NGÔN NGỮ & VĂN HÓA

CHÚC MỪNG NĂM MỚI

Nước ta nên chọn hướng phát triển ưu tiên theo GDP hay GNH?

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Mười 5, 2010

LÊ TỰ HỶ

Nước ta từ khi có chính sách đổi mới (1986) đến nay đã đạt rất nhiều thành tích đáng kể về cả kinh tế lẫn vị thế chính trị trong khu vực Đông Nam Á và trên trường quốc tế.

Trong xu thế làm ăn mới này, chúng ta đã say sưa theo đuổi chiến lược phát triển kinh tế hầu như duy nhất nhằm làm tăng Tổng sản lượng nội địa (GDP) (Gross domestic product) hay còn gọi là Tổng thu nhập nội địa (GDI) (Gross domestic income). Điều này hẳn là không sai vì hầu như mọi nhà kinh tế, nhà chiến lược phát triển quốc gia đều cổ vũ và lấy GDP làm tiêu chuẩn để đánh giá sự thịnh vượng của một đất nước.

Nhưng thật ra là chưa đủ, chưa hoàn toàn đúng hay chưa tối ưu với những nước từ chỗ nghèo nàn, lạc hậu, bị tàn phá vì chiến tranh như nước ta tìm cách vươn lên trong thế giới đã có những nước bắt đầu phát triển từ khoảng 300 năm trước với những ưu thế như: chiếm tài nguyên của những xứ thuộc địa hay mua tài nguyên với giá rẻ của những nước lạc hậu, và những nước thuộc địa, lạc hậu lại trở thành thị trường béo bở cho sản phẩm của họ.

Ngoài lý do nước ta không còn cơ hội phát xuất như những nước tiên tiến, bản thân GDP hàm chứa một số khuyết điểm mà từ lâu những nhà kinh tế nghiêm túc đã nhận ra:

– Trong GDP, kể cả những chi phí dùng cho y tế và an ninh như là yếu tố tích cực, có nghĩa là sự thịnh vượng của một đất nước dựa thuần trên GDP thì người ta đã không kể tới sự an toàn của người dân, vì chi phí cho dịch vụ y tế va an ninh được tính gộp trong tiêu chuẩn thịnh vượng. Nói cách khác, đó là một hình thức không xem trọng “hạnh phúc” của nhân dân trong tiêu chuẩn thịnh vượng của một đất nước.

– GDP là tổng sản lượng được sản xuất bên trong biên giới của một nước bất kể người chủ cơ sở sản xuất kinh doanh là người dân của nước đó hay người nước ngoài đầu tư vào. Trong khi GND (Gross national product = Tổng sản lượng Quốc gia) là tổng sản lượng sản xuất được do người dân của một nước sản xuất bất chấp cơ sở sản xuất nằm ở bên trong biên giới hay bên ngoài biên giới của nước ấy.

Như vậy, lấy GDP làm tiêu chuẩn đánh giá sự thịnh vượng đối với những nước mà đang cần nhiều nhà đầu tư nước ngoài tới mở cơ sở sản xuất kinh doanh như nước ta hiện nay thì càng có nhiều nguy cơ xa rời “hạnh phúc” của nhân dân vì nhiều lý do:

a. Trong GDP, chúng ta đã “cầm nhầm” phần giá trị tài sản của “nhà đầu tư nước ngoài” làm giá trị tài sản của ta, vì GNP mới là “cái của ta”, mà GDP lớn hơn GNP khá nhiều trong tình hình nước ta hiện nay.
b. Một nhà đầu tư nước ngoài đem vốn và kỹ thuật tới nước ta để mở cơ sở sản xuất, kinh doanh thì hoàn toàn không phải họ yêu thương gì xứ sở ta, muốn cho đất nước ta phát triển thành giàu mạnh, văn minh đâu, mà hoàn toàn vì lợi nhuận của bản thân họ.

Và cũng cần biết là không bao giờ họ đưa được tới nước ta công nghệ tiên tiến nhất, hiện đại nhất, mà đại đa số là công nghệ lỗi thời, có thể bị cấm sử dụng ở nước họ vì gây ô nhiễm môi trường do chất phế thải, và gây độc hại cho người công nhân trực tiếp sản xuất, và họ muốn khai thác tài nguyên của ta vì họ hoặc không có tài nguyên hoặc có mà để dành tài nguyên theo chiến lược phát triển bền vững của họ; và lợi dụng được giá lao động rất thấp ở ta, và khi sản xuất tại nước ta thì chất phế thải công nghiệp sẽ ở tại nước ta, khiến nhân dân ta phải gánh chịu.

c. Điều đặc biệt nghiêm trọng là cán bộ của ta hoặc chưa có kinh nghiệm, chưa đủ bản lĩnh về cả khoa học kỹ thuật lẫn quản lý trong việc hợp tác sản xuất kinh doanh với đối tác nước ngoài, lại thêm bị cái nạn tham nhũng hoành hành, khiến cho tác dụng tích cực của việc đầu tư nước ngoài có thể không bù được sự mất mát mà nhân dân ta phải gánh chịu trong quá trình phát triển của đất nước như: cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường. Vụ Vedan làm ô nhiễm môi trường mà báo chí phản ánh là một điển hình.

Trong khi mải lao vào sự phát triển kinh tế để nâng cao GDP hay GND thì chúng ta chưa giải quyết được nhiều vấn đề cốt lõi của đất nước, là những yếu tố chính đem lại “hạnh phúc”cho cuộc sống của đại bộ phân nhân dân. Đó là, có trường học với chất lượng tương đối tốt cho con cái của một gia đình bình thường dù ở thành thị hay nông thôn theo học với chi phí mà thu nhập của gia đình họ dễ dàng trang trải không? Có bệnh viện tốt để người dân dù ở thành thị hay nông thôn có thể dễ dàng tới để chữa bệnh với chi phí mà người dân bình thường trang trải được không? Có sản phẩm từ nông nghiệp đến công nghiệp đạt chuẩn an toàn (như an toàn vệ sinh thực phẩm,…) cho người dân dễ dàng mua sắm với giá cả phải chăng không?

Thủ tục hành chính có đơn giản để giúp người dân ít mất thời giờ nhất không? hay kéo dài nhiều tháng, năm (như giấy chủ quyền nhà đất chẳng hạn) khiến người dân mỏi mòn tới lui xin xỏ? Việc đi lại có dễ dàng không? hay thường bị nạn kẹt xe như ở TP. Hồ Chí Minh và TP. Hà Nội? Không khí có trong lành? Tiếng ồn có bị hạn chế tối đa? Có nhiều nơi thoáng mát cho người già, trẻ em, thanh thiếu niên đến ngồi chơi, giải trí một cách an toàn hay luôn bị đe dọa bởi các tệ nạn xã hội?…

Trong bối cảnh đó, GDP của nước ta hiện nay theo ước tính năm 2009 của 3 cơ quan quốc tế: IMF (International Monetary Fund = Quỹ TIền tệ Quốc tế), WB (World Bank = Ngân hàng Thế giới), và CIA World Factbook (Central Intelligence Agency World Factbook) lần lượt là: 1060 USD/đầu người, đứng thứ 137/180 nước; 1052 USD, thứ 146/185 nước; và 1000 USD, thứ 152/191 nước.

Như vậy, so ra trong khối Asean, chúng chỉ hơn được hai nước Lào và Campuchia (GDP của họ từ khoản 600 USD đến khoảng 800 USD), và thua rất xa Singapore (37293 USD; 36534 USD; 38000 USD); Hàn Quốc (17074 USD; 17078 USD; 17100 USD), Đài Loan (16392 USD; 16400 USD); Nhật Bản ( 39731 USD; 39727 USD; 39800 USD) và càng thua xa các nước nhóm cao nhất( 40000-105000 USD; 40000-210000 USD; 40000-134000 USD).

Mặc dù tốc độ tăng GDP của ta theo CIA World Factbook năm 2009 là 5.3%, nhưng chắc chắn chúng ta không thể nâng cao GDP lên bằng các nước nhóm giữa vào cuối thế kỷ 21 này, và nếu chỉ ưu tiên phát triển theo hướng tăng GDP, bỏ lơ các yếu tố tiêu cực do sự tăng GDP gây ra thì nhân dân ta sẽ phải gánh chịu hậu quả nghiêm trọng về cạn kiệt tài nguyên, hủy hoại môi trường nhiều hơn nữa.

Vậy chọn con đường nào? Một số nhà kinh tế đã và đang tìm cách đề xuất một tiêu chuẩn khác, vượt ngoài GDP khi ý thức được rằng sự khai thác tài nguyên để tăng GDP như hiện nay thì chẳng bao lâu nữa hành tinh của chúng ta sẽ hết tài nguyên, và đồng thời chứa quá nhiều chất ô nhiễm do quá trình sản xuất của loài người gây ra. Đã có một số mô hình mới, đầu tiên là GNH.

Mô hình GNH (Gross national happiness = Tổng mức hạnh phúc quốc dân):

Điều thú vị là người tạo thuật ngữ Tổng mức hạnh phúc quốc dân không phải là một nhà kinh tế lỗi lạc, hay một giáo sư kinh tế hay một nhà chiến lược phát triển nổi tiếng nào mà là cựu Quốc vương Jigme Singye Wangchuck của nước Bhutan trên Hy Mã Lạp Sơn vào năm 1972, khi Bhutan vẫn đang là một vương quốc hẻo lánh, tách biệt với thế giới bên ngoài.
Khi thay cha lên ngôi vua năm 1972, Jigme Singye Wangchuck chưa đầy 17 tuổi, nhưng đã long trọng hứa với thần dân Bhutan là ông sẽ hiện đại hóa đất nước, và nói rằng sẽ thực hiện sự phát triển kinh tế ưu tiên theo GNH chứ không phải GDP bởi không phải GDP mà chính GNH mới đem lại sự phồn vinh đích thực cho đất nước, mới đem lại một cuốc sống hạnh phúc an lạc cho nhân dân trong một đất nước phát triển dựa trên 4 trụ cột sau đây :
1. Xúc tiến phát triển bền vững;
2. Bảo quản và thăng tiến các giá trị văn hóa;
3. Bảo tồn môi trường thiên nhiên;
4. Thiết lập nền cai trị tốt đẹp.
Trong khi các mô hình phát triển thông thường nhấn mạnh về sự phát triển kinh tế như là mục đích tối hậu, thì khái niệm GNH lại dựa trên tiền đề rằng, một số dạng phát triển kinh tế thật ra là “phi kinh tế” (uneconomic), một khái niệm tiên tiến trong lãnh vực mới là kinh tế học sinh thái (ecological economics). Sự phát triển “phi kinh tế” theo quan điểm GNH là sự phát triển mà về lâu dài sẽ đem lại sự hủy hoại, sự ô nhiễm môi trường vật chất và tinh thần, và cạn kiệt tài nguyên, khiến cho con cháu ở các thế hệ mai sau phải gánh chịu thiệt hại có thể vượt quá lợi lộc trước mắt do sự phát triển ấy đem lại không thể bù đắp được.
Khái niệm Tổng hạnh phúc quốc dân (GNH) đã được phát triển nhằm xác định một chỉ số đo chất lượng cuộc sống (quality of life) hay sự tiến bộ xã hội theo nghĩa toàn diện hơn và tâm lý hơn GNP hay GDP. Nhưng nhà vua trẻ, khi lên ngôi mới chỉ phát họa ý niệm tổng quát, chưa thể đề xuất ra được phương pháp, cách tính cụ thể của GNH.
Giống như nhiều biểu thị tố (indicator) khác về tâm lý và xã hội, GNH dễ nói tới hơn là xác định chính xác là bằng công thức toán học. Nhưng về sau, Trung tâm Nghiên cứu Bhutan (Center for Bhutan Studies) tại thủ đô Thimphu của Bhutan đã dựa trên ý niệm tổng quát của vua Jigme Singye Wangchuck để soạn thảo ra 72 chỉ số gồm trong 9 nhóm biểu thị tố: 1. Các biểu thị tố về sức khỏe tâm lý (gồm 11 chỉ số); 2. Các biểu thị tố về sinh thái (5 chỉ số); 3. Các biểu thị tố về sức khỏe thể chất (7 chỉ số); 4. Các biểu thị tố về giáo dục (4 chỉ số); 5. Các biểu thị tố về văn hóa (12 chỉ số); 6. Các biểu thị tố về tiêu chuẩn sống (8 chỉ số); 7. Các biểu thị tố về việc sử dụng thời gian (2 chỉ số); 8. Các biểu thị tố về sức sống cộng đồng (16 chỉ số); 9. Các biểu thị tố về nền cai trị tốt đẹp (7 chỉ số).
Sau đó, dùng các câu hỏi để điều tra tại từng vùng của nước Bhutan và tính toán để đưa ra kết quả các chỉ. Mọi kế hoạch, dứ án về kinh tế tại Bhutan phải thỏa các chỉ số chuẩn về GNH của Trung tâm Nghiên cứu Bhutan mới được chấp thuận cho triển khai.
Mặc dù hiện nay, GDP của Bhutan còn khá thấp theo ước tính năm 2009 (188 USD, thứ 120/180; 1832 USD, thứ 127/185; 1800 USD, thứ 128/191), nhưng năm 2006, Tạp chí Busines Week đã xếp hạng Bhutan là xứ sở hạnh phúc nhất ở châu Á, và nằm trong số 8 nước hạnh phúc nhất thế giới theo một nghiên cứu toàn cầu có tên “ World Map of Happiness” do đại học University of Leicester tại Anh thực hiện năm 2006.
Tuy phát xuất từ nhãn quan của những con người vốn thấm nhuần tư tưởng Phật giáo của xứ Bhutan, nhưng khái niệm GNH hiện nay đã tỏ ra dung nạp được trong mọi nền văn hóa của thế giới vì tính chất “thiện” trong tinh thần nhân bản của GNH. Nó không xa với một số khái niệm mới như GPI (Genuine Progress Indicator = Biểu thị tố tiến bộ đích thực) trong Kinh tế học xanh (green economics) và Kinh tế học thịnh vượng (welfare economics) đã được nghiên cứu và đề xuất đặc biệt bởi một số nhà nghiên cứu, nổi bật là nữ Tiến sĩ Marilyn Waring là dùng GDI thay cho GDP làm tiêu chuẩn đo lường sự phát triển kinh tế.
Bản tuyên bố ảnh hưởng về môi trường ( EIS = Environment Impact Statement) đòi hỏi sự phát triển trong nước Mỹ theo Luật môi trường Mỹ (United States environmental law) chứa nhiều nội dung tương tự với khái niệm GNH của Bhutan. Nhà dịch tể học Michael Pennock đã lãnh đạo một nhóm nghiên cứu, triển khai một công cụ mà ông gọi là phiên bản mô hình GNH của Bhutan (de-Bhutanized version) để sử dụng tại Victoria, British Columbia nước Canada. Nước Ý và Brazil đã và đang nghiên cứu sử dụng mô hình GNH, và Brazil đã thành lập Trung Tâm HNG.
Năm 2006, Med Jones, Chủ tịch của International Institute Management (Mỹ) đã xem hạnh phúc như một tiêu chuẩn để đo lường sự phát triển của kinh tế xã hội, và xem như đã đưa ra khái niệm về GNH thế hệ hai khi kết hợp 7 yếu tố phát triển bao hàm cả sức khỏe thể xác và tinh thần để xây dựng một hàm chỉ số về GNH:
1. Sự tốt đẹp về kinh tế (Economic Wellness): Được chỉ ra qua sự nghiên cứu trực tiếp và số đo thống kê về các chuẩn kinh tế như nợ của người tiêu dùng, tỉ lệ giữa thu nhập trung bình với chỉ số giá tiêu dùng và sự phân bố thu nhập.
2. Sự tốt đẹp về môi trường (Environment Wellness): Được chỉ ra qua sự nghiên cứu trực tiếp và số đo thống kê về các chuẩn môi trường như sự ô nhiễm, tiếng ồn và sự lưu thông của xe cộ
3. Sự tốt đẹp về thể chất (Physical Wellness): Được chỉ ra qua số đo thống kê về các chuẩn sức khỏe thể chất như các căn bệnh hiểm nghèo.
4. Sự tốt đẹp về tinh thần (Mental Wellness): Được chỉ ra qua sự nghiên cứu trực tiếp và số đo thống kê về các chuẩn sức khỏe tinh thần như việc sử dụng những chất chống làm giảm hoạt động (antidepressants) và sự tăng hay giảm những bệnh nhân theo liệu pháp tâm lý
5. Sự tốt đẹp về nơi làm việc (Workplace wellness) : Được chỉ ra qua sự nghiên cứu trực tiếp và số đo thống kê về các chuẩn như các bản báo cáo thất nghiệp, sự thay đổi việc làm, những phàn nàn về nơi làm việc, và những vụ kiện cáo.
6. Sự tốt đẹp về xã hội (Social Wellness) : Được chỉ ra qua sự nghiên cứu trực tiếp và số đo thống kê về các chuẩn xã hội như sự phân biệt đối xử, sự an toàn, tỉ lệ li dị, những đơn kiện về những xung đột trong ga đình và nội địa, những vụ kiện cáo công sở, tỉ lệ phạm tội.
7. Sự tốt đẹp về chính trị (Political Wellness) : Được chỉ ra qua sự nghiên cứu trực tiếp và số đo thống kê về các chuẩn chính trị như chất lượng của sự dân chủ, tự do cá nhân, và những xung đột với nước ngoài
Bảy tiêu chuẩn đo lường trên đây đã được kết hợp để dùng trong một Nghiên cứu về GNH toàn cầu đầu tiên.
Trong năm 2009, một tổ chức về GNH được thành lập tại vùng Montpelier bang Vermont, Mỹ với tên tắt là GNHUSA. Nó là một tổ chức phi lợi nhuận, phi đảng phái có mục đích nghiên cứu, đề xuất những vấn đề để kiến tạo một nền kinh tế phát triển thịnh vượng, bền vững.
Vậy có lẽ đã đến lúc các cơ quan, các giới chức có thẩm quyền nước ta nên để tâm huyết và thì giờ nghiên cứu các mô hình GNH trên thế giới, hầu giúp nhà nước xây dựng một chiến lược phát triển bền vững (sustainable development), trong đó khái niệm hạnh phúc của quốc dân phải được xem trọng hơn là chỉ đơn thuần phát triển kinh tế ưu tiên theo GDP.

______________________________________________________

Advertisements

Trả lời

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: