơn là phải dùng đến chiến tranh. Bài thơ này đã trở nên rất nổi tiếng. Tập thơ “Chơi bóng rổ với Việt Cộng” cũng là một trong những tập thơ nổi tiếng nhất của Kevin. Từ những cuộc gặp gỡ như vậy, không chỉ với Kevin Bowen mà còn với nhiều nhà văn, dịch giả, độc giả Mỹ khác nữa, tôi nhận ra rằng văn hóa chính là một phương cách tốt nhất để mở đường cho sự hòa hợp giữa hai nước, xóa bỏ đi những hận thù của quá khứ để hướng tới một tương lai tốt đẹp hơn

________________________________________________________

Advertisements

Trả lời

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: