NGÔN NGỮ & VĂN HÓA

CHÚC MỪNG NĂM MỚI

Archive for Tháng Chín, 2010

Lý Công Uẩn, đường tới thành Thăng Long: Tìm đâu hồn Việt?

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Chín 28, 2010

Nguyễn Đắc Xuân

“Bộ phim Trung Quốc nói tiếng Việt” Lý Công Uẩn, đường tới thành Thăng Long nếu được Việt Nam quyết định chiếu trong dịp đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long là một sự xác nhận trước thế giới rằng 1000 năm trước Việt Nam từng là chư hầu của Trung Quốc. – Nhà văn nghiên cứu lịch sử Nguyễn Đắc Xuân viết.

LTS: Nhà văn – nhà nghiên cứu lịch sử Nguyễn Đắc Xuân gửi tới Tuần Việt Nam bài viết chia sẻ những suy ngẫm, trăn trở của ông khi xem giới thiệu phim Lý Công Uẩn, đường tới thành Thăng Long.

Là một nhà văn nghiên cứu lịch sử ở Huế và không chuyên về chuyện làm điện ảnh, nhưng do tôi có chút kinh nghiệm nghiên cứu cổ trang để “tái hiện lễ đăng quang của vua Quang Trung”- một lễ hội quan trọng trong Chương trình Festival Huế 2008 và là tác giả bài báo “Làm phim Thái tổ Lý Công Uẩn – kiến nghị một giải pháp” đăng trên báo Hồn Việt (số 11, tháng 5-2008) cách đây mấy năm, một vài báo hình và báo điện tử chuyển cho tôi xem một số hình ảnh, đoạn phim ngắn giới thiệu bộ phim cổ trang truyền hình 19 tập Lý Công Uẩn, đường tới thành Thăng Long sẽ phát sóng trong dịp kỷ niệm 1000 năm Thăng Long- Hà Nội. Họ đặt cho tôi một số câu hỏi về sự cảm nhận về bộ phim đó.
Chưa được xem bộ phim dài 19 tập này, khắc họa giai đoạn từ thời tiền Lê đến khi Lý Công Uẩn lên ngôi, quyết định dời đô từ Hoa Lư ra thành Đại La, sau đổi tên là Thăng Long, đặt nền móng vững chắc cho thời kỳ ổn định và phát triển dài lâu của đất nước”, nên tôi chưa có ý kiến gì về nội dung kịch bản, về tư tưởng thời Lý xuyên suốt bộ phim, về thông điệp của triều Lý để lại trong lịch sử VN. Tôi chỉ xin bình luận về những thông tin, hình ảnh đã thu thập được từ những đoạn phim quảng cáo, giới thiệu phim mới.
Không chuyên về chuyện làm điện ảnh, nhất là phim lịch sử, nên bài viết có điều gì bất cập, kính mong các nhà chuyên môn, các nhà sử học, các thức giả bổ cứu hoặc cho tôi một cơ hội được học thêm.

Tác giả kịch bản, đạo diễn, diễn viên- có hiểu lịch sử VN?

Người viết kịch bản: Tác giả kịch bản được công bố là ông Trịnh Văn Sơn – Tổng Giám đốc Công ty CP Truyền thông Trường Thành (có người gọi ông là Sơn Trường Thành – cũng là Giám đốc sản xuất bộ phim). Trịnh Văn Sơn là một người chưa bao giờ được giới điện ảnh VN biết tên là một nhà viết kịch bản phim nói chung chứ chưa đề cập đến người viết kịch bản phim lịch sử nói riêng.
Ông đột nhiên “nổi lên” như một bậc thầy viết kịch bản lớn. Không rõ kịch bản phim lịch sử đầu tay của ông Sơn Trường Thành có được một bậc thầy viết kịch bản phim lịch sử VN nào góp ý trước chưa? Chỉ biết ông đem kịch bản của ông qua nhờ nhà viết kịch bản nổi tiếng của Trung Quốc là Kha Chương Hòa “chuốt lại”.
Ông Kha Chương Hòa là một nhà viết kịch bản phim lịch sử cổ trang Trung Quốc giỏi, nhưng ông chưa hề biết tâm tính người Việt Nam, chưa hề học lịch sử Việt Nam, (nếu có học thì cũng là sự méo mó, xuyên tạc từ sách sử Trung Quốc về Việt Nam). Vì thế tôi nghi ngờ cái sự chuốt đúng đắn của ông Chương Hòa về lịch sử VN quá!
Ông Sơn Trường Thành lại nổi lên như một nhà “đại tư bản” trong giới kinh doanh văn hóa VN. Ông đã bỏ ra đến trên 100 tỷ đồng (nghe nói 7 triệu USD) để thuê người Tàu dựng cuốn phim đầu tay của mình. Ông đóng góp một công trình nghệ thuật kỷ niệm 1000 năm Thăng Long hay ông lợi dụng 1000 năm Thăng Long để kinh doanh văn hóa nghệ thuật? Sự thực như thế nào còn phải chờ thực tế trả lời.
Đạo diễn: Bộ phim Lý Công Uẩn, đường đến thành Thăng Long có 3 đạo diễn:
Đạo diễn Cận Đức Mậu, là một người làm phim cổ trang của Trung Quốc nổi tiếng, tôi rất kinh phục. Nghe nói trước khi bắt tay làm phim, Cận Đức Mậu đã có lần lần sang VN, đến thắp hương ở đền vua Đinh, vua Lê, tượng đài Lý Công Uẩn, tuyển chọn diễn viên và “cảm nhận văn hóa Việt”. Nhưng tôi không tin “ông ấy hiểu rất rõ về VN”, nhất là lịch sử VN như một người có trách nhiệm trong đoàn làm phim đã khẳng định.
Cận Đức Mậu sang VN vái chỗ này, thắp hương nơi kia có khác gì hàng triệu khách du lịch đến VN? Vài cái chắp tay vái lạy, đôi lần thắp vài cây hương không thể chứng tỏ được sự hiểu biết lịch sử và sự kính trọng tổ tiên chúng ta của vị đạo diễn.
Nếu hiểu và tôn trọng lịch sử VN thì không bao giờ ông tùy tiện tạo sự hoành tráng cho bộ phim bằng những cảnh kỵ mã phi trên thảo nguyên vô cùng xa lạ với dân tộc VN như ảnh dưới đây:
Đây là đội kỵ binh của Nguyên Mông. Trong lịch sử từ xưa đến nay VN chưa bao giờ có một đội quân mặc giáp trụ cưỡi ngựa như thế. Đường VN hẹp, nhiều sông suối, cầu nhỏ, không có những cánh đồng cỏ lớn lấy đường đâu cho kỵ binh đi, lấy cỏ đâu cho một đoàn ngựa chiến như thế ăn?
Chỉ có những đạo diễn không biết gì về hoàn cảnh VN mới tự tiện ghép những những màn kỵ binh có sẵn trong phim cổ trang của Trung Quốc vào cho phim VN như thế thôi.
Một thông tin trên mạng tôi không nhớ địa chỉ cho biết bộ phim còn có một đạo diễn thứ hai nữa cũng là người Trung Quốc. Vị này là người phụ tá đắc lực cho đạo diễn chính Cận Đức Mậu, được đạo diễn chính giao thực hiện phần quan trọng của bộ phim.
Đạo diễn Tạ Huy Cường là người VN, đã đạo diễn một số phim ngắn ở VN (đạo diễn game show Chắp cánh thương hiệu) chưa có mấy tên tuổi trong giới điện ảnh VN. Chính anh đã tự nhận là “lần đầu tiên làm phim cổ trang lớn” ở Trung Quốc. Anh không biết tiếng Trung nên khi “không có phiên dịch… thì chúng tôi nói chuyện với ê kíp của Trung Quốc bằng hình thể hoặc nói xong nhìn nhau cười”.
Qua đó ta có thể biết đạo diễn Tạ Huy Cường không có vai trò gì nhiều khi quay các trường đoạn hoành tráng do hàng trăm diễn viên Trung Quốc đóng.
Đạo diễn Tạ Huy Cường có mặt ở trường quay Hoành Điếm, Triết Giang (Trung Quốc) trong thời gian quay bộ phim, có lẽ chỉ trên tư cách một người đi học việc, đi tu nghiệp làm phim cổ trang và được thực tập đạo diễn một số đoạn dân chúng đơn giản thôi.
Vai trò của đạo diễn VN giới hạn như vậy khó có thể tạo được cái hồn Việt cho bộ phim.
Diễn viên: Phim có 45 nhân vật chính, phần lớn những nhân vật chính do diễn viên VN đảm nhận. Diễn viên Tiến Lộc (theo báo chí viết anh vừa được biết đến trong vai ca sỹ Quang Bình đồng tính trong phim Nhà có nhiều cửa sổ) đảm nhận vai Lý Công Uẩn. Lần đầu tiên Tiến Lộc đóng phim lịch sử. Á hậu Thụy Vân (chưa hề đóng phim bao giờ) vào vai Lê Thị Thanh Liên – hồng nhan tri kỷ của Lý Công Uẩn. Diễn viên – NSƯT Trung Hiếu của nhà hát kịch Hà Nội được chọn vào vai Đinh Bộ Lĩnh. Nam diễn viên Hoàng Hải vào vai Lê Hoàn, Phan Hòa trong vai Thái hậu Dương Vân Nga.v.v.
Sự hiểu biết về lịch sử VN đặc biệt là triều Lý của những diễn viên chính này rất mỏng. Do đó mọi diễn xuất của họ đều do đạo diễn Trung Quốc “bảo chi làm nấy”.
Ngoài những diễn viên chính, còn toàn bộ diễn viên đóng thế, hàng trăm diễn viên quần chúng đều thuê người Trung Quốc. Với một dàn diễn viên làm theo ý Trung Quốc hoặc diễn viên Trung Quốc chính cống chuyên đóng phim Trung Quốc như thế thì lấy đâu ra cái hồn Việt để kỷ niêm 1000 năm Thăng Long đây?
Một cháu nhỏ ghiền phim Trung Quốc xem tấm ảnh này:
Cháu liền kêu lên – “Tần Thủy Hoàng! Tần Thủy Hoàng!” Tôi đính chính: “Vua nhà Lý nước mình đó!”. Cháu vui mừng: “Rứa hả ông? Vua Lý nước mình giống Tần Thủy Hoàng. Oai thật!”.
Một người bạn ngồi uống cà-phê bên sông Hương thấy tấm ảnh này trên tay tôi liền có lời bình rằng: “Tổ tiên mình làm gì có cái búi tóc dựng đứng trên chóp đầu như vậy? Đến đầu thế kỷ 19, điện Minh Thành trong lăng Gia Long vẫn chưa có sơn, còn để mộc, huống chi thời Lý cách đó 9 thế kỷ mà cung điện nhà Lý đã sơn đỏ chót như rứa? Nội cái màu sơn đỏ chót đó cũng đã toát lên cái “chất Tàu” của bộ phim rồi!”

Người thiết kế, người sản xuất cổ trang và câu chuyện “Trung hoa hóa”

Chuyện thiết kế cổ trang: Như trên đã viết, cách đây mấy năm, tôi được mời cùng với nhiều nhà nghiên cứu lịch sử ở Huế nghiên cứu thiết kế cổ trang để phục dựng Lễ tế Nam Giao (2004) và lễ đăng quang của vua Quang Trung (2008). Phục trang cổ của Tế Nam Giao chỉ cách chúng ta có hơn 60 năm, trong các thư viện còn nhiều hình ảnh của Pháp để lại nên việc nghiên cứu phục chế cổ trang không khó lắm.
Nhưng việc nghiên cứu phục trang của dân chúng và quân đội của vua Quang Trung trong lễ đăng quang của ông thì vô cùng khó khăn. Không tìm đâu ra hình ảnh trang phục của các dân tộc đã từng phục vụ vua Quang Trung hồi cuối thế kỷ XVIII (chỉ cách nay 2 thế kỷ thôi). May sao chúng tôi đọc được cuốn Voyage to Cochinchina in the Years 1792 anhd 1793 (Hành trình đến xứ Đàng Trong những năm 1792 và 1793) của John Barrow.
Trong sách có nhiều hình ảnh các tầng lớp dân chúng, dụng cụ trong đời sống, thuyền bè, sông núi năm 1792. Người phương Tây vẽ, nên người Việt ra Tây cả. Chúng tôi nhờ các họa sĩ có tay nghề ở Đại học Mỹ thuật Huế vẽ lại các hình vẽ đó bằng nét vẽ VN. Các bạn dù tay nghề cao nhưng phải vẽ đi vẽ lại nhiều lần mới được duyệt để dùng. Đến khi đi may mẫu, thợ may là con cháu của thợ may Cung đình Nguyễn ngày xưa nhưng cũng phải may đi may lại nhiều lần mới đạt yêu cầu.
Nhờ có phục trang cổ như thế mà cuộc lễ Đăng quang của vua Quang Trung ở núi Bân tháng 12-2008 đã được báo chí và giới nghiên cứu hoan nghênh.
Với một chút kinh nghiệm đó, trong bài “Làm phim Lý Thái Tổ Lý Công Uẩn – kiến nghị một giải pháp ” (Hồn Việt, số 11, 5-2008, tr. 12-13) tôi nghi ngờ khả năng phục chế được “Dân phục, quan phục, vua phục, cảnh trí cách đây 1000 ngàn năm” của VN, và đề nghị hoãn lại việc làm phim Lý Thái Tổ đã đặt hàng cho Hãng phim truyện VN sản xuất. Bài báo của tôi là một trong những ý kiến tham khảo của ông Phạm Quang Long – GĐ Sở VHTT Hà Nội trong việc rút lui quyết định làm phim Lý Thái Tổ với kinh phí 200 tỷ đồng.
Với một chút kinh nghiệm nghiên cứu thiết kế cổ trang năm ấy, tôi xin có ý kiến về việc thiết kế cổ trang phim Lý Công Uẩn, đường đến thành Thăng Long như sau:
Người được mời thiết kể trang phục cổ cho phim là Tiến sĩ Đoàn Thị Tình. Qua báo chí tôi được biết TS Tình đã có một bản thiết kế rất chi tiết giao cho đoàn làm phim đem sang Trung Quốc thuê may. Nhưng vì “tuổi tác” không qua tận nơi để theo dõi việc sản xuất cổ trang được, bà phải nhờ họa sĩ Phan Cẩm Thượng giúp. Đoàn làm phim đã sử dụng trang phục cổ do bà thiết kế và sản xuất bên Trung Quốc.
Nay bộ phim đã xong và đã trích đoạn làm trailer quảng bá rộng rãi trên mạng toàn cầu và báo chí VN. Dư luận la hoảng lên là phim cổ trang “lai Tàu” quá. Bà đã trả lời báo chí trong nước và các đài phát thanh nước ngoài rằng trang phục cổ trong phim đúng như ý của bà, “người Trung Quốc phục chế trang phục ấy không can thiệp gì vào thiết kế” của bà cả.
Trả lời phỏng vấn, bà nói: “Bộ phim về vua Lý Công Uẩn, phía Trung Quốc hoàn toàn không can thiệp vào quá trình thiết kế các bộ trang phục sử dụng trong phim. Gọi những chỉ trích rằng “phim trông quá Trung Quốc “là không có căn cứ”.
Như vậy bà là người chịu trách nhiệm về trang phục của bộ phim. Tôi trân trọng ý kiến của bà. Để rõ hơn tôi xin bà trả lời hộ cho tôi hai sự việc sau:
1) Căn cứ vào tài liệu nào để thiết kế cái mão Bình Thiên của vua Lý có chùm tua trước trán như ảnh trong phim trích dẫn dưới đây? Và bà căn cứ vào tài liệu nào bà cho vai vua Lý Công Uẩn mặc giáp trụ như một võ tướng trong các phim cổ trang của Trung Quốc đã chiếu “búa xua” trên truyền hình lâu nay như sau:
Phải chăng bà đã “Trung hoa hóa” ông vua sáng lập ra triều Lý VN?
2) Bà có ý kiến gì về những câu trả lời phỏng vấn của họa sĩ Phan Cẩm Thượng – người bà nhờ giúp theo dõi việc sản xuất trang phục cổ do bà thiết kế, đã đăng trên báo Hồn Việt (Bài Họa sĩ Phan Cẩm Thượng: “Sang Trung Quốc làm phim lịch sử, rất dễ bị Trung Hoa hóa”, (Hồn Việt số 36, tháng 6-2010, tr. 36-38) sau đây:
Nhà báo Hoàng Đăng hỏi- Có người ở đoàn phim kể rằng, các chuyên gia may phục trang của Trung Quốc có quyền năng rất lớn, vì thế, ngoài những trang phục có sẵn hay trang phục họ may theo cách của họ, ta muốn thay đổi họ cũng không đồng ý. Vậy nên đa phần trang phục và đạo cụ sử dụng từ kho trang phục của họ…
Họa sĩ Phan Cẩm Thượng trả lời- Có 2 loại trang phục: Quan phục và dân phục. Y phục cổ truyền của ta mới chỉ được xem qua hình ảnh vua chúa thế kỷ 17 trở lại chứ trước đây hầu như chúng ta không được biết nhiều. Có tài liệu chép trang phục của vua chúa VN từ thời này sử dụng y phục Trung Quốc và các họa sĩ thiết kế dựa theo tài liệu đó để thiết kế.
Nhưng thợ may Trung Quốc xem thiết kế là biết ngay y phục theo “gốc” Trung Quốc nên họ chữa lại theo nguyên bản trang phục Trung Quốc mà không chấp nhận sáng tác của mình. Ví dụ, trang phục vua Đinh và vua Lê, họa sĩ Đoàn Thị Tình không vẽ hình rồng nhưng thợ may bảo thiết kế Vương phục không thể không có rồng, nếu ta không đồng ý như vậy thì họ không may.
Các nhà làm phim nói, họ (TQ) có quyền rất lớn nên đạo diễn và các nhà làm phim phải theo họ (trường hợp sáng tạo các mẫu mới không theo truyền thống nữa là chuyện khác). Kết quả, ta thiết kế một đằng nhưng thợ Trung Quốc vẫn may theo ý họ… (cột 3 tr. 36 và cột 1 tr. 36)
…Bộ phim do hãng tư nhân đầu tư nên nếu trang phục nào cần thì may, còn không thì thuê vì nếu tất cả trang phục đều may mới thì kinh phí rất lớn. Một bộ áo giáp giá 5.000 tệ (khoảng 15 triệu đồng), mà mỗi tướng lĩnh ra trận cần từ 3 đến 4 bộ giáp nên tiền đầu tư sẽ lớn. Phương án chính là thuê trang phục và khi thuê thì tất nhiên y phục giống TQ.(cột 3, tr.37) (!)
Nội dung trả lời phỏng vấn của Họa sĩ Phan Cẩm Thượng đã đăng trên báo Hồn Việt cách đây 3 tháng hoàn toàn mâu thuẫn với ý kiến bảo vệ bộ phim của bà. Vậy người xem truyền hình VN tin ai? Tin bà là người ngồi ở Hà Nội thiết kế trên giấy hay tin Phan Cẩm Thượng – người theo dõi việc sản xuất 700 bộ trang phục cổ và đưa vào phục vụ đóng xong bộ phim?
Người hóa trang: Viết chuyện trang điểm, hóa trang có liên quan đến Trung Quốc, tự nhiên tôi nhớ đến chuyện “Chiêu quân” thời Hán. Chỉ vì gia đình không biết hối lộ nên Chiêu Quận bị Mao Diên Thọ điểm cho một cái nốt ruồi “sát phu”, không những Chiêu Quân không được vua Hán nhận mà còn bị nhốt vào lãnh cung suýt chết.
Đoàn làm phim của chúng ta không có người Việt đi theo hóa trang và trang điểm cho diễn viên. Người làm hóa trang – trang điểm đều là người Trung Quốc thì làm sao cái mặt của các diễn viên VN có “hồn Việt” được? Đề nghị đoàn làm phim chỉ cho con cháu nước Việt thấy cái “hồn Việt” ở đâu trong hình ảnh vai Lý Công Uẩn sau đây:
Tôi có cảm giác ông Sơn Trường Thành bỏ tiền sản xuất bộ phim để thỏa mãn thị hiếu của người Trung Quốc chứ không phải dành cho người Việt. Một nghìn năm sau con cháu VN tưởng nhớ đến vua Lý Thái Tổ bằng hình ảnh dưới đây sao?
Trẻ con từng xem phim Tàu trên tivi cũng có thể bảo rằng đây là vợ chồng một ông vua Tàu chứ làm sao có thể bảo đó là vua và Hoàng hậu đầu Triều Lý.
Còn hình ảnh vị Quốc sư Vạn Hạnh thì đạo diễn bê ngay hình ảnh của “Sư phụ” Tam Tạng đi thỉnh kinh trong phim TQ hiện đang chiếu trên tivi VN như thế này:
Tôi cũng xin hỏi họa sĩ Phan Cẩm Thượng, người Trung Quốc thiết kế các vai vua quan triều Lý có cái búi tóc dựng ngược trên đỉnh đầu (xem 3 ảnh trên), họ có hỏi ý kiến của cố vấn văn hóa mỹ thuật của đoàn làm phim không?
Trong lịch sử 1000 năm Thăng Long có sự kiện thiên tài quân sự Quang Trung đã đánh thắng 29 vạn quân Thanh hồi đầu Xuân Kỷ Dậu (1789). Trước khi xung trận, trong lời dụ tướng sĩ, vua Quang Trung đã nói lên quyết tâm đánh bại quân Thanh xâm lược để giải phóng Thăng Long, bảo vệ nền độc lập dân tộc, văn hóa dân tộc: “Đánh cho để tóc dài/ Đánh cho để đen răng/ Đánh cho nó chính luân bất phản/ Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn/ Đánh cho sử trí Nam quốc anh hùng chi hữu chủ” [1]
Cách đây trên 220 năm vua Quang Trung làm nên chiến thắng Xuân Kỷ Dậu (1789) khiến cho quan quân nhà Thanh khiếp sợ cũng chỉ để bảo vệ “tóc dài, răng đen”, bảo vệ độc lập dân tộc. Bây giờ ta đang có độc lập, kỷ niệm 1000 năm Thăng Long, trong đó có chiến thắng Xuân Kỷ Dậu (1789) nỡ nào đoàn làm phim “Lý Công Uẩn, đường tới thành Thăng Long” để cho các nhân vật lịch sử VN đội tóc của người Trung Hoa?
Sự có mặt của họa sĩ Phan Cẩm Thượng và cả đạo diễn trẻ Tạ Huy Cường ở trường quay Hoành Điếm chẳng qua chỉ để “làm cảnh”. Nhưng nếu bộ phim được lên sóng ở bất cứ nơi đâu trên thế giới này thì họ vẫn phải chịu một phần trách nhiệm với lịch sử văn hóa dân tộc.

________________________________________
[1] UBKHXHVN, Lịch sử Việt Nam, Tập I, Nxb KHXH, HN 1971, tTr.353

Advertisements

Posted in Điện ảnh | Tagged: , , , , | Leave a Comment »

Chưa có kết luận, Đường tới thành Thăng Long rối tít mù

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Chín 28, 2010

Gia Vũ

(VTC News) – Ngày Đại lễ cận kề, Lý Công Uẩn – Đường tới thành Thăng Long vẫn bị nghẽn trong khâu kiểm duyệt. Trong khi đó, có rất nhiều ý kiến trái chiều về hồn Việt trong bộ phim này. Công ty Trường Thành sẽ sớm có một cuộc gặp gỡ báo giới để sẻ chia thêm những thông tin nóng hổi.

Đã có rất nhiều sự phản đối của công chúng, báo giới và cả những nhà nghiên cứu xung quanh bộ phim này. Ở đây, vấn đề “đứa con lai” được đưa ra bàn luận không đơn giản là sự học hỏi, giao lưu về văn hóa nữa mà được đẩy lên ở mức độ cao hơn là bản lĩnh văn hóa, vấn đề về lịch sử và truyền bá lịch sử và văn hóa cho người xem…

Một trong số những người phán đối gay gắt nhất về bộ phim này là nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân. Rất nhiều dẫn cứ về cái gọi là “phim Trung Quốc nói tiếng Việt” được nhà Huế học này đưa ra để bảo vệ cho luận điểm của mình. Trong đó có thể kể đến võ thuật, kiến trúc ba tầng mái trong bối cảnh cung điện, đầu đao của công trình và đến cả bối cảnh Bắc Bộ cũng được “dựng lên một cách tùy tiện, giả tạo thua cả sân khấu cải lương do nông dân Nam Bộ đóng”.

Đồng thời, ông cũng tỏ ra nghi ngờ về việc tác giả kịch bản của bộ phim này là Giám đốc Công ty Trường Thành.

“Trịnh Văn Sơn là một người chưa bao giờ được giới điện ảnh VN biết tên là một nhà viết kịch bản phim nói chung chứ chưa đề cập đến người viết kịch bản phim lịch sử nói riêng. Ông đột nhiên “nổi lên” như một bậc thầy viết kịch bản lớn. Không rõ kịch bản phim lịch sử đầu tay của ông Sơn Trường Thành có được một bậc thầy viết kịch bản phim lịch sử VN nào góp ý trước chưa. Chỉ biết ông đem kịch bản của ông qua nhờ nhà viết kịch bản nổi tiếng của Trung Quốc là Kha Chương Hòa “chuốt lại” – ông Nguyễn Đắc Xuân viết.

Với tất cả những nghiên cứu của mình, ông Xuân cho rằng không nên công chiếu bộ phim này trong dịp Đại lễ 1000 năm. Đồng thời, cũng cần phải xem xét kế hoạch xuất khẩu bộ phim này từ phía Trường Thành.

Cũng lên tiếng phản đối và cho rằng Lý Công Uẩn – Đường tới thành Thăng Long là một bộ phim Trung Quốc, đạo diễn Bùi Thạc Chuyên (thành viên thẩm định bộ phim) trong lần trao đổi gần nhất với chúng tôi khẳng định tiếp rằng: “Đó là một bộ phim Trung Quốc, không cần phải bàn cãi”. Nhưng ông Chuyên nằm trong hội đồng thẩm định phim, khi ông nói ra, tức là phải có căn cứ thuyết phục. Chúng tôi lật ngược lại để tìm lý giải rõ ràng hơn từ đạo diễn này. Tuy nhiên, ông chỉ đưa ra một đáp án ngắn gọn: “Đạo diễn Trung Quốc, biên kịch Trung Quốc, bối cảnh Trung Quốc và diễn viên phụ người Trung Quốc. Như vậy, chủ thể sáng tạo bộ phim là người Trung Quốc, vì thế bộ phim là Trung Quốc”. Ông đã không nói thêm nhiều với lý do “nếu tranh cãi thì sẽ rất dài và không cần thiết”.

Bên cạnh đó, sự phản đối còn được “chắp thêm cánh” là tiếng nói dư luận. Độc giả đã bình luận rất nhiều về bộ phim với kết luận rằng đó là một bộ phim cổ trang Trung Quốc, Lý Công Uẩn giống Tần Thủy Hoàng… Bộ phận độc giả này cũng phản đối việc công chiếu bộ phim.

Trong khi đó, một trong những người chịu trách nhiệm về văn hóa và trang phục trong bộ phim, họa sỹ Phan Cẩm Thượng cuối cùng cũng quyết định đăng đàn nói về vụ việc, đưa ra những lời tâm huyết. Ông đã nhận một phần lỗi về mình với việc bộ phim bị gây cảm giác “Trung Quốc hóa”. Tuy nhiên, đứng ở vị trí là người cố vấn, lời nói của ông trong bộ phim không có ý nghĩa quyết định. Ông cho biết, ở Trung Quốc, với bối cảnh và những con người Trung Quốc cụ thể, khó có thể lựa chọn được những cái hoàn toàn Việt Nam. Theo lời ông thì thợ may Trung Quốc đã tác động vào biến dạng trang phục của bộ phim do Tiến sĩ Đoàn Thị Tình thiết kế. Tuy nhiên, theo ý của bà Tình thì trang phục của bà được giữ trọn vẹn. Ở đây có một sự mâu thuẫn trong những phát biểu của Tiến sĩ Đoàn Thị Tình và họa sỹ Phan Cẩm Thượng. Tất nhiên, những phát biểu của họa sỹ Phan Cẩm Thượng đáng tin cậy hơn vì ông là người trực tiếp sang Trung Quốc khảo sát và theo dõi tiến trình bộ phim.

Tuy nhiên, không phải không có những đồng cảm với bộ phim này. Một trong những ý kiến theo dòng này là của giáo sư Đinh Xuân Dũng, ủy viên thường trực Hội đồng lý luận phê bình văn học nghệ thụât Trung ương, cố vấn Hội đồng thẩm định kịch bản Lý Công Uẩn – Đường tới thành Thăng Long. Ông cho rằng, phim có chất Việt Nam, thể hiện sinh động, với tình cảm sâu đối với lịch sử dân tộc, phản ánh trung thực với những nét cơ bản nhất bằng ngôn ngữ điện ảnh về giai đoạn Đinh Tiền Lê và Lý với nhân vật trọng tâm là Lý Công Uẩn.

Theo ông, những hạn chế của bộ phim nên được thông cảm khi Việt Nam không có trường quay, không có đạo diễn thực sự đủ tầm, không có lực lượng diễn viên đông đảo, thiếu thốn đạo cụ, trang phục… “Cái quan trọng ở bộ phim là ý tưởng và bản lĩnh của người làm phim trong việc giữ bản sắc Việt Nam. Có thể sử dụng trường quay, trang phục (may tại Trung Quốc) thậm chí cả đạo diễn Trung Quốc song tính cách nhân vật, mối quan hệ của người Việt Nam trong phim vẫn giữ chuẩn. Chúng ta nên nhớ rằng, kịch múa Xô Viết – Nghệ Tĩnh, tác phẩm đỉnh cao của nghệ thuật múa Việt Nam trước đây do đạo diễn người Triều Tiên là Kim Hoàng dàn dựng”.

Một độc giả tên Hổ Phách đăng phản hồi trên trang Tin tức Online thì viện dẫn những chứng cứ cho rằng có rất nhiều yếu tố dân tộc trong bộ phim này. Trong đó có thể kể đến áo tứ thân của phụ nữ trong phim, rồng Lý trên áo của vua, cờ có những chòm sao, thiếu niên tóc ba chỏm, hình vẽ chiến binh thời Trần, hoàng bào màu đỏ tía… Tác giả cho biết, những kiến thức trên có được do quá trình học hỏi, nghiên cứu văn hóa của hai triều đại Lý Trần trong một thời gian dài.

Phía công ty Trường Thành khẳng định, họ sẽ chỉnh sửa bộ phim theo yêu cầu của Cục Điện ảnh. Mới đây trao đổi cùng chúng tôi, ông Trịnh Văn Sơn cho biết, sắp tới, họ sẽ tổ chức một cuộc gặp gỡ báo giới để thông báo những thông tin mới về tiến trình đưa bộ phim đến với công chúng. Đồng thời, cũng đính chính một số điểm mà theo đơn vị này là do báo giới đã đưa tin không chính xác trong thời gian vừa qua.

Hiện tại, tất cả mối quan tâm của công chúng và dư luận về bộ phim Lý Công Uẩn – Đường tới thành Thăng Long đang đổ dồn về Cục Điện ảnh – Đơn vị được giao nhiệm vụ thẩm định bộ phim. Sau lần thẩm định đầu tiên với những yêu cầu chỉnh sửa đề “bớt Trung Quốc hóa”, đến nay, vẫn chưa có thêm bất kỳ thông tin nào từ phía Hội đồng thẩm định. Ông Lê Văn Minh (Cục phó, Cục Điện ảnh) nói ngắn gọn với VTC News rằng, chưa có gì mới về bộ phim và không cung cấp thêm bất cứ thông tin nào. Cục trưởng Cục Điện ảnh Lại Văn Sinh thì cho rằng: Bao giờ sửa xong, Hội đồng sẽ tư vấn cho các cơ quan lãnh đạo cấp trên. Ông Sinh nói: Quyền cao nhất tôi cho là của Ban chỉ đạo quốc gia Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long. Như vậy, quá trình xem và thẩm định bộ phim vẫn đang được tiến hành và tiếp tục chờ đợi.

___________________________________________________________

Posted in Hà Nội nghìn năm, Điện ảnh | Tagged: , , | Leave a Comment »

Nhà văn Bảo Ninh sau hai chục năm thầm lặng

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Chín 28, 2010

Đã gần 20 năm, sau khi cuốn tiểu thuyết “Thân phận của tình yêu” (tức “Nỗi buồn chiến tranh”) của nhà văn Bảo Ninh được trao giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam. Đến nay, hình như vẫn chưa có cuốn tiểu thuyết nào viết về chiến tranh Việt Nam được tái bản nhiều đến vậy và vẫn chưa có cuốn tiểu thuyết nào cùng đề tài vượt qua được nó.

1 Những năm trước đây, tôi và Bảo Ninh thường gặp nhau ở tòa soạn báo Văn nghệ 17 Trần Quốc Toản, cái chất lính vùng “đất thánh” (chỉ những thanh niên sinh trưởng, lớn lên ở Hà Nội những năm chiến tranh) trong anh vẫn giữ nguyên như hơn ba mươi năm về trước, vẫn ngang tàng, kiêu bạc và hào hoa. Cái chất lính- chất văn ấy là nét nổi trội trong phong cách Bảo Ninh. Trong cuộc đời văn chương của mình, tôi chỉ gặp 2 người như vậy: nhà thơ Lưu Quang Vũ và nhà văn Bảo Ninh. Họ là hai cái mốc lặng lẽ chói sáng của cả một chặng đường văn học chiến tranh trong ba thập kỷ cuối cùng của thế kỷ trước.
Không ai biết được đích xác con số tái bản cuốn tiểu thuyết của Bảo Ninh trong gần hai chục năm qua là bao nhiêu bản in, nhưng theo một số nhà văn cho biết, “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh đã được tái bản khá nhiều lần ở trong và ngoài nước và cho đến nay, đây là cuốn tiểu thuyết của một nhà văn Việt Nam được in nhiều nhất ở nước ngoài. Cuốn sách của Bảo Ninh đã được dịch ra nhiều thứ tiếng và có mặt ở khá nhiều thư viện của một số trường Đại học danh giá trên thế giới. Có lẽ văn chương thời hiện đại ở xứ ta, chỉ có tác phẩm của Bảo Ninh và Nguyễn Huy Thiệp (hai nhà văn sống ở trong nước) được nước ngoài in nhiều đến vậy.
Khi tôi trao đổi chuyện này với Bảo Ninh trong một bữa rượu mới đây bên bờ sông Hồng, anh trầm ngâm bộc bạch với bạn bè văn chương: “Nếu nói trong những năm qua, tôi chỉ sống bằng nhuận bút tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh” thì cũng không hẳn thế đâu, vì tôi còn viết truyện ngắn, viết tùy bút, viết báo…nói tóm lại là sống bằng nghề viết. Nhưng cũng phải nói rằng hơn một chục năm qua, tôi đã sống một cách rất khiêm tốn, đạm bạc bằng nhuận bút của cuốn tiểu thuyết này, còn khoản lương “còm” ở Báo Văn Nghệ thì làm sao mà sống nổi hả mấy ông, tôi cũng phải sống chứ!”.
Bữa rượu hôm đó, Bảo Ninh trả tiền, dứt khoát không cho ai trả, và anh trả thêm cả tiền taxi mời mấy bạn văn từ nội đô Hà Nội ra tận gần chân cầu Thăng Long ngồi hóng gió sông Hồng và đàm đạo văn chương. Bữa rượu ấy, ngoài tôi, còn có hai nhà thơ Nguyễn Bình Phương và Trần Anh Thái. Lúc Bảo Ninh say rượu, anh thường cười mủm mỉm, trông khá dễ thương. Đầu anh khi ấy cứ ngoẹo về một bên, khẽ lắc mái tóc xoăn bạc, ánh mắt hóm hỉnh nhìn xoáy vào mặt bạn bè như dò hỏi điều gì đó.
Hỏi kỹ chuyện, tôi mới biết, cứ mỗi lần cuốn tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh” của nhà văn Bảo Ninh được một nhà xuất bản nào đó ở nước ngoài xuất bản, là bạn bè thân tình với anh ở bên đó lại tìm đến, đòi cho kỳ được số tiền nhuận bút từ số sách được tái bản để gom góp gửi về Việt Nam cho anh. Thậm chí, có người bạn ở nước ngoài nói với Bảo Ninh: “Tớ thề không để xót một xu nhuận bút nào của cậu cả! họ cứ in thêm một bản của cậu là tớ đến đòi ngay phần trăm nhuận bút một bản in cho cậu! tớ không để cho thằng nào quỵt nhuận bút của cậu, không để cho nhà xuất bản nào ăn không mồ hôi, xương máu của Bảo Ninh!”.
Thế thì Bảo Ninh sướng rồi! chí ít là anh đã có những người bạn chí tình với anh ở những chốn phù hoa xa xôi như vậy. Thật ra, không phải nhà văn Việt Nam nào có sách in ở nước ngoài cũng có được cái “diễm phúc” như Bảo Ninh. Mới đây, nhà văn Chu Lai đã phát hiện một số cuốn tiểu thuyết của anh được in ở nước ngoài mà anh không hề nhận được một xu tác quyền nào, như thể nhà văn đã bị các “nhà sách” bên đó quỵt tiền nhuận bút.
Bảo Ninh có lẽ may mắn hơn nhiều, với tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh”, cứ vài năm một lần, anh lại được đích danh một nhà sách hay một hiệp hội xuất bản nào đó ở nước ngoài mời sang chơi. Vậy là anh nhà văn chỉ sống bằng nhuận bút một cuốn tiểu thuyết lại được vi vút trời Tây theo kiểu “Nhất bản vạn lợi”. Nhưng tôi biết rằng, sống bằng nhuận bút theo kiểu ấy thì nhà văn Bảo Ninh cũng phải tùng tiệm, dè sẻn lắm mới đủ chi dùng cho gia đình anh trong thời buổi khó khăn này. Và cái điều anh không nói ra thì bạn bè cũng đều biết cả. Khổ một nỗi, cứ mỗi lần bạn bè gọi đi nhậu thì Bảo Ninh không bao giờ chịu đến “suông”. Hôm thì anh xách theo chai rượu tây uống dở, hôm thì anh lại cố tình để ló ra mấy trăm ngàn đồng trên túi áo ngực theo kiểu “túi có đầy tiên”-hay “túi có tiền đây” làm bạn bè cứ ái ngại cho cái kiểu cách “nho nhã” đầy chất Hà Thành của Bảo Ninh.

2 Hôm mới đây, mấy anh em chúng tôi về quê nhà thơ Nguyễn Bình Phương ở trên tận Thái Nguyên. Khi biết ông cụ thân sinh của Bình Phương là cựu binh sư đoàn 308 từng tham gia trận đánh lịch sử ở đồi A1-Điện Biên Phủ, Bảo Ninh cứ xoắn lấy. Hai bác cháu suốt buổi chỉ tâm sự về những nỗi niềm trận mạc, những hy sinh thầm lặng của những người lính vô danh. Bảo Ninh kể: “Hồi cháu chiến đấu tại mặt trận B3 ở Tây Nguyên, cứ nghe thấy lính sư 308 vào là mừng lắm, “Quả đấm sắt” mà vào là sẽ có đánh lớn và thắng lớn. Cháu hồi ấy ở sư đoàn 10, chỉ vào loại “đàn em”của sư 308 thôi nhưng cũng oách lắm bác nhé…!”.
Chúng tôi lặng người đi khi nghe Nguyễn Bình Phương kể lại chuyện cùng một số nhà văn trở lại Tây Nguyên, vào thăm sư đoàn 10. Hôm ấy, vị sư trưởng đã dẫn các nhà văn đi thăm nhà bảo tàng của sư đoàn 10, nơi khắc tên 10.000 người lính đã hy sinh trong chiến tranh, và nói: “Hôm nay, đón đoàn nhà văn tới thăm, có đông đủ cả một sư đoàn dưới mặt đất và một sư đoàn trên mặt đất…”. Chiến tranh đi qua đã hơn 30 năm mà những vết thương trong hồn bao người lính trận vẫn còn như rỉ máu. Với Bảo Ninh chắc cũng vậy, những vết thương trận mạc ấy không chỉ hằn dấu trong từng trang viết của tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh” mà vẫn còn đang thao thức, trằn trọc nơi cuốn tiểu thuyết mới anh sắp hoàn thành cũng với đề tài chiến tranh.
Theo tôi, Bảo Ninh (tên thật Hoàng Ấu Phương, sinh năm 1952) là một nhà văn thầm lặng giầu tâm trạng trong đa số những người viết thầm lặng của ngày hôm nay. Rời quân ngũ cùng bộ đồ lính bạc phếch trên người, anh lang thang kiếm sống đâu đó với những công việc chẳng lấy gì làm vui vẻ. Chỉ đến khi ba của anh, Giáo sư ngôn ngữ học Hoàng Tuệ (Khoa văn Trường Đại học Sư phạm Hà Nội) dắt anh đến nhà người bạn thân là Giáo sư Hoàng Ngọc Hiến (Trường viết văn Nguyễn Du) thì cuộc đời Bảo Ninh bước sang một trang khác. Ngày ấy, mặc dù điểm thi vào trường viết văn của Bảo Ninh là khá thấp, nhưng với “con mắt xanh” lão luyện trong nghề văn của mình, giáo sư Hiến vẫn quyết định nhận anh vào học vì có lẽ, ngay từ thời điểm ấy, ông đã phát hiện được một tài năng văn chương cho đất nước sau này. Phải nói, giáo sư Hiến là một người thầy rất uyên bác, sâu sắc và đầy khe khắt nên việc ông nhận “truyền thụ” nghề văn cho Bảo Ninh là chuyện không hề bình thường.
Khi đọc những bản thảo truyện ngắn đầu tay viết về đề tài chiến tranh của Bảo Ninh, giáo sư Hiến khuyên anh chưa nên công bố vội, hãy viết lại cho kỹ hơn và hay hơn. Quả không sai, chỉ sau đó một thời gian, ngay khi còn đang theo học dưới mái trường viết văn Nguyễn Du, bản thảo cuốn tiểu thuyết đầu tay “Nỗi buồn chiến tranh” (tức “Thân phận tình yêu”) đã được Bảo Ninh hoàn thành một cách xuất sắc và gây sự bất ngờ lớn với ngay cả người thầy đang dìu dắt anh là giáo sư Hoàng Ngọc Hiến. Ngay sau khi được công bố, năm 1991, “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh được trao giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam và tên tuổi của anh lập tức gây sự chú ý của cả văn đàn trong và ngoài nước. Tâm sự về thành công bước đầu ấy, Bảo Ninh khiêm tốn: “Thật ra, đấy là sự ghi dấu của nền văn học Việt Nam thời đổi mới nên một tác giả mới như tôi vẫn được chú ý, và cuốn “Nỗi buồn chiến tranh” đã nhận được giải thưởng vào thời kỳ đặc biệt đó, thời kỳ văn học có những thay đổi sâu sắc và đích thực”.

3 “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh là một khúc ca bi tráng, đau thương và tàn khốc về chiến tranh. Nỗi buồn ấy đã ám ảnh và day dứt nhiều thế hệ ở cả hai phía, từng hành trình đi qua cuộc chiến đẫm máu ấy. Nhưng vượt lên trên tất cả những mất mát, u ám và tuyệt vọng là tình yêu con người và tình yêu cuộc sống đã cứu rỗi phần còn lại của thế giới này. Và những trang văn của Bảo Ninh trong “Nỗi buồn chiến tranh” đã hướng đến những chân trời hy vọng ấy. Mười mấy năm sau, khi tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh” được một nhóm các nhà sản xuất điện ảnh nước ngoài chuyển thể thành kịch bản phim truyện và sắp khởi quay thì nhà văn Bảo Ninh yêu cầu tạm dừng lại. Khi ấy, nhà văn cảm thấy có gì không ổn từ phía kịch bản phim truyện nên anh đề nghị phải sửa lại. Rồi sau khi xem phần sửa lại, thấy vẫn chưa được, Bảo Ninh thấy nản vì sự bất đồng với nhà biên kịch và anh và tuyên bố đứng ngoài cuộc chơi điện ảnh này.
Là một nhà văn đã từng lăn lộn sống chết trong chiến tranh tàn khốc, chắc hẳn Bảo Ninh không muốn sự thật đau thương và nghiệt ngã ấy được nhìn bằng một lăng kính khác so với những trang văn trong tiểu thuyết của anh. Những trải nghiệm máu xương trong đời sống chiến tranh với cái nhìn đầy nhân bản của một nhà văn còn may mắn sống sót như một nhân chứng, đã khiến anh phải thận trọng, dè chừng trước những khuynh hướng nghệ thuật có thể làm biến dạng chính những trang văn của mình. Nhà biên kịch điện ảnh có thể đồng sáng tác để nâng cao tác phẩm văn chương nhưng không thể làm biến dạng một chủ đề sự thật mà nhà văn đã thai nghén và chuyển tải trong cuốn tiểu thuyết như một nội hàm tư tưởng của mình. Và qua đấy, ta có thể thấy Bảo Ninh đã có trách nhiệm như thế nào với cuộc sống này, với đất nước này trong tư cách là một nhà văn từng đi qua chiến tranh và viết về chiến tranh một cách chân thực, lãng mạn, xúc động và đầy nhân văn.
Dạo này Bảo Ninh thường xuyên tắt máy điện thoại di động, anh viết đơn xin nghỉ không ăn lương của báo Văn Nghệ, nói là để tập trung cho sáng tác. Gặp nhau cách đây vài hôm, khi tôi hỏi chuyện này, Bảo Ninh nói “Thì khối nhà văn sống tự do vẫn sống đàng hoàng đấy chứ, tôi sống chẳng cần đồng lương của báo đâu, giờ là lúc phải nghỉ việc để tập trung vào viết, có thế thôi!”.
Với Bảo Ninh, tôi và bạn bè biết đều biết anh thời điểm này đang dồn trí tuệ và sức lực cho cuốn tiểu thuyết thứ hai viết về đề tài chiến tranh của mình. Bảo Ninh khởi viết cuốn này vào đầu năm 2007, đến nay đã gần ba năm và cuốn tiểu thuyết 300 trang này đang bước vào phần cuối. Được biết, trong cuốn tiểu thuyết mới này, một phần cuộc chiến tranh Việt Nam cách đây hơn ba thập kỷ được tái hiện qua số phận nhân vật chính là một số người lính Sài Gòn ở cả thời điểm trong và sau chiến tranh. Khi bắt tay vào viết, Bảo Ninh cho rằng đây là một cuốn tiểu thuyết khó viết, rất khó viết nhưng nhà văn tin rằng với sự trải nghiệm, quan sát của mình trong thời gian tham gia trận mạc trước đây sẽ là một điều kiện thuận lợi. Một sự tình cờ, cuốn “Nỗi buồn chiến tranh” của anh cũng chỉ 300 trang văn mà đã làm nên một sự kiện văn học. Vậy sau gần 20 năm, cuốn tiểu thuyết thứ hai của nhà văn Bảo Ninh có làm văn đàn nổi sóng như lần trước hay không? Chúng ta hãy đón đợi vào năm tới.

(Văn nghệ Trẻ)
_____________________________________________

Posted in Văn học | Tagged: , , | Leave a Comment »

Lê Kiều Như viết truyện thiếu nhi, phụ huynh phát hãi

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Chín 28, 2010

Sau thất bại của ấn phẩm “người lớn” Sợi xích, cô ca sĩ đã nhanh chóng chuyến hướng ngòi bút sang… trẻ con.

Sau “giường chiếu” là… hoàng tử mèo, công chúa chim

6 tháng trước, tại buổi họp báo giới thiệu “Sợi xích”, đứa con đầu lòng trong nghiệp viết lách của mình, Lê Kiều Như đã hé lộ thông tin về một ấn phẩm dành cho thiếu nhi mà cô đang ấp ủ.

Những tưởng sau khi “Sợi xích” bị dư luận “dập” tơi tả và không có cơ hội xuất hiện trên các kệ sách, cô ca sĩ sẽ bỏ cuộc. Thế nhưng mới đây, người đẹp từng mạnh miệng tuyên bố “được biết đến từ lúc sexy” đã cho ra mắt quyển truyện tranh có tên “Công chúa Chim Sâu và hoàng tử Mèo”.

Tâm sự về ấn phẩm này, Lê Kiều Như cho biết ý tưởng đến với cô sau khi chứng kiến những con vật tội nghiệp bị bắt, bị nhốt. Cô mong muốn cuốn sách này sẽ truyền tải được những thông điệp về bảo vệ thiên nhiên, gìn giữ môi trường tới các độc giả nhí.

Không chỉ chịu trách nhiệm xây dựng nội dung và tạo hình nhân vật, Lê Kiều Như còn tự bỏ tiền túi để thực hiện “Công chúa Chim Sâu và hoàng tử Mèo”. Mặc dù vậy, chính bản thân tác giả cũng không đặt nặng vấn đề lời lãi.

Theo như nữ ca sĩ thích viết lách này thì cô làm vì yêu thích đam mê. Chính vì thế mà người đẹp họ Lê đã khẳng định rằng cô sẽ tiếp tục sáng tác cho thiếu nhi trong tương lai.

Khi được hỏi liệu dư âm của “Sợi xích” có ảnh hưởng tới “Công chúa Chim Sâu và hoàng tử Mèo” hay không, Lề Kiều Như đã mạnh dạn trả lời rằng cô tin độc giả sẽ đón nhận vì mỗi cuốn sách có một đời sống riêng của nó, không thể lấy tác phẩm này để đánh đồng với tác phẩm khác.

Nhiều phụ huynh phát hãi

Có lẽ, mọi việc không đơn giản như cô ca sĩ nghĩ.

Ngay sau thông tin Lê Kiều Như phát hành ấn phẩm mới xuất hiện, đã có nhiều ý kiến trái chiều xuất phát từ các ông bố bà mẹ.

Với nhiều người cực đoan từng đọc qua “Sợi xích”, họ khẳng định chắc chắn sẽ không mua truyện thiếu nhi của Lê Kiều Như cho con cái mình. Bởi với họ, một người từng viết những câu văn nhớp nhúa sẽ không thể sáng tác được một câu chuyện hồn nhiên, trong sáng.

“Thật nực cười là một tác giả vừa có thể viết cái thể loại “nhạy cảm” có thể chuyển ngay sang thể loại truyện tranh cho thiếu nhi. Để tránh rủi ro, tôi sẽ không bao giờ cho con tôi đọc các tác phẩm của Lê Kiều Như.” Độc giả có tên Thanh Huyền chia sẻ.

Một độc giả khác lại viết: “Có ai dám dũng cảm cho con mình đọc truyện Lê Kiều Như không? Tôi thì tôi xin chịu…”

Bên cạnh những “ám ảnh” về nội dung của “Sợi xích” thì lại có những ông bố bà mẹ cảm thấy lo ngại về khả năng ngữ pháp bị đánh giá là ngô nghê của cô ca sĩ.

Thành viên tieulongnhi của một diễn đàn Trẻ thơ đã bày tỏ: “Không bàn chuyện có dung tục hay ko, nhưng riêng cái khả năng dùng từ của cô Như này đã thể hiện 1 sự hạn chế cực độ.” Ý kiến này đã nhận được nhiều sự đồng tình.

Không chỉ ái ngại về nội dung và từ ngữ, một số bậc phụ huynh còn không chấp nhận việc Lê Kiều Như đưa hình ảnh rồng Châu Á vào trong một cuốn truyện cổ tích có phong cách Châu Âu. Điều này khiến họ nghi ngờ về phông văn hóa cũng như hiểu biết của tác giả.

Mặc dù bên cạnh đó, cũng đã có một số người lên tiếng bênh vực, ủng hộ Lê Kiều Như với lần trở lại này. Họ cho rằng không thể đánh giá một tác phẩm khi mà còn chưa biết nội dung ra sao, hình vẽ như thế nào.

Tuy nhiên, với những điều tiếng quá lớn từ “Sợi xích” thì quả thật, không dễ để “Công chúa Chim Sâu và hoàng tử Mèo” được nhiều độc giả đón nhận.

Theo VNN
____________________________________________

Posted in Văn học | Tagged: , , , | Leave a Comment »

Tiếng Việt trên nhiều bài báo cũng đang khá “lạ”

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Chín 18, 2010

TTO – Thời gian gần đây, báo chí đã đề cập rất nhiều đến việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Nổi cộm là những đoạn văn “ngu ngơ”, lủng củng của các sĩ tử và ngôn ngữ “chat” hết sức “đặc biệt” của các em trong độ tuổi mới lớn.

Thế nhưng, ngay chính lối viết của một số bài báo cũng thiếu sự trong sáng của tiếng Việt, nhất là trong những bài báo được dịch từ các bài báo nước ngoài.

Đọc những bài viết này, độc giả có thể nhận thấy một thứ tiếng Việt rất lạ và tối nghĩa. Đó là kết quả của cách dịch ngô nghê, thiếu cẩn thận. Hiện tượng này ảnh hưởng không nhỏ đến việc giữ gìn cái hay, cái đẹp và cả “cái thần” của tiếng Việt.

Theo kiến thức chủ quan của mình, tôi xin được góp ý một số lỗi thường gặp:

1. Lỗi sử dụng các câu bị động: các câu dạng bị động thường được sử dụng rất thường xuyên trong tiếng Anh – nhất là khi chủ thể của hành động không cần được nhắc tới. Tuy nhiên, trong tiếng Việt, các câu dạng chủ động phổ biến hơn. Vì thế việc dịch quá sát nghĩa sẽ làm cho câu văn rất chói tai và tối nghĩa.

“Trong những ngày đầu, đất đai ở miền trung Brasilia, nay là một địa điểm được Unesco công nhận là di sản thế giới, bắt buộc phải mua và được giao cho các bộ của chính phủ.” [1]

“Không có hành động nào được thực thi cho tới ngày 10 của tháng này, khi quan tài được quật lên để chuyển tới khu chôn cất của gia đình tại hạt Henderson” [2]

“Không có con phố nào là ít được đi ở khu vực này” [3]

2. Lỗi sử dụng giới từ

“Chi Cục Kiểm lâm tỉnh Thừa Thiên – Huế vừa tìm ra một con gà Lôi Lam, hiện đang nằm vào sách đỏ của thế giới” [4]

3. Lỗi sử dụng từ:

“Sau gần 10 ngày rực sáng tại Sân vận động Trung tâm Lào, lúc 19 giờ 10 phút tối nay (18.12), ngọn lửa SEA Games 25 – ngọn lửa của tinh thần thể thao Olympic, của tình hữu nghị các nước Đông Nam Á – đã chính thức khép lại, đánh dấu một mùa đại hội thể thao khu vực đầy thành công” [5]

Trong tiếng Việt, cách nói “ngọn lửa chính thức khép lại” là cách nói không chuẩn.

“Họ đã thể hiện lòng dùng cảm cao độ khi định xông lên. Xe rất đông người và chỉ có một đường đi ở giữa. Nhưng một khi bạn đã lên xe, không có gì ngạc nhiên nếu bạn bị bắn. Đội xông lên như thế phải là những người rất đặc biệt, được đào tạo đặc biệt và được tuyển chọn vì đức tính dũng cảm, quyết đoán, cộng với sự hiếu chiến. Trong trường hợp này, họ lại hành động như 99% dân chúng làm, đó là quay đầu trở ra. Họ có vẻ như không có sự quyết đoán, hiếu thắng cần thiết để theo vụ việc đến cùng” [6]

“Hiếu chiến” và “hiếu thắng” ở đây mang nghĩa tiêu cực. Liệu một người hiếu chiến và hiếu thắng sẽ được chọn vào “đội xông lên”? Hơn nữa, độc giả sẽ ngạc nhiên vì cách dịch “đội xông lên” của người viết.

“Bẻ khóa điện thoại nội: ‘Đơn giản như…đan rổ’” [7]

Cách so sánh này rất khập khiễng. Trước giờ chưa ai nghĩ việc “đan rổ” là chuyện đơn giản cả.

4. Lỗi diễn đạt

“Với 56.500 foot vuông, chưa tính gác mái, căn nhà quá rộng tới mức Candy Spelling không chắc là nó có bao nhiêu phòng” [8]

“Quy tắc luôn phải là nếu trong quá trình đàm phán, có một cơ hội nổi lên để chấm dứt tình hình, phải chớp ngay lấy”, ông Shoebridge nói (…) Charles Shoebridge nói. “Một lời hứa được đưa ra vì sức ép không phải là một lời hứa mà bạn cần phải bảo toàn danh dự” [6]

“Quy chế mới, thể lệ mới. Nội quy mới lần đầu quy định cho thí sinh từ vòng thi sơ khảo khu vực, chặt chẽ nghiêm ngặt cho cả thí sinh và liên quan giám khảo. Nội quy thí sinh phục vụ kết quả khảo thí (…) Thời điểm kỷ niệm nghìn năm Thăng Long – Hà Nội gợi nguồn cảm hứng cho cuộc thi qua chủ đề Nghìn năm hương sắc. Vừa bản sắc vừa hiện đại trong con người phụ nữ và cảnh sắc quê hương” [9]

Độc giả rất khó hiểu thông tin người viết (hay người dịch) các câu trên muốn truyền tải.

“Giáo viên và các quản lý trường học cho biết trong cuộc phỏng vấn rằng: Ricks đến nhờ sự giới thiệu và một hồ sơ không có vết nhơ. Tuy nhiên, một số cho biết riêng họ đã lo ngại về sự gần gũi của ông với học sinh và có tin đồn về sự lạm dụng, nhưng họ cảm thấy bất lực để làm bất cứ điều gì” [7]

Tiếng Việt chưa từng có một chức danh nào là “quản lý trường học”, và cách nói “cảm thấy bất lực để làm bất cứ điều gì” cũng không phải là cách nói của người Việt.

“Tuy nhiên, nếu Tây Tạng là một Đài Loan mới, thì vấn đề trên đòi hỏi chiến lược ngoại giao cực khéo léo. Phương Tây thường đánh giá thấp sự sẵn sàng chống lại phong trào độc lập nào ở Đài Loan của Trung Quốc, nhưng thực tế, nước này đã phóng tên lửa cảnh báo như trong năm 1996, và điều tương tự giờ đây cũng có thể xảy ra ở Tây Tạng”

“…Nhưng Ấn Độ cần thận trọng để không hành động quá đáng: nước này coi là báo động với hàng chục nghìn lính Trung Quốc được triển khai ở biên giới kể từ cuộc bạo động Lhasa năm 2008, nhưng hầu hết những động thái này là nhằm đòi lại quyền kiểm soát Tây Tạng. Tiến sĩ Taylor Fravel, chuyên gia MIT về tranh chấp biên giới Trung – Ấn, cho hay, nhiều lính Trung Quốc được triển khai tại Tây Tạng là lực lượng an ninh bên trong, thiếu vũ trang hạng nặng hay pháo binh, cho thấy nó không đe dọa Ấn Độ như cánh diều hâu tại Ấn Độ vẫn nghĩ” [10]

Các cụm danh từ, câu phức thường được sử dụng rất nhiều trong tiếng Anh. Vì thế, nếu không khéo léo, người dịch có thể tạo ra một thứ tiếng Việt rất khó hiểu.

5. Lạm dụng tiếng Anh, độc giả không khỏi khó chịu khi đọc một bài báo với “lổn nhổn” từ tiếng Anh trộn với tiếng Việt.

“Khi hỏi muốn unlock điện thoại nội tại một số cửa hàng ở quận Thanh Xuân (Hà Nội), đa số các chủ cửa hàng đều yêu cầu để máy lại (…) Muốn bẻ khóa phải có account của hãng mới can thiệp được (…) Tuy nhiên, hiệu quả đến đâu thì thật khó, bởi hacker cũng sẽ có đủ “ngón nghề, giải pháp” để đối phó” [11]

NGHĨA KB (Đại học Erasmus Rotterdam – Hà Lan)
__________
[1] Báo Dân Trí: http://dantri.com.vn/c36/s36-359851/iran-va-ke-hoach-chuyen-thu-do-ra-khoi-tehran.htm
[2] Báo VietnamNet: http://www.vietnamnet.vn/thegioi/201002/Rung-ron-nhung-vu-chon-song-nguoi-893844/
[3] Báo VnExpress: http://vnexpress.net/GL/The-gioi/Nguoi-Viet-5-chau/2010/07/3BA1E463/?p=3
[4] Báo Dân Trí: http://dantri.com.vn/c20/s20-367271/phat-hien-ga-loi-lam-trong-sach-do-the-gioi.htm
[5] Báo Thanh Niên: http://www.thanhnien.com.vn/thethao/Pages/200951/20091218194421.aspx
[6] Báo Dân Trí: http://dantri.com.vn/c36/s36-417968/10-sai-lam-dan-den-vu-giai-cuu-con-tin-dam-mau-cua-philippines.htm
[7] Báo VietnamNet http://203.162.35.99/cntt/200910/Be-khoa-dien-thoai-noi-Don-gian-nhu-dang-gion-876201/
[8] Báo VietnamNet: http://vietnamnet.vn/kinhte/201004/Rao-ban-ngoi-nha-dat-nhat-the-gioi-gia-150-trieu-USD-906763/
[9] Báo VietnamNet: http://vietnamnet.vn/thegioi/200910/Trung-Quoc-muon-kim-chan-An-Do-873902/
[10] Báo Tiền Phong: http://www.tienphong.vn/Page/PrintView.aspx?ArticleID=508608
[11] Báo VietnamNet: http://vietnamnet.vn/giaoduc/201008/Thay-giao-lam-dung-tinh-duc-be-trai-suot-30-nam-926768/

_______________________________________________

Posted in Chuyện tiếng Việt | Tagged: , , , | Leave a Comment »

Vì sao Biển Đông trở nên nóng hơn?

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Chín 18, 2010

Vaudine England

Thử tưởng tượng có vụ chạm súng giữa hải quân Trung Quốc và Việt Nam ở Biển Đông.
Hay chỉ một sự va chạm tình cờ giữa tàu chiến Mỹ và Trung Quốc
.

Hay khi hải quân Trung Quốc bắt giữ hàng trăm, chứ không phải hàng chục, ngư dân Việt Nam ở vùng biển tranh chấp, khiến Hoa Kỳ lên tiếng ủng hộ Hà Nội – hoặc ngược lại.

Những kịch bản hoàn toàn tưởng tượng? Đúng vậy.

Nhưng tác động của một cuộc xung đột lên vùng biển – mà ngoài bão ra thì chẳng có gì đặc biệt – sẽ vô cùng lớn.

Vận chuyển dầu từ Trung Đông đến Nhật Bản sẽ gặp rủi ro, các nền kinh tế Đông Bắc Á có thể trì trệ, giao thương giữa Trung Quốc và Đông Nam Á có thể bị ngăn chặn vì những vụ trả đũa và còn nhiều hơn thế nếu hai cường quốc lớn nhất thế giới giao chiến.

Báo động

Vì thế sự gia tăng căng thẳng thấy rõ đã làm thu hút giới chuyên gia theo dõi vấn đề Biển Đông.
Khi Ngoại trưởng Mỹ phát biểu ở Hà Nội hồi tháng Bảy, bà đặt cách tiếp cận của Mỹ về phía Đông Nam Á trong việc giải quyết tranh chấp Biển Đông.

Để đáp trả, Trung Quốc mô tả Biển Đông là “lợi ích cốt lõi”, chỉ trích sự “bao vây” và lên án sự can thiệp của Mỹ.

Một loạt bước đi của các tay chơi trong khu vực đã khiến “tình hình lâu nay không còn có thể duy trì”, theo lời Ian Storey, nhà nghiên cứu ở Viện Nghiên cứu Đông Nam Á tại Singapore.

Ông nhận xét có thay đổi “về giọng điệu” và lo ngại trong khu vực “đã gia tăng đáng kể”.

Carl Thayer, giáo sư chính trị học ở Học viện Quốc phòng Úc tại Canberra, đồng ý.

Hành động của Trung Quốc đã làm gia tăng rạn nứt với Việt Nam và gây ảnh hưởng cho quyền lợi chiến lược của Mỹ.

GS. Carl Thayer

Trung Quốc “đã có những hành động khiêu khích để bày tỏ lo ngại an ninh quốc gia. Hành động của Trung Quốc đã làm gia tăng rạn nứt với Việt Nam và gây ảnh hưởng cho quyền lợi chiến lược của Mỹ.”

Ông nói tiếp: “Hoa Kỳ đã phản ứng bằng cách xác định quyền tự do đi lại và phát triển quan hệ đối tác chiến lược với Việt Nam.”

Không tiến triển

Dĩ nhiên Trung Quốc không nhìn như thế.

Nước này vốn đã giận dữ về hoạt động của tàu quân sự Mỹ trong Đặc khu Kinh tế của Trung Quốc (EEZ).

Tuy nhiên, chủ quyền ở toàn bộ Biển Đông là vấn đề lớn hơn nữa, không chỉ vì nghi ngờ, dù chưa được chứng minh, về trữ lượng dầu và khí đốt.

Quan trọng hơn là ngành đánh cá và vấn đề tự do đi qua tuyến đường bận rộn – 80% năng lượng nhập vào Trung Quốc đi qua vùng biển này.

Hồi năm 2002, Trung Quốc và Asean ký Tuyên bố Hành xử để giải quyết tranh chấp.

Nhưng kể từ đó, trong một loạt các cuộc họp, họ không thể thi hành các biện pháp xây dựng lòng tin.

Một nhóm chuyên gia Trung Quốc – Asean về Tuyên bố Hành xử đã chỉ gặp nhau bốn lần kể từ 2004, nhưng riêng trong năm nay có thể gặp nhau thêm lần thứ hai.

Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert Gates cũng sẽ đến dự cuộc họp đầu tiên của các bộ trưởng quốc phòng Asean trong tháng 10. Trung Quốc được mời nhưng chưa nói rõ sẽ dự hay không.

Một số phân tích gia hy vọng các cuộc gặp này sẽ giúp tạo ra quy tắc hành xử thật sự trên biển – nhưng vẫn tồn tại khác biệt căn bản giữa Trung Quốc và Asean.

Mặc dù Trung Quốc vui vẻ khi có quan hệ kinh tế với Asean trong tư cách một khối – ca ngợi thành công của Khu vực Thương mại Tự do Trung Quốc – Asean (Cafta) có hiệ lực từ 2010 – nhưng họ muốn giải quyết các vấn đề chính trị theo cách khác.

Trung Quốc luôn nói tranh chấp chủ quyền cần được giải quyết song phương.

Các thành viên Asean không đồng ý, vì biết nó đưa họ vào thế yếu khi họp với một đại cường đang có vai trò quan trọng cho hầu hết các nền kinh tế trong vùng.

Trong khi các đại cường, Mỹ và Trung Quốc, tranh đua bằng ngôn từ hiếu chiến và một loạt các cuộc tập trận, các nước chính của Asean đang quan sát trong lo ngại.

Với Việt Nam trong tư cách chủ tịch Asean năm nay, vấn đề Biển Đông đã thành nổi bật và Asean đã có một tầm mức đồng thuận mới.

“Đông Nam Á đã từng, và vẫn tiếp tục, nhận thức đầy đủ về cả lời hứa và nguy hiểm mà Trung Quốc đại diện – nên nhớ biểu tượng truyền thống của nước này vẫn là con rồng,” theo lời Dewi Fortuna Anwar, giáo sư nghiên cứu ở Viện Khoa học Indonesia.

“Trong giai đoạn Chiến tranh Lạnh, Trung Quốc bị xem là đe dọa lớn. Nhưng ngày nay, Asean tin rằng cách tốt nhất để đối phó với Trung Quốc, với sức mạnh quân sự gia tăng và tiềm năng kinh tế của họ, là đối thoại và đưa nước này hòa nhập vào trật tự khu vực,” bà viết trên tờ Jakarta Post.
Các chuyên gia đồng ý rằng cán cân quyền lực ở Đông Á đang dịch chuyển.

“20 năm trước, không ai có khả năng thực hành tuyên bố chủ quyền nào. Ngày nay Trung Quốc có điều kiện để theo đuổi ngoại giao đe dọa hơn,” theo lời ông Ian Storey.
“Một khi quân đội Trung Quốc trở nên mạnh hơn, Đông Nam Á nhận thức rõ hơn khoảng cách giữa ngôn từ và thực tế. Kết quả là những lời hoa mỹ của Trung Quốc đang trở nên ít thuyết phục hơn.”
Những rủi ro khi các nước không chịu tìm kiếm sự dàn xếp hòa bình một cách nghiêm túc hơn đang trở nên rõ ràng hơn bao giờ hết.

_________________________________________________________________

Posted in Chuyện đất nước, Quốc phòng các nước, Việt Nam và thế giới | Tagged: , , | Leave a Comment »

Người Việt hiếu học và “hiếu danh”

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Chín 18, 2010

Khương Duy

Người học tưởng rằng mình ham học nhưng thực tế chỉ là khao khát đổi đời, khao khát dùng sự học để lập thân kiểu “hiếu danh”.

Ngô Bảo Châu- hiện tượng hiếu học hiếm hoi

Những ngày qua, việc GS Ngô Bảo Châu đoạt Giải thưởng Fields đã trở thành đề tài được nhắc đến nhiều nhất từ mặt báo cho tới quán nước vỉa hè. Với niềm tự hào và kính trọng dành cho nhà khoa học tài danh mang dòng máu Việt, không ít người đã ngợi ca Ngô Bảo Châu như một “hiện tượng”. Cá nhân tôi cũng tin rằng từ “hiện tượng” dành cho anh là hoàn toàn chính xác, nhưng tôi nhìn “hiện tượng” đó ở một góc độ khác: Ngô Bảo Châu là một trong số những hiện tượng hiếu học hiếm hoi trong lịch sử nền giáo dục Việt Nam, nhất là ở thời hiện đại.
Có thể nhiều bạn đọc sẽ giận dữ và phản đối, bởi từ khi còn nhỏ chúng ta đã thuộc lòng và không chút hoài nghi câu nói: Người Việt Nam có truyền thống hiếu học. Điều này tưởng như mặc định đúng nhưng thực chất lại không đúng.
Bạn bè thế giới đã thừa nhận trí thông minh của người Việt Nam. Nếu thực sự có tinh thần hiếu học, cộng với bản chất “thông minh vốn sẵn tính trời” và một nền giáo dục có truyền thống cả ngàn năm chắc hẳn Việt Nam đã có rất nhiều tên tuổi tầm cỡ thế giới trong lĩnh vực khoa học. Nhưng thực tế ra sao chúng ta đều đã biết. Vấn đề tương tự cũng đã và đang diễn ra ở nước láng giềng gần gũi về lịch sử với nước ta: Trong bài viết đăng trên Tuần Việt Nam gần đây, tướng Trung Quốc Lưu Á Châu đã thừa nhận suốt chiều dài lịch sử mấy ngàn năm, đất nước ông “không có nhà tư tưởng mà chỉ có nhà mưu lược”.
Sự thật, những cây cột chống trời làm nên lịch sử vẻ vang của các lĩnh vực khoa học xã hội và khoa học tự nhiên tuyệt đại đa số đều là người phương Tây. Trí tuệ châu Á hiện nay cũng bắt đầu chứng tỏ bản lĩnh và tỏa sáng trên bản đồ khoa học thế giới, trong đó GS Ngô Bảo Châu là một thí dụ điển hình. Song chúng ta phải thừa nhận rằng họ làm được những điều kỳ vĩ cho khoa học như hôm nay phần lớn nhờ được học tập và nghiên cứu trong môi trường cực kỳ phù hợp của phương Tây. Liệu điều này liên quan như thế nào tới tinh thần hiếu học của người Việt?
Dẫn ra hai thí dụ về Trung Quốc và Việt Nam, tôi cho rằng: Các quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng Nho giáo, về mặt hình thức thường đề cao tinh thần hiếu học bằng những câu răn dạy như Nhân bất học, bất tri lý, song thực chất lại không hiếu học theo đúng nghĩa của từ này, đó là “yêu sự học”.

Và hiện tượng “hiếu danh” của người Việt

Ngay từ thời xa xưa, người Việt Nam chúng ta đã không yêu sự học hành mà chỉ coi là một phương tiện để đổi đời, để làm quan. Bao nhiêu năm sôi kinh nấu sử cũng chỉ để chờ một ngày vượt vũ môn “cá chép hóa rồng”, thoát khỏi cảnh nghèo khó bần hàn. Sự học không đem lại niềm vui thực sự cho người học, cái đem lại niềm vui là hệ quả của nó- vinh hoa phú quý, tiền tài danh lợi.
Người học tưởng rằng mình ham học nhưng thực tế chỉ là khao khát đổi đời, khao khát dùng sự học để lập thân kiểu “hiếu danh”. Quãng thời gian mười mấy năm học tập không được coi là quãng thời gian của sự dấn thân say mê cho khoa học, mà được coi là chuỗi ngày thử thách gian khổ để sau này những thành quả về công danh sự nghiệp sẽ bù đắp lại.
Người học đã vậy còn người dân thường thì sao? Dân gian thường truyền tụng rất nhiều câu chuyện về những ông Trạng Nồi, Trạng Diều xuất thân nghèo khó, nhờ ham học mà trở thành Trạng nguyên. Tư duy của người Việt chúng ta là vậy, chúng ta chỉ biết lấy thành quả của họ để nêu gương cho thế hệ sau- hãy vượt khó vượt khổ học hành để có ngày công thành danh toại, thăng quan tiến chức.
Rất hiếm gặp những mẩu chuyện đề cao chính bản thân sự học. Giả sử những ông Trạng kia không đỗ đạt mà cả đời nghiên cứu rồi đề ra thuyết này, thuyết kia, chưa chắc họ đã được dân gian ca ngợi và “thần tượng”.
Thái độ của người Việt với sự học nhiều khi rất phi khoa học. Thái độ đó phần nào hiện lên qua tâm tình của của người vợ trẻ trong thơ Nguyễn Bính đã chắt chiu tháng tháng cho chồng đi thi để một ngày chồng em cưỡi ngựa vinh quy/ hai bên có lính hầu đi dẹp đường (Thời trước, 1936). Chưa kể người Việt còn có thói xấu, chỉ trọng vọng người tài chỉ khi họ đã đỗ đạt, có chút công danh: Hàn vi thì chẳng ai nhìn/ Đến khi đỗ Trạng chín nghìn anh em (ca dao).
Với một tâm thế được di truyền từ lịch sử như vậy, thật dễ hiểu tại sao ở nước ta có rất ít những nhà bác học lừng danh thế giới, nghiên cứu được những công trình lớn lao kỳ vĩ hay đề xướng được những tư tưởng triết học có tính cách mạng. Bởi lẽ không hiếu học thì làm sao có thể tận tâm với khoa học. Trong khoa học nếu không tận tâm thì mãi mãi chỉ có thể “chầu rìa” chứ không thể vươn tới đỉnh cao được.
Nguy hại hơn, ở một đất nước nơi sự học chỉ là bước đệm cho công danh chứ không phải là sự nghiệp đáng được coi trọng và theo đuổi, ngoài sự lẹt đẹt về khoa học, thói chuộng bằng cấp sẽ cùng lúc nảy sinh. Giỏi thật, tài thật nhưng chưa có mảnh bằng trong tay, anh sẽ chẳng được ai trọng dụng. Trong một xã hội mà sự thăng tiến của mỗi cá nhân gắn liền với độ cao tăng dần của bằng cấp thì thử hỏi ai không chạy theo mảnh bằng? Muốn làm chức nọ, chức kia thì tương ứng anh phải có bằng nọ, bằng kia. Không học được để lấy bằng thật thì tất yếu phải mua bằng giả.
Rốt cuộc, xã hội ta ai cũng có bằng cấp nhưng đó chỉ những mảnh giấy vô tri vì người ta đã đạt được nó bằng thủ đoạn và dùng nó để phục vụ những mục đích chứ ít ai nỗ lực đạt được nó bằng tình yêu dành cho sự học theo đúng nghĩa.
Không hiếu học nhưng ham bằng cấp là một nghịch lý khiến xã hội đang phải chứng kiến những điều dở khóc dở cười, dẫn đến chỉ tiêu bi hài kiểu thành phố phải có 100% cán bộ quản lý là tiến sĩ.
Tất nhiên với khả năng xoay sở tài tình của người Việt Nam, những yêu cầu đó quả thật không quá khó. Nhưng học để lấy bằng cấp đã trở thành gánh nặng công danh chứ không còn là nhu cầu tri thức. Thử hỏi nếu những mảnh bằng không trực tiếp ảnh hưởng đến hợp đồng lao động, đến miếng cơm manh áo của chúng ta, sẽ có bao nhiêu người sẵn sàng dấn thân vào con đường “học cao, cao mãi”?

Bao giờ có Ngô Bảo Châu dán mác “made in Việt Nam”?

Đặt trong hoàn cảnh đó, tôi ngưỡng mộ Ngô Bảo Châu ở khía cạnh anh thực sự là con người hiếu học. Anh theo đuổi toán học bằng niềm đam mê thực sự chứ không phải để đến hôm nay được đặc cách phong hàm giáo sư hay để được vinh danh bằng một huân chương cao quý. Niềm đam mê anh dành cho khoa học là điều mà nền giáo dục trong nước chưa thể tạo ra, trong khi lại rất sẵn có ở môi trường quốc tế, nơi mà không cha mẹ nào ép con đỗ đại học bằng mọi giá và không chính khách nào cần phải chèn chân ghế bằng một xấp những mảnh bằng xanh đỏ.
Môi trường đã giúp Ngô Bảo Châu thành công là môi trường nơi con người có thái độ với khoa học một cách tự nhiên: Đã yêu là yêu hết mình, còn nếu không yêu thì người ta cũng không dùng thứ khoa học giả dối để lót đường cho công danh. Đừng đổ lỗi chúng ta nghèo, hay cơ chế của chúng ta cứng nhắc. Cái sâu xa hơn cả là chúng ta chưa thoát khỏi tư tưởng đã ăn sâu vào tiềm thức, chúng ta chưa ngộ ra được ý nghĩa thực sự của việc học tập và nghiên cứu khoa học. Đơn giản, chúng ta không hiếu học nhưng lại tự huyễn hoặc chính mình về sự hiếu học đó.
Sự thật trần trụi về sự hiếu học của người Việt sẽ lộ ra khi mỗi mùa thi đại học. Chúng ta chứng kiến biết bao em học sinh có thừa trí tuệ để trở thành nhà vật lý, nhà hóa học tương lai nhưng lại sẵn sàng từ bỏ niềm đam mê và thế mạnh của chính mình để lao vào các ngành kinh tế, tài chính, ngân hàng với suy nghĩ sau này mảnh bằng kiếm được từ những ngôi trường ấy sẽ giúp đem lại thu nhập cao hơn, trong khi dấn thân vào khoa học chẳng hứa hẹn điều gì tốt đẹp về vật chất.
Sự hiếu học, tinh thần khoa học của chúng ta đi về đâu khi những trường đại học hàng đầu về khoa học kỹ thuật, điểm chuẩn “đầu vào” mỗi năm một thấp xuống vì người tài đã bỏ chạy sang hết những ngôi trường hứa hẹn sẽ giúp họ cửa rộng, nhà cao?
Hàng năm Việt Nam vẫn sẽ có hàng trăm ngàn cử nhân ra trường, hàng ngàn thạc sĩ, tiến sĩ áo mũ xênh xang, nhưng điểm đi điểm lại liệu ta có được bao nhiêu nhà khoa học thực sự? Đến bao giờ cái tầm nhìn hạn hẹp không vượt khỏi lũy tre làng mới được thay đổi? Nếu vẫn giữ tầm nhìn ấy, chúng ta sẽ khó có những Ngô Bảo Châu khác, nhất là những Ngô Bảo Châu hoàn toàn dán mác “made in Việt Nam”.

___________________________________________

Posted in Chuyện đất nước, Giáo dục Việt Nam | Tagged: , , | Leave a Comment »

10 nghịch lý của kinh tế Việt Nam

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Chín 18, 2010

DƯƠNG NGỌC

Xét theo ý nghĩa phát triển (rộng hơn, thực chất hơn so với tăng trưởng), thì kinh tế Việt Nam còn đứng trước nhiều nghịch lý

Kinh tế Việt Nam không bị cuốn vào vòng xoáy của cuộc khủng hoảng tài chính và kinh tế thế giới, tăng trưởng đã thoát đáy vượt dốc đi lên và đang dần phục hồi.

Tuy nhiên xét theo ý nghĩa phát triển (rộng hơn, thực chất hơn so với tăng trưởng), thì kinh tế Việt Nam còn đứng trước nhiều nghịch lý, trong đó có 10 nghịch lý được xét trên các góc độ khác nhau.

Một là, tăng trưởng cao hơn nhưng vẫn tụt hậu, thậm chí còn tụt hậu xa hơn.

Năm 2010 (tạm tính tăng 6,5%), GDP của Việt Nam so với năm 1985 cao gấp gần 5,2 lần (bình quân thời kỳ 1986 – 2010 tăng 6,8%/năm); so với năm 1990 cao gấp trên 2 lần (bình quân thời kỳ 1991- 2010 tăng 7,4%/năm). Đó là những tốc độ tăng khá cao.

GDP bình quân đầu người tính bằng USD theo tỷ giá hối đoái bình quân năm 2008 của Việt Nam đạt 1.052 USD (năm 2010 ước tính sẽ đạt khoảng 1.138 USD), thấp xa so với các con số tương ứng của nhiều nước trong khu vực Đông Nam Á (Singapore 37.597,3 USD, Brunei 35.623 USD, Malaysia 8.209,4 USD, Thái Lan 4.042,8 USD, Indonesia 2.246,5 USD, Philippines 1.847,4 USD).

GDP bình quân đầu người của Việt Nam mới bằng 42,8%, con số tương ứng của khu vực Đông Nam Á và đứng thứ 7/11 nước; bằng 26% con số tương ứng của châu Á và đứng thứ 36/50 nước và vùng lãnh thổ có số liệu so sánh; bằng 11,7% con số tương ứng của thế giới và đứng thứ 138/182 nước và vùng lãnh thổ có số liệu so sánh.

Nếu họ “đứng yên” thì cũng phải nhiều năm sau Việt Nam mới bằng mức hiện nay của họ. Nhưng đó chỉ là giả thiết, thực tế họ vẫn tiến, thậm chí có nước, có năm còn tiến nhanh hơn.

Từ các con số trên, có thể rút ra hai nhận xét đáng lưu ý. Một, thứ bậc về GDP bình quân đầu người của Việt Nam vẫn nằm ở nửa dưới trong các nước ở khu vực Đông Nam Á, ở châu Á và trên thế giới. Hai, do giá trị của 1% tăng lên của GDP bình quân đầu người của Việt Nam còn thấp như trên, nên tốc độ tăng chỉ tiêu này của Việt Nam phải cao gấp đôi tốc độ tăng của khu vực Đông Nam Á, cao gấp trên 4 lần tốc độ tăng của châu Á và cao gấp 9 lần tốc độ tăng trung bình của thế giới thì mới không bị tụt hậu xa hơn (chênh lệch tuyệt đối giảm).

Hai là, tăng trưởng liên tục trong thời gian dài, nhưng vẫn chưa được coi là phát triển bền vững.

Tăng trưởng kinh tế sau khi bị giảm trong năm 1979 và năm 1980, thì từ năm 1981 đã tăng trưởng liên tục, tính đến năm 2010 này là 30 năm, vượt kỷ lục cũ của Hàn Quốc (23 năm tính đến năm 1996) và hiện chỉ thấp hơn kỷ lục 32 năm hiện do Trung Quốc đang nắm giữ.

Tăng trưởng liên tục trong 30 năm với tốc độ tăng 6,73%/năm, nhưng vẫn chưa được coi là phát triển bền vững, bởi chất lượng tăng trưởng kinh tế còn thấp, về mặt xã hội còn nhiều vấn đề bức xúc, việc bảo vệ và cải thiện môi trường còn nhiều hạn chế.

Tăng trưởng kinh tế chủ yếu do sự đóng góp của yếu tố tăng vốn (chiếm khoảng 52 – 53%); do sự đóng góp của yếu tố tăng số lượng lao động (chiếm khoảng 19 – 20%); còn yếu tố năng suất các nhân tố tổng hợp (gồm hiệu quả sử dụng vốn, năng suất lao động trên cơ sở khoa học – công nghệ) mới chiếm 28 – 29%, thấp xa so với con số 35 – 40% của một số nước trong khu vực.

Kinh nghiệm trong lịch sử và kinh nghiệm của nhiều nước cho thấy, mục tiêu cuối cùng đạt được không phải chỉ bằng tốc độ tăng trưởng cao trong ngày hôm nay, mà phải bằng độ bền của tốc độ tăng trưởng trong dài hạn. Đã đến lúc, nếu không nâng cao chất lượng tăng trưởng, phát triển bền vững, thì ngay cả việc tăng trưởng với tốc độ cũ cũng khó mà đạt được.

Ba là, mở cửa hội nhập để đẩy mạnh xuất khẩu, nhưng nhập siêu liên tục với quy mô lớn.

Nhập siêu của Việt Nam có năm điểm đáng lưu ý. Một, nhập siêu gần như liên tục, trong thời gian dài. Trong 25 năm đổi mới, chỉ có một năm xuất siêu nhẹ (41 triệu USD) và cách đây cũng đã khá lâu (năm 1992), còn có tới 24 năm nhập siêu. Hai, mức nhập siêu khá lớn (năm 2008 lên đến trên 18 tỷ USD và 4 năm nay, nếu tính bằng tỷ USD đã ở mức hai chữ số); tỷ lệ nhập siêu so với xuất khẩu, so với GDP vượt mức an toàn (trên 20%).

Ba, mở cửa, hội nhập là để tìm thị trường tiêu thụ, nhưng gần như càng mở cửa, hội nhập thì càng nhập siêu. Đặc biệt nhập siêu lại bùng lên khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Bốn, nhập siêu thường kèm theo là giá giảm, người tiêu dùng được hưởng lợi, nhưng trong khi sản xuất trong nước thì bị cạnh tranh, giảm thị phần, còn người tiêu dùng vẫn phải mua giá cao. Điểm thứ năm, nhập siêu không phải từ thị trường có hàng kỹ thuật cao, có công nghệ nguồn, mà lại từ các thị trường không phải có kỹ thuật cao, có công nghệ nguồn – đặc biệt là từ thị trường Trung Quốc.

Bốn là, chuyển sang kinh tế thị trường đã nhiều năm, nhưng thể chế chuyển chậm.

“Bàn tay hữu hình” còn quá dài, trong khi “bàn tay vô hình” còn quá ngắn. Doanh nghiệp nhà nước giảm về số lượng, nhưng phình to về quy mô, chiếm tỷ trọng lớn về vốn, chiếm tỷ trọng nhỏ về lao động; doanh nghiệp tư nhân ra đời nhiều, giải quyết được nhiều công ăn việc làm, nhưng quy mô nhỏ, chậm lớn. Cải cách hành chính chậm, thủ tục hành chính còn nặng nề. Chi phí bất hợp lý, thậm chí bất hợp pháp còn nhiều. Cạnh tranh chưa bình đẳng, “ra sân chơi chung, nhưng đã chấm trước người thắng kẻ thua”. Kinh tế thị trường nhưng độc quyền còn lớn.

Năm là, chuyển sang công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã trên 15 năm, nhưng tính gia công còn nặng.
Do gia công nặng, nên vừa làm cho giá trị tăng thêm thấp, vừa phụ thuộc vào nước ngoài, làm tăng nhập siêu, dễ bị ảnh hưởng khi thị trường nước ngoài gặp bất ổn.

Sáu là, “tam nông” rất quan trọng, nhưng chưa được quan tâm tương xứng.

Việt Nam xuất phát từ nông nghiệp đi lên; tỷ lệ dân số nông thôn từ trên 90% trước Cách mạng đã giảm xuống nhưng hiện vẫn còn chiếm 70%; tam nông đã đóng góp tích cực trong việc giúp cho đất nước thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế – xã hội tiềm ẩn từ cuối những năm 70, bùng phát trong thập kỷ 80, kéo dài tới đầu thập kỷ 90 của thế kỷ trước; giúp ổn định ở trong nước để ứng phó với cuộc khủng hoảng khu vực những năm 1997 – 1998, cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới 2008- 2009,… nhưng tỷ trọng vốn đầu tư cho nông, lâm – thủy sản trong tổng vốn đầu tư phát triển xã hội giảm và hiện ở mức thấp (năm 2000 chiếm 13,8%, năm 2005 còn 7,5%, năm 2009 còn 6,3%).

Diện tích đất nông nghiệp, đặc biệt đất trồng lúa giảm. Chênh lệch giữa thành thị và nông thôn còn lớn cả về thu nhập, chi tiêu, nhà ở, điện nước, vệ sinh, đồ dùng lâu bền… còn lớn. Tỷ lệ nghèo ở nông thôn cao gấp đôi ở thành thị, số người nghèo ở nông thôn chiếm trên dưới 90% tổng số hộ nghèo của cả nước…

Bảy là, với mục tiêu tăng trưởng cao, Việt Nam đã kích cầu đầu tư lớn (có tỷ lệ đầu tư so với GDP đứng hàng đầu thế giới), nhưng lãi suất vay vốn ở Việt Nam cũng thuộc loại cao so với các nước và vùng lãnh thổ.

Thu nhập và sức mua có khả năng thanh toán của dân cư còn thấp do thu nhập của lao động thấp; nhưng khi kích cầu đầu tư và tiêu dùng thì có một phần không nhỏ hàng hóa, vật tư của nước ngoài nhập siêu vào chiếm lĩnh thị phần.

Tám là, tỷ lệ tiết kiệm, tỷ lệ động viên tài chính cao, nhưng tỷ lệ bội chi ngân sách lớn và tăng.

Tỷ lệ tích lũy so với GDP của Việt Nam đã tăng khá nhanh (từ 27,1% năm 1995 lên 29,6% năm 2000, lên 35,6% năm 2005, lên 43,1% năm 2007, vài năm có giảm xuống nhưng năm 2009 vẫn ở mức 38,1%, thuộc loại cao trên thế giới.

Tỷ lệ tổng thu ngân sách so với GDP của Việt Nam tăng và thuộc loại cao (nếu năm 2000 mới đạt 20,5% thì năm 2005 đã đạt 27,2%, năm 2008 là 28,1%), nhưng tỷ lệ bội chi so với GDP tăng lên (từ 4,1% năm 2000 lên 5,2% năm 2008, lên 6,9% năm 2009 và năm 2010 có thể giảm xuống nhưng vẫn ở mức cao trên 6%). Đây là một trong những yếu tố làm bất ổn vĩ mô, yếu tố tiềm ẩn của lạm phát.

Chín là, khoa học – công nghệ là động lực của tăng trưởng, là yếu tố để nâng cao chất lượng tăng trưởng, nhưng tác động đối với nền kinh tế còn thấp.

Tỷ trọng hoạt động khoa học- công nghệ trong GDP nhiều năm nay chỉ chiếm 0,62-0,63%, tác động đối với tốc độ và chất lượng tăng trưởng kinh tế nhỏ. Tình hình này do nhiều nguyên nhân. Có nguyên nhân do đầu tư chưa đủ độ (năm 2009 đã tăng lên nhưng cũng chỉ chiếm 0,73% tổng vốn đầu tư toàn xã hội). Có nguyên nhân do cơ chế vận hành hoạt động này chậm được chuyển đổi, khi có cơ chế thì thực hiện còn lúng túng. Có nguyên nhân do hoạt động khoa học- công nghệ và hoạt động sản xuất kinh doanh chưa có sự kết hợp chặt chẽ. Thị trường khoa học công nghệ chậm hình thành và chậm phát triển.

Mười là, giáo dục được coi như quốc sách hàng đầu, nhưng còn nhiều hạn chế, bất cập.

Nếu khoa học – công nghệ là động lực của phát triển, thì giáo dục – đào tạo là chìa khóa của khoa học – công nghệ. Giáo dục – đào tạo sớm được xác định là quốc sách hàng đầu, với tỷ trọng chi cho giáo dục – đào tạo trong tổng chi ngân sách tăng. Ngành giáo dục – đào tạo liên tục cải cách, nhưng hiệu quả thấp…

_______________________________________________________

Posted in Chuyện đất nước, Kinh tế | Tagged: , , , | Leave a Comment »

Chống tham nhũng: ‘Muôn đời không ai cho ngóc đầu dậy’

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Chín 18, 2010

Lê Nhung

– Ông Phùng Chí Công, Chánh Văn phòng HĐND và UBND quận Ô Môn (Cần Thơ) nhớ lại thời điểm cam go. Năm 1999, ông tố cáo tham nhũng nên xã hội đen đến bao vây nhà, đe dọa tính mạng, cầu cứu lên chính quyền thì chính quyền nín thinh. May nhờ lực lượng đặc biệt của Quân khu 9 bảo vệ “chứ nếu không bây giờ tôi không còn sống đứng ở đây”.

Nhiều giọt nước mắt đã rơi trên diễn đàn Hội nghị toàn quốc biểu dương cá nhân có thành tích chống tham nhũng.

“Đều bị tổn thương”

Như ông Phùng Chí Công, ngoài những thua thiệt kinh tế, rồi con cái không xin được việc làm, thì con đường chính trị của ông “muôn đời không ai cho ngóc đầu dậy”. Ông Công kể, lãnh đạo giải thích “đồng chí Công thẳng thắn quá, mất lòng nội bộ, không tập hợp được anh em, khó cho tập thể. Lãnh đạo dè dặt, cảnh giác”.

Chị Dương Thị Mỹ Anh (Cần Thơ) làm cả Hội trường lặng đi khi vừa rơm rớm nước mắt vừa chia sẻ “do chống tiêu cực mà tôi bị trù dập, cô lập, cắt lương, mất việc làm, chồng đau ốm”.

Nữ cựu chiến binh quận Tây Hồ (Hà Nội) Nguyễn Thị Ngà ngay khi bước lên bục diễn đàn đã thông báo, bà vừa bị xã hội đen “dằn mặt”. Còn trước đó, không ít lần người phụ nữ dũng cảm này bị dọa cắt gân chân.

Mỗi người tham gia đấu tranh với tham nhũng lại bị “bao vây” theo điều kiện, hoàn cảnh khác nhau.
Cách đây ít lâu, dư luận hẳn vẫn còn nhớ vụ việc Cơ quan điều tra bắt quả tang Đoàn Tiến Dũng, nguyên Phó Tổng giám đốc BIDV… Người tố cáo vụ việc đình đám này, ông Hoàng Văn Khánh (TGĐ Công ty cổ phần dệt may xuất khẩu Hải Phòng) đứng lên phân trần giữa hội nghị “nhiều người cho rằng tôi là người đưa hối lộ để nhận gói kích cầu của Chính phủ”.

Nhưng hậu quả ông Khánh phải chịu là toàn bộ tài sản vẫn tiếp tục bị BIDV phong tỏa, không có vốn sản xuất, không có tiền trả lương công nhân hay đóng thuế. Khó khăn chồng chất, công ty của ông đứng trước ngưỡng cửa phá sản.

Nhiều người dân xem báo chí như chỗ dựa cho phòng chống tham nhũng. Nhưng tại diễn đàn, nữ nhà báo Phan Thị Thanh Hương chậm rãi kể lại câu chuyện mình bị bạc đãi, hạ lương, rút thẻ… như thế nào khi tố cáo tham nhũng ở báo Người cao tuổi. Câu chuyện không được kể liền mạch bởi những giọt nước mắt nghẹn ngào.

Nhưng nỗi buồn đọng lại trong tâm tư những người dân dũng cảm một mình đứng lên “vác tù và hàng tổng” là thái độ thiếu thiện chí của chính quyền, sự mệt mỏi của người thân vì cho rằng họ đang tự “gây thù chuốc oán”. Theo ông Lê Đạo (84 tuổi, nguyên ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy Lâm Đồng, Bí thư huyện ủy Đức Trọng), nhiều đồng chí của ông đã nản lỏng bỏ cuộc nửa chừng. Còn lại, “đều bị tổn thương”.

Chờ xử lý, cán bộ được nghỉ phép đi du lịch

Sự nản lòng không chỉ bắt nguồn từ việc bị hăm dọa, tố cáo, “dằn mặt” mà nguyên nhân sâu xa vì nhiều vụ không được xử lý rốt ráo. Cán bộ sai phạm không những không bị kỷ luật mà còn được đề bạt.

Như nhóm đấu tranh chống tham nhũng ở Lâm Đồng của ông Lê Đạo, sau 10 năm theo đuổi một vụ việc đã giành thắng lợi và thu hồi gần 30 tỷ đồng cho Nhà nước. Hai cán bộ huyện đã bị kỷ luật.
Nhưng, đáng ngạc nhiên, theo ông Lê Đạo, là những cán bộ chủ mưu do tỉnh quản lý lại được đề bạt, cất nhắc, thậm chí được Trung ương tặng huân chương.

“Nếu không kiên quyết đấu tranh để ngăn chặn, hạn chế sai phạm, củng cố niềm tin của dân với Đảng thì mới mất cán bộ, mất tài sản. Để tình trạng không ai dám nói mới thật đáng sợ”, ông Đạo tha thiết.

Vị cán bộ có 60 năm tuổi Đảng trăn trở: “Xử lý như vừa qua không có tính răn đe, ngăn chặn. Các vụ việc đấu tranh với cán bộ là những cuộc đấu tranh không cân sức, nhiều lực cản, ô dù, bao che, né tránh, đe dọa, mua chuộc”.

Chính những “góc khuất” trong công tác cán bộ đã khiến cho cuộc đấu tranh ngày càng khó khăn. “Những người có trách nhiệm sợ đụng chạm nên không ai dám nói” (bà Nguyễn Thị Hòa – Hà Nội).
Chánh Văn phòng UBND huyện Ô Môn (Cần Thơ) buồn bã kể, lãnh đạo khi đứng trên bục nói về phòng chống tham nhũng thì rất trôi, nhưng khi có ai đó lên tiếng tố cáo hoặc kiến nghị thì sẽ có cái nhìn thiếu thiện cảm, thậm chí khó chịu và cho rằng người đó kiếm chuyện gây mất đoàn kết nội bộ, ảnh hưởng thành tích.

Ông Công kể, nhiều cán bộ tham nhũng đã bị kỷ luật, điều về phòng Nội vụ chờ kết quả để xử lý nhưng vẫn được nhận 100% lương, hưởng phụ cấp chức vụ, thậm chí được nghỉ phép đi du lịch nước ngoài. Hoặc như chánh Thanh tra một quận bị kết tội tham nhũng hơn 5 tháng, mới nộp 100/185 triệu đồng nhưng vẫn tại chức.

Hoàn thiện quy chế bảo vệ người tố cáo

Đến hội nghị tương đối muộn do bận họp, Phó Thủ tướng Trương Vĩnh Trọng dành gần một tiếng đồng hồ để trình bày quyết tâm của Đảng chống tham nhũng. Phó Thủ tướng mượn rất nhiều hình ảnh thơ ca.

Phó Thủ tướng nhận trách nhiệm về việc chậm xử lý các vụ việc và khẳng định, việc tự phát hiện tham nhũng trong hệ thống còn hạn chế.

Ông Trọng giao Ban chỉ đạo phòng chống tham nhũng Trung ương phối hợp Bộ Công an ngay trong tháng 9 hoàn thiện quy chế bảo vệ người tố cáo tham nhũng.

Việc cần làm ngay là rà soát các vụ việc mà những người tố cáo tham nhũng đã kiến nghị nhưng chưa được xử lý, đặc biệt các vụ mà ông Đạo, ông Công… đang đề xuất.

Biểu dương 88 tấm gương nhiệt tình chống tham nhũng lần đầu được tuyên dương toàn quốc, Phó Thủ tướng mong tất cả vẫn giữ vững nhiệt huyết, đấu tranh với tấm lòng trong sáng, không vụ lợi.

_____________________________________________

Posted in Chính trị Việt Nam, Chuyện xã hội, Chuyện đất nước, Kinh tế | Tagged: , , | Leave a Comment »

Hoạt động tập trận của Trung Quốc: Sự thay đổi bản chất

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Chín 10, 2010

Trung Quốc và Mỹ đã tiến hành, hoặc dự kiến tập trận hải quân trong tuần này ở Hoàng Hải. Giới phân tích cho rằng đây là một trong những hoạt động trình diễn sức mạnh công khai nhất trong bối cảnh cạnh tranh ngày một gia tăng giữa hai cường quốc.

Hạm đội Bắc Hải của hải quân Trung Quốc đã có cuộc tập trận bắn đạn thật ngoài khơi thành phố Thanh Đảo tới hôm qua mới kết thúc, trong khi Mỹ và Hàn Quốc lên kế hoạch diễn tập ở Hoàng Hải từ hôm nay (5/9) cho dù đã thông báo hoãn lại vì bão.

Theo các chuyên gia hải quân, trong khi cuộc tập trận Mỹ – Hàn có ý định phô trương lực lượng, cảnh báo Triều Tiên, thì cuộc diễn tập vừa kết thúc của Trung Quốc lại minh chứng cho nỗ lực gia tăng sự quyết đoán của quân đội trong khẳng định thế mạnh và lợi ích.

“Sức mạnh hải quân Trung Quốc đang gia tăng. Đây là điều Mỹ cho rằng chưa nhanh chóng xảy ra, nhưng giờ đây lại đạt một mức độ mới mà cảm nhận rõ nhất chính là những quốc gia láng giềng với Trung Quốc”, Gary Li, một chuyên gia nghiên cứu hải quân quân đội Trung Quốc tại Học viện Quốc tế nghiên cứu chiến lược ở London nói.

Bắc Kinh khẳng định, cuộc diễn tập bắn đạn thật mới nhất cũng như các cuộc khác, đều không phải là phản ứng kế hoạch tập trận chung Mỹ – Hàn hay tuyên bố gần đây của Washington rằng, Mỹ có “lợi ích quốc gia” ở Biển Đông.

Tuy nhiên, giới quan sát nhấn mạnh rằng, Bắc Kinh đã gửi một thông điệp rõ ràng tới bên liên quan khi công khai rộng rãi những hoạt động tập trận gần đây. Đây là điều họ chưa từng làm trong quá khứ.

Sự gia tăng hiện diện của hải quân Trung Quốc có thể thấy rõ ràng nhất là ở Biển Đông, nơi Bắc Kinh có những tranh chấp chủ quyền với một số nước láng giềng. Biển Đông được coi là vùng biển chiến lược quan trọng vì là nơi trung chuyển nhộn nhịp của các tàu chở dầu, tàu hàng cũng như tiềm năng khai thác tài nguyên khoáng sản ngầm cực lớn.

Bud Cole, một chuyên gia nghiên cứu về hải quân Trung Quốc tại Trường Hải quân Mỹ nói, những cuộc tập trận của Trung Quốc ở Biển Đông đang thay đổi về bản chất.

Hải quân Trung Quốc đã tăng cường nhiều tàu mới cùng trang bị hệ thống điện tử và ba hạm đội khu vực của họ giờ đây đã cải thiện hơn nhiều khả năng hoạt động tương tác. Thể hiện rõ nhất là một cuộc tập trận lớn ở Biển Đông tháng trước. Những thay đổi lớn hơn còn minh chứng qua việc hoàn thành một căn cứ tàu ngầm ở phía đông nam đảo Hải Nam.

Các quan chức ngoại giao ở một số nước châu Á cho hay, hải quân Trung Quốc đã tiến hành tập trận ở Biển Đông trong 7 tháng qua, và các hoạt động diễn tập thường xuyên hơn có thể diễn ra trong mối tương quan với căn cứ mới tại Hải Nam.

Thêm vào đó, theo ông Li, hải quân Trung Quốc dường như còn đảm nhận công việc của giám sát, đảm bảo an ninh ngư trường nước này. Vì thế, một số tàu tuần tra của lực lượng phòng vệ bờ biển trước đây không hề có vũ khí thì hiện tại đã được trang bị cả vũ khí chống máy bay.

Điều đó có thể góp phần giải thích vì sao những tranh chấp ngư trường trong khu vực gia tăng và thậm chí có thể dẫn tới nguy cơ lớn hơn của những đối đầu trên biển. Trong hơn hai năm qua, hải quân Mỹ đã trải qua một số vụ đụng độ với tàu Trung Quốc, trong đó có vụ nhiều tàu Trung Quốc tiến sát phạm vi nguy hiểm với một tàu do thám Mỹ.

Thay đổi về “tầm với” theo chiều hướng xa hơn cũng đang diễn ra. Robert Willard, Tư lệnh Bộ chỉ huy Thái Bình Dương của Mỹ gần đây, cho biết, Trung Quốc đã tiến gần tới việc tạo ra hệ thống tên lửa đạn đạo chống hạm. Nếu thành công và khi được triển khai, tên lửa mang mệnh danh “sát thủ tàu sân bay” sẽ có thể giúp hải quân Trung Quốc chặn bước tiếp cận của máy bay hải quân Mỹ vào vùng biển khu vực.

Các nhà phân tích quân sự cho rằng, hải quân Trung Quốc còn học được cách cải thiện khả năng hoạt động bằng việc tham gia sứ mệnh quốc tế chống hải tặc tại vịnh Aden.

“Họ đã có những bước tiến rõ rệt”, ông Li nói. Chỉ trong vài tháng đầu tiên tham gia đội chống hải tặc quốc tế năm ngoái, hải quân Trung Quốc đã luyện tập những kỹ năng căn bản trong thực tế như kế hoạch cung cấp hậu cần, tập hợp những kiến thức về các vùng biển từ Biển Đông tới Vùng Sừng châu Phi.

Giờ đây, hải quân Trung Quốc đã có đội tàu thứ sáu với sứ mệnh hộ tống đang trên đường đến vịnh Aden. Đầu tuần này, tàu bệnh viện lớn nhất của Trung Quốc đã tới khu vực trong chuyến công tác quốc tế đầu tiên.

Thụy Phương (Theo FT)
_____________________________________________________

Posted in Chính trị thế giới, Quốc phòng các nước | Tagged: , , | Leave a Comment »