NGÔN NGỮ & VĂN HÓA

CHÚC MỪNG NĂM MỚI

Archive for Tháng Mười Hai, 2010

Đại học Việt: Nửa trường, nửa… chợ?

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Mười Hai 29, 2010

HỒ BẤT KHUẤT

Các trường ĐH hiện nay luôn ở trong tình trạng “nửa trường, nửa chợ”. Người ta lấy cái gần về khoảng cách để định hình lối sống, cách sống, cách nghĩ.
Tôi có quan niệm: “Ra chợ, nhìn vào các sạp hàng thì biết được đời sống của người dân. Còn nhìn vào cảnh quan, môi trường đại học thì biết được tương lai đất nước”. Chính vì vậy mà kinh tế nước ta đang phát triển với tốc độ khá cao, nhưng nhiều người không mấy lạc quan vì cảnh quan, môi trường giáo dục ĐH Việt Nam đang rất tệ hại. Hầu như không có trường nào có diện tích đủ rộng để xây dựng cơ sở hạ tầng và tạo cảnh quan sư phạm phù hợp.

Thực trạng đáng buồn, xin đừng đổ lỗi cho tiền nhân

Căn cứ vào con số thống kê mới nhất, hiện nay Việt Nam có 406 trường ĐH và CĐ (196 trường ĐH, 210 trường CĐ), nhưng hầu như không có trường nào có cảnh quan, môi trường phù hợp tiêu chí một cơ sở giáo dục ĐH hiện đại.
Hai thành phố lớn là Hà Nội và TP HCM chiếm khoảng 1/3 số lượng trường và tình hình thuộc loại tồi tệ nhất. Các trường ĐH nằm trên những đường phố đông đúc, ồn ào, bụi bặm, chật chội…Ví dụ, ĐH Luật TP HCM cộng cả hai cơ sở lại mới được 0,7 ha! Còn ĐH Luật Hà Nội, sau khi bán cơ sở ở Thường Tín cho hãng Coca Cola, về chen chúc trên đường Nguyễn Chí Thanh trong khoảnh đất bé tí.

Với diện tích như vậy thì nói gì tới xây dựng cảnh quan, môi trường sư phạm rộng rãi, thoáng đãng để sinh viên bay bổng trong nhận thức và tư duy của mình!?
Đừng đổ lỗi cho tiền nhân! Lúc sơ khai, các trường ĐH của ta đâu chật chội như vậy. Khi thành lập, ĐH Bách khoa HN có diện tích lên tới hàng trăm ha và nằm ở một vị trí rất đẹp, cạnh công viên Thống Nhất. Nay khuôn viên của trường bị “chia 5, xẻ 7” cho vài ba trường ĐH khác nữa. Thậm chí có hẳn một đơn vị hành chính là phường Bách Khoa với hàng vạn nhân khẩu nằm gọn trong vùng đất mà trước kia là khuôn viên của trường.
Hà Nội đã từng có những “khu đô thị ĐH” ở Cầu Giấy và Thanh Xuân. Vài chục năm về trước, ở đó chỉ có những khu giảng đường, ký túc xá và những cánh đồng rộng rãi. Ấy thế mà bây giờ nhà cửa như nêm, muốn tìm một chỗ yên tĩnh ở nơi này cũng khó. Vậy mà đây lại là nơi trú ngụ của các trường ĐH trọng điểm của đất nước!

Các trường ĐH: Nửa trường, nửa… chợ

Rất nhiều trường ĐH chen chúc ở nội thành HN hiện nay đã từng có cơ sở rộng rãi ở ngoại vi. Đó là ĐH Luật ở Thường Tín, ĐH Xây dựng ở Hương Canh, ĐH Cảnh sát ở Suối Hai, ĐH Kỹ thuật Quân sự ở Phúc Yên… Vì cho rằng ở những nơi đó là xa, không có điều kiện phát triển nên họ đã bỏ những nơi đó. Thật là đáng tiếc!
Bây giờ thậm chí phải đi xa hơn chưa chắc đã tìm ra đất. Chính Thứ trưởng Bùi Văn Ga đã nói: “Nếu chúng ta không có một kế hoạch cụ thể thì rất có thể khoảng 5-10 năm nữa những khu vực có bán kính 50 km xung quanh HN cũng sẽ không còn quỹ đất dành cho giáo dục mà các lĩnh vực khác sẽ đến trước.”
Tại sao trong thời gian qua những người có trách nhiệm trong ngành giáo dục ĐH lại có thể tư duy và hành động như những “chủ cửa hàng tạp hóa” như vậy? Hơn ai hết, họ phải biết rằng, cảnh quan, môi trường là một trong những yếu tố quan trọng tác động tới chất lượng đào tạo chứ? Hàng trăm năm trước, người Mỹ đã chứng minh được cảnh quan, môi trường ảnh hưởng tới chất lượng học tập của sinh viên.
Khuôn viên của trường càng rộng, thoáng, nhiều cây xanh càng có ảnh hưởng tốt tới tư duy của sinh viên. Vì vậy, đại đa số các trường ĐH ở Mỹ đều nằm ở ngoại vi thành phố với diện tích hàng trăm ha trở lên. Ở đó có cây xanh, vườn hoa, bãi đỗ xe, sân vận động, những con đường để sinh viên đi dạo…

Đã có nhiều cán bộ của ta đi thăm quan, học hỏi nhưng họ chẳng thu hoạch được gì khi phát biểu: “Tưởng các trường ĐH bên Mỹ thì oai lắm, ai ngờ hầu hết ở tít trên miền núi!”.
Với tầm nhìn và tư duy như vậy nên các trường ĐH hiện nay luôn ở trong tình trạng “nửa trường, nửa chợ”. Người ta lấy cái gần về khoảng cách để định hình lối sống, cách sống, cách nghĩ.
Ngày nay nên đo khoảng cách bằng thời gian chứ không phải bằng km. Ví dụ, người ta hỏi nhau: “Đi từ Mỹ Đình lên Hòa Lạc mất bao nhiêu phút?”. “Chỉ mất 20 phút!”. “Còn đi từ Bờ Hồ đến Hà Đông mất bao lâu?”. “Có khi phải hàng tiếng đồng hồ”. Thực tế là có khi đi 30 km chỉ mất 20 phút, trong khi đi 10 km mất 60 phút.
Đây chính là một gợi ý về quan niệm xa gần.

Muốn giáo dục ĐH phải… “chết”?

Thật ra, trong số những người lãnh đạo cũng có người nhìn ra việc phải chuyển các trường ĐH đến nơi rộng rãi và môi trường trong lành hơn. Bằng chứng là hàng chục năm trước, Chính phủ đã quyết định cấp cho ĐH Quốc gia HN một khu đất rộng mênh mông, ở Hòa Lạc (cách trung tâm HN trên 30 km). Việc di dời các trường ĐH đến chỗ rộng rãi và yên tĩnh hơn đã được nghĩ tới từ lâu, được khẳng định đi, khẳng định lại là rất quan trọng.
Thứ trưởng Bộ GD và ĐT Bùi Văn Ga nói: “Quyết định di dời các trường ra ngoại thành không phải vì quá tải cơ sở hạ tầng ở thành phố mà là sự sống còn của ngành giáo dục…”. Nói như vậy là đã rất quyết liệt và đúng với đòi hỏi hiện nay. Nếu không di dời các trường ĐH đến nơi rộng rãi, thoáng đãng hơn, ngành giáo dục sẽ… “chết”.
Căn cứ vào tiến độ, cách thức xây dựng ĐHQG HN ở Hòa Lạc và ý kiến của những người lãnh đạo các trường ĐH hiện nay thì thấy có vẻ như ngành giáo dục sẽ phải “chết”. Hàng chục năm đã trôi qua, thậm chí đã làm lễ động thổ, nhưng trên khu đất rộng và đẹp của ĐHQG HN vẫn trống không, thậm chí đã bị người ta xâu xé, sử dụng vào mục đích khác. Còn lãnh đạo các trường, ai cũng kêu di dời là cần thiết, nhưng rất khó vì không có đất “sạch” và tiền.
Có người còn không ngần ngại nêu ý kiến: Nhất trí di dời, nhưng vẫn giữ cơ sở ở nội thành?
Một bộ phận lãnh đạo, giáo viên các trường ĐH có nhà cửa đàng hoàng ở nội thành, nay ngại đi xa. Một trong những lý do mà ĐHQG HN chưa dám di dời là vì nhiều giáo viên giỏi “bóng gió” nếu phải lên Hòa Lạc, họ sẽ bỏ trường. Giáo viên giỏi chưa bỏ vì trường chưa di dời, nhưng nhiều lãnh đạo nòng cốt đã bỏ trường để ngồi vào những vị trí “ngon lành” hơn, gần Hồ Gươm hơn.

Phải quyết liệt như hồi chiến tranh

Tổng hợp các ý kiến của lãnh đạo các trường ĐH ở HN và TP HCM trong 2 cuộc gặp gỡ, làm việc vừa qua, có thể thấy việc di dời các trường ĐH ra ngoại thành là việc rất khó thực hiện. Cái khó nằm ngay trong cách nghĩ và cách tiếp cận vấn đề của những người lãnh đạo các trường. Đại đa số lãnh đạo các trường đều kêu khó vì không có đất “sạch” và thiếu kinh phí, thủ tục rườm rà… Thoạt nghe thì tất cả đều có lý, nhưng thực chất là họ vẫn chưa nhận thức rõ tầm quan trọng của cảnh quan, môi trường đối với chất lượng giáo dục ĐH, và hơn nữa, là ngại khó.
Nếu chiều theo ý kiến của đa số lãnh đạo các trường ĐH phải di dời thì việc di dời có lẽ chẳng bao giờ diễn ra. Do đó, ngành GD và ĐT cần có thái độ chỉ đạo rốt ráo. Nay là thời bình nhưng nên tư duy và hành động nên quyết liệt và dứt khoát như thời chiến tranh. Trong những năm đó, hầu hết các trường ĐH ở HN đều sơ tán về nông thôn; nhận lệnh buổi sáng, buổi chiều tiến hành ngay. Thế mà ở nơi mới, thầy và trò với nhà tranh, vách đất vẫn dạy và học bình thường.
Nay điều kiện của chúng ta khác xưa, tốt hơn rất nhiều nhưng chúng ta lại chần chừ, cân nhắc, ngụy biện, và để tình trạng các trường ĐH trong cảnh “nửa trường, nửa chợ”. Để “cứu” giáo dục ĐH Việt Nam, xin những người có trách nhiệm hãy quyết liệt như tinh thần của những tháng năm đi sơ tán.

_____________________________________________________

Posted in Chuyện đất nước, Giáo dục Việt Nam | Tagged: , , | Leave a Comment »

Người Đức suy nghĩ gì về đồng Euro?

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Mười Hai 29, 2010

Cuộc thăm dò ý kiến của Viện Nghiên cứu thị trường và thăm dò ý kiến uy tín YouGov theo yêu cầu của tờ Bild cho thấy 49% người Đức muốn quay trở lại đồng D-Mark.

Cuộc thăm dò cũng chỉ ra rằng, thảm họa khủng hoảng đồng Euro đã xuất hiện tâm lý lo lắng và sợ hãi trong người dân. Và chính sách đã không thể làm cho các công dân của chúng ta hiểu được lợi ích của đồng Euro. 77% người được trả lời rằng, họ không cảm thấy là Euro có lợi.

Kết quả thăm dò:

1. Ngài có thấy thỏa mãn với đồng Euro?
– Có: 44, Không: 51, Không biết :5

2. Chính phủ CHLB Đức cho rằng đồng Euro trong thời toàn cầu hóa và khủng hoảng kinh tế tốt cho nước Đức hơn là đồng D-Mark. Ngài có đồng ý với ý kiến này?
– Có: 33, Không : 49, Không biết : 17

3. Các chuyên gia cho rằng đồng Euro đã trực tiếp mang lại nguồn lợi thế to lớn về kinh tế cho nước Đức. Điều đó đối với ngài thế nào ? Ngài có cảm thấy, từ khi đưa đồng Euro vào lưu thông về phương diện cá nhân là có lợi ?
Có :17, Không:77, Không biết :7

4. Ngài có thấy lo lắng về sự ổn định của đồng Euro?
Có:67, Không : 27, Không biết:6

5.Ngài có thấy sợ lạm phát do việc khủng hoảng đồng Euro?
Có: 56, không : 36, Không biết: 8

6.Hiện đang có nhiều ý kiến cho rằng nên có sự phân chia ra các vùng cho đồng Euro. Một đồng Bắc Euro và một đồng Nam Euro. Ngài có cho đấy là một ý tưởng tốt?
Có:16, Không: 66 , Không biết : 18

7.Ngài có muốn quay trở lại đồng D-Mark không?
Có : 49 Không: 41, Không biết:9

8.Ngài hãy cho biết, nếu có một Đảng mà có mục tiêu cao nhất là quay trở lại đồng D-Mark. Ngài có bầu cho Đảng này không?
Có: 35, Không:48 , Không biết :16

9.Ngài cho biết, nếu có một một cuộc trưng cầu dân ý thì ngài bỏ phiếu cho có lưu thông hay không lưu thông đồng Euro?
Có:30, Không: 60, Không biết: 10

10.Đồng Euro đã trải qua nhiều cuộc khủng hoảng nhưng lại được phục hồi. Ngài có tin rằng trong 20 năm nữa nó vẫn là đồng tiền của nước Đức?
Có: 55, Không :23, Không biết:22

Tôn Gia Quý (Theo Bild)
__________________________________________________

Posted in Kinh tế | Tagged: , , | Leave a Comment »

Giải thích về con ngựa chứng CPI và cam kết của Chính phủ

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Mười Hai 29, 2010

MẠNH QUÂN

SGTT.VN – Quan điểm cho rằng, ngân hàng Nhà nước không có lỗi trong việc lạm phát năm 2010 cao được thể hiện xuyên suốt trong các văn bản, phát biểu của các quan chức cơ quan này gần đây

Tại cuộc họp báo thường kỳ của văn phòng Chính phủ tháng trước, báo Sài Gòn Tiếp Thị đặt câu hỏi: Chính phủ có bàn, xem xét trách nhiệm của lãnh đạo một số bộ, ngành Tài chính, Công thương, ngân hàng Nhà nước (NHNN) trong việc điều hành chưa tốt, làm cho lạm phát năm nay tăng cao? Ông Nguyễn Xuân Phúc, bộ trưởng, chủ nhiệm văn phòng Chính phủ chỉ nói rằng, lạm phát năm 2010 cao do tác động lớn của nhiều yếu tố khách quan: giá cả nguyên vật liệu, hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam tăng, năm nay diễn ra nhiều thiên tai, lũ lụt ở miền Trung. Còn về cơ bản, Chính phủ, các bộ, ngành đã tích cực trong các giải pháp điều hành, ví dụ như trong một tháng, Thủ tướng đã hai lần ra chỉ thị bình ổn giá cả, thị trường…

Những nguyên nhân ông Phúc nói cũng chỉ là một trong các nguyên nhân dẫn đến lạm phát cao và chưa đủ để giải thích vì sao chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của Việt Nam lại tăng đến 2 con số (11,75%), vượt xa rất nhiều chỉ số CPI của nhiều nước trong khu vực – một số nước cũng chịu các tác động khách quan như ông nói. Vậy thì, về chủ quan, có những nguyên nhân nào từ chính sách điều hành chưa ổn dẫn đến không kiềm chế được CPI cả năm dưới 7% (sau khi được điều chỉnh lên không quá 8%) như nghị quyết Quốc hội?

Đã có nhiều người nhìn về phía NHNN để chờ nghe giải thích về chính sách tiền tệ, tỷ giá. Nhưng tại phiên họp do ủy ban Kinh tế của Quốc hội tổ chức cuối tuần trước, thống đốc ngân hàng Nhà nước (NHNN) Nguyễn Văn Giàu đã nói rằng: “Việc điều hành tiền tệ trong năm qua không trực tiếp gây ra lạm phát, nếu xét về các chỉ số về cung ứng tín dụng, phương tiện thanh toán”.

Quan điểm cho rằng, NHNN không có lỗi trong việc lạm phát năm 2010 cao được thể hiện xuyên suốt trong các văn bản, phát biểu của các quan chức cơ quan này gần đây. Một báo cáo mới phát hành gần đây của cơ quan này đã giải thích kỹ hơn vì sao họ có quan điểm như vậy. Báo cáo này nêu, tác động của tiền tệ đến CPI cũng là một trong nhiều nguyên nhân và được tác động bởi các yếu tố tăng tổng phương tiện thanh toán (M2), tín dụng và tỷ giá. “Tuy nhiên, năm 2010 các yếu tố này tác động tới CPI không lớn bằng các yếu tố khác và so với các năm trước, do việc điều hành chính sách tiền tệ chuyển từ nới lỏng năm 2009 sang thận trọng, linh hoạt nhằm mục tiêu kiểm soát lạm phát”, NHNN nhận định. Theo cơ quan này, các chỉ tiêu tiền tệ, tín dụng năm 2010 tăng thấp hơn nhiều so với năm 2009 (tổng phương tiện thanh toán và tín dụng năm 2010 ước tăng 25% và 26-28%, thấp hơn nhiều so với mức tăng tương ứng 27,54% và 37,53% của năm 2009).

Nhưng ngay cả vấn đề về tỷ giá, NHNN cũng không thừa nhận. Theo một quan chức của NHNN, tỷ giá tăng thời gian gần đây do nhiều nguyên nhân, trong đó chủ yếu là do những yếu kém nội tại của nền kinh tế, cụ thể do nhập siêu liên tục và kéo dài làm cho cán cân thanh toán thâm hụt dẫn tới mất cân đối cung – cầu ngoại tệ; tình trạng đô la hóa trong nền kinh tế làm tăng tâm lý găm giữ ngoại tệ khi thị trường có dấu hiệu căng thẳng. Bên cạnh đó, giá vàng thế giới tăng đột biến từ giữa tháng 9.2010, giá vàng trong nước cao hơn giá vàng thế giới đã làm tăng hoạt động gom ngoại tệ nhập khẩu vàng lậu. Theo ông này, giá cả nhiều hàng hóa có xu hướng tăng cũng tác động làm tăng tâm lý đầu cơ, găm giữ ngoại tệ, góp phần làm tăng tỷ giá.

NHNN chỉ thừa nhận, CPI năm 2010 tăng cao là có yếu tố tác động trễ của chính sách tài khoá và tiền tệ nới lỏng và các gói kích thích kinh tế trong năm 2009 (thâm hụt ngân sách, tổng phương tiện thanh toán và tín dụng năm 2009 tăng cao, lần lượt là: 6,9%GDP, 27,54%, và 37,53%) nhằm kích thích tăng trưởng kinh tế.

Về phần mình, bộ Công thương luôn cho rằng, cân đối cung ứng, phân phối hàng hóa năm nay, ở mọi thời điểm đều phục vụ đủ nhu cầu (trừ một số mặt hàng như thịt heo, rau xanh, v.v. có lúc lên giá do dịch bệnh, thời tiết: bão, lũ, rét, v.v.). Nhưng bộ Công thương không có nhắc đến chuyện nhập siêu tăng cao và kéo dài trong 4-5 năm trở lại đây. Bộ Tài chính thì cho rằng, đầu tư công lớn vẫn cần thiết để duy trì phát triển, nợ công vẫn trong giới hạn an toàn!

Theo một thành viên thường trực của tổ điều hành thị trường trong nước (liên ngành), lý giải của NHNN chưa thỏa đáng, bởi việc cung tiền năm 2010 ít nhiều cũng gián tiếp ảnh hưởng đến CPI. Hơn nữa, NHNN cũng có trách nhiệm về việc liên tục điều chỉnh tỷ giá. Vì chắc chắn, mỗi lần thay đổi tỷ giá ảnh hưởng rất nhanh và lớn đến CPI bởi Việt Nam nhập khẩu quá lớn: 70-80% lượng hàng hóa tiêu dùng trong nước; trong khi xuất khẩu, chủ yếu cũng là nhập nguyên liệu, làm gia công. Tất cả các báo cáo gần đây của một số cơ quan tổng hợp, phân tích tình hình giá cả của các bộ như: cục Quản lý giá (bộ Tài chính), trung tâm Thông tin công nghiêp – thương mại (bộ Công thương), viện Nghiên cứu thương mại đều cho thấy, giá cả nhiều mặt hàng: phân bón, giấy, thép, sữa, dược phẩm… tăng cao là có yếu tố thay đổi tỷ giá làm tăng giá nguyên liệu, thành phẩm nhập khẩu.

Hôm 24.12 vừa qua, để củng cố niềm tin của người dân đang không biết dựa vào đâu để kỳ vọng, làm ăn, Phó chủ nhiệm uỷ ban Giám sát tài chính quốc gia Lê Xuân Nghĩa hứa hẹn: “Đầu năm mới, Chính phủ sẽ tuyên bố rất minh bạch về toàn bộ chính sách điều hành tiền tệ mà Chính phủ sẽ áp dụng, bao gồm cả mục tiêu, biện pháp thực thi và cả thời hạn có thể đạt được”.

_________________________________________________________

Posted in Chuyện đất nước, Kinh tế | Tagged: , , | Leave a Comment »

Luận văn thạc sĩ giá 7 triệu đồng

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Mười Hai 29, 2010

San Hải

(SVVN) Thuê người học hộ, thuê người làm khóa luận tốt nghiệp và bây giờ thì thậm chí ngay cả luận văn thạc sĩ hay luận án tiến sĩ cũng có thể thuê được. Dịch vụ làm thuê được tổ chức thành một nhóm chuyên nghiệp và được quảng cáo rằng “có sự giúp đỡ của các giảng viên kinh nghiệm”, được rao tràn lan trên mạng.

Giảng viên cũng tham gia?

Nếu dò tìm dịch vụ làm thuê luận văn thạc sĩ từ Internet, rất có thể bạn sẽ lúng túng khi gặp không ít các nhóm đang ra sức quảng cáo cho mình: “Khi thực hiện những bài luận văn bảo vệ, bạn cần rất nhiều thời gian để có thể thu thập kiến thức và tài liệu. Tuy nhiên, vì một số lý do nào đấy mà bạn không có đủ thời gian để làm hoặc để làm tốt việc này.

Khi các bạn quyết định học lên cao học thì các bạn đều là những người đã đi làm và thời gian dành nhiều cho công việc. Với những yêu cầu của chương trình học tập cao học thì sau mỗi môn các bạn sẽ phải làm bài tập kết thúc. Sau cả ngày bận rộn với công ty và giảng đường bạn cũng sẽ khó khăn để hoàn thành những phần việc này.

Xuất phát từ thực tế trên, nhóm mình đã được thành lập nhằm mục đích giúp đỡ các bạn để có thể hoàn thành tốt chương trình học mà các bạn đang theo đuổi.
Với 15 thành viên giàu kinh nghiệm và với 5 năm làm luận văn, đồ án, nhóm tôi tin rằng sẽ mang lại cho các bạn những kết quả thuận lợi nhất. Hiện tại chúng tôi nhận làm cả những bài luận văn cao học ngoài tiếng Việt còn có tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Trung. Hãy liên hệ với chúng tôi: số điện thoại 0943xxxxxx, email: … ”.

Thậm chí, có nhóm còn rao làm thuê cả báo cáo tốt nghiệp có sẵn chữ ký và con dấu: “Bạn không có thời gian làm báo cáo tốt nghiệp, bạn học buổi tối, bạn có nhu cầu cần tìm người làm hộ báo cáo tốt nghiệp, bạn hãy gửi yêu cầu chi tiết tới email của mình theo địa chỉ bên dưới. Các bài báo cáo chuyên đề được cung cấp với giá phải chăng (có thể cung cấp con dấu cho các bạn ở Hà Nội)”. Đặc biệt hơn, trong lời quảng cáo này còn in nghiêng nhấn mạnh một đoạn: “Ưu tiên những công ty đang niêm yết trên hai trung tâm giao dịch chứng khoán: HoSE và HaSTC”.

Ở một lời rao khác, người viết quảng cáo còn khẳng định có sự tham gia của các giảng viên đại học: “Mình nhận làm thuê luận văn tốt nghiệp, báo cáo tốt nghiệp, báo cáo các chuyên ngành. Các loại gồm: quản trị kinh doanh, marketing, kế toán, quản trị đầu tư… Đặc biệt, nhóm mình nhận làm các đề tài cao học với chất lượng đảm bảo. Trong số những thành viên của nhóm mình có 3 người hiện đang là giảng viên của 3 trường đại học có trách nhiệm kiểm tra lại các bài lần cuối vì thế có thể đảm bảo chất lượng. Nếu các bạn quá bận không có thời gian đi thực tập thì mình cũng có thể xin kèm theo dấu cho các bạn (tất nhiên là giá hơi cao một chút).”

Trong các lời rao đều khẳng định: Khách hàng có thể chỉ cần giao dịch bằng email, điện thoại và thanh toán nhanh gọn bằng hình thức chuyển khoản.

Hoàn thành luận văn trong vòng một tuần?

Liên lạc với một trong những tác giả của các lời rao vặt kể trên, chúng tôi được kết nối với một người tên Vũ, tự xưng đã tốt nghiệp cao học ở trường ĐH Kinh tế Quốc dân Hà Nội được 2 năm. Ban đầu, Vũ từ chối lời đề nghị làm giúp luận văn thạc sĩ chuyên ngành tâm lý của chúng tôi. Vũ bảo: “Mình hiện đang nhận 3 cái MBA ở trong tay. Mà những khách hàng này đều gọi cho bọn mình từ 3, 4 tháng nay rồi. Mình cũng bận nhiều việc công ty. Các bạn khác trong nhóm đều nhận làm hết rồi. Bạn không biết đâu, có quá nhiều người gọi điện cho bọn mình. Nhất là thời điểm cuối năm này có rất nhiều trường, nhiều khoa tổ chức bảo vệ luận văn tốt nghiệp thạc sĩ”.

Nhưng dẫu vậy, sau nhiều lần được khẩn khoản cậy nhờ, Vũ cũng chấp nhận chia sẻ. Nhóm Vũ có 15 người, đa số là dân kinh tế và kỹ thuật. Hơn một nửa trong số đó đã tốt nghiệp 2 năm trở lên, số còn lại là sinh viên giỏi của các trường. Vũ bảo, với đề tài của chúng tôi thì cần phải có khảo sát bằng phiếu điều tra rất mất thời gian và tốn kém. Một luận văn thạc sĩ từ 80 trang trở lên, phải chuẩn bị từ tài liệu, đề cương, Power Point… nên chi phí là 7 triệu đồng. Còn nếu muốn làm bằng tiếng Anh thì giá sẽ đắt hơn: 11 triệu đồng.

Khi được hỏi về thời gian để hoàn tất công việc, Vũ nói nếu khách hàng yêu cầu quá gấp, nhóm Vũ sẽ không dám nhận. Vì như thế họ chỉ còn cách tìm trong “kho” một đề tài tương tự với đề tài khách hàng rồi gia công, update số liệu, chỉnh sửa lại và “hô biến” thành luận văn mới cho phù hợp. Còn nếu thực sự muốn có một “công trình” chất lượng thì nhóm của Vũ cần ít nhất… 1 tuần.

Khách hàng của Vũ thời gian gần đây phần lớn gọi từ TP. HCM. Vũ nói: “Khách hàng miền Bắc không nhiều nhưng khách hàng từ miền Nam gọi tới thì ngày càng đông. Bọn mình giao dịch mà không cần gặp mặt, chỉ cần chuyển khoản xong là nhận bài. Mình thích cách làm việc thoáng và tin tưởng nhau như thế. Việc gặp gỡ có khi lại phiền toái. Nhất là khi có rắc rối xảy ra, khách hàng có khi là người mất hết chứ không phải là tụi tớ”.

Cũng theo Vũ, thời điểm này, nhóm của cậu đang nhận rất nhiều bài, nhiều đến mức, hỏi có thể ước lượng được không, Vũ cũng không thể trả lời nổi. để minh chứng cho điều mình nói, Vũ gửi cho chúng tôi một số đường link, trong đó có lời rao vặt của những khách hàng đi tìm đối tác. Trong số các khách hàng đó có cả người đi tìm dịch vụ viết thuê luận án tiến sĩ: “Cần tìm 1 người viết thuê luận án tiến sĩ về Kiến trúc với tài liệu đã có thu hoạch. Có thể định giá và liên hệ với nick archle…@yahoo.com”. Dường như dịch vụ của những người như Vũ đang ngày càng phát đạt vì lượng khách hàng học gian làm dối đang ngày một nhiều.

___________________________________________________

Posted in Chuyện pháp luật, Chuyện đất nước, Giáo dục Việt Nam, Kinh tế | Tagged: , , | Leave a Comment »

Đề xuất giải phóng thị trường vàng?

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Mười Hai 29, 2010

Vân Linh – ĐTCK

Tại Việt Nam, lâu nay vàng vẫn được xem là loại tài sản tích trữ của hầu hết người dân. Do đó, trước sự tăng giá của vàng và tỷ giá thời gian qua cũng như nguy cơ lạm phát đang đe dọa lãi suất tiền đồng, nhiều người đã tìm đến vàng, để bảo toàn đồng vốn.

Trong khi đó, với quy định tại Thông tư 22/2010/TT-NHNN, NHTM không còn được rộng cửa huy động vàng như trước. Dẫn đến, lãi suất tiền gửi bằng vàng dần mất tính hấp dẫn, khiến một lượng vàng lớn tiếp tục nằm lại trong dân. Vì thế, nhiều chuyên gia cho rằng, việc phát hành trái phiếu vàng là cần thiết để tránh lãng phí nguồn lực xã hội.

Trước đây, khi các quy định với hoạt động kinh doanh vàng của ngân hàng cũng như thị trường vàng chưa bị “siết” lại, nhà băng luôn xem huy động vàng là một trong những kênh tiền gửi tiềm năng.

Khi hoạt động kinh doanh của các sàn vàng và kinh doanh vàng trên tài khoản nước ngoài ở một số ngân hàng còn duy trì, việc huy động vàng luôn được ngân hàng thúc đẩy, bởi các nhà băng có quyền chuyển đổi 30% vốn huy động bằng vàng sang tiền đồng để phát triển tín dụng. Nguồn vốn huy động về bằng vàng cũng được không ít ngân hàng tìm cơ hội “cân đối” trên tài khoản nước ngoài để kiếm lời, sau đó tìm thời điểm giá vàng giảm phù hợp, mua vào trả cho khách hàng.

Thế nhưng, sau Thông tư 22, việc huy động, cho vay bằng vàng cũng như chuyển đổi vốn tiền gửi bằng vàng sang tiền đồng của các ngân hàng bị siết lại. Theo thống kê, lượng vốn huy động bằng vàng của các ngân hàng trong thời gian qua khoảng 91 tấn. Ước tính, đến ngày 30/6/2011, các ngân hàng phải tất toán khối lượng vàng huy động theo Thông tư 22 khoảng 10 tấn.

Sau khi Thông tư 22 ra đời, lãi suất huy động vàng có chiều hướng giảm dần, về mức bình quân 0,2 – 1,5%/năm. Do chỉ được huy động vàng dưới hình thức phát hành giấy tờ có giá nên các ngân hàng phát hành chứng chỉ tiền gửi vàng. Như vậy, vốn bằng vàng được một số NHTM chuyển từ hình thức huy động trực tiếp sang huy động gián tiếp thông qua phát hành giấy tờ có giá.

Tuy nhiên, theo đại diện một ngân hàng, với các quy định của Thông tư 22, khả năng trong thời gian tới, các khoản tiền gửi bằng vàng không được trả lãi suất, ngược lại, khách hàng còn phải trả phí cho dịch vụ giữ hộ vàng cho các ngân hàng.

Theo một chuyên gia kinh tế, hiện có đến 45% tiền để dành của dân cư Việt Nam dưới dạng vàng, nhất là ở nông thôn, chỉ có 24% là tiền mặt gửi ngân hàng, số còn lại đầu tư vào ngoại tệ, bất động sản…

Đây là một sự lãng phí lớn nguồn lực xã hội. Vì vậy, nhiều chuyên gia đặt vấn đề, Chính phủ nên phát hành trái phiếu để huy động vàng trong dân. Qua đó, vừa thu hút được nguồn vốn để đầu tư cho nền kinh tế, vừa có thể bán can thiệp khi thị trường biến động mà không phải mất ngoại tệ để nhập khẩu vàng.

Theo một cán bộ ngành ngân hàng, nếu nắm được lượng vàng huy động của các ngân hàng thì Chính phủ có thể phát hành trái phiếu vàng, thay vì chỉ có trái phiếu tiền đồng và ngoại tệ. Để ổn định thị trường vàng, thời gian qua, NHNN đã cấp thêm quota nhập khẩu, với mục đích là các DN và ngân hàng sẽ bán vàng mạnh hơn để đáp ứng cầu.

Song có một thực tế cần xem xét đó la, khi các DN và ngân hàng chưa nhập khẩu thì đã bán vàng khi giá kim loại này ở thị trường nội địa biến động, sau đó mới nhập bù lại. Mặt khác, việc cấp thêm quota nhập vàng cho DN và ngân hàng có thể tác động đến cung ngoại tệ và tỷ giá.

“Do vậy, việc phát hành trái phiếu vàng là cần thiết hơn việc cấp thêm quota nhập vàng để bình ổn thị trường. Theo đó, trái phiếu vàng phát hành chỉ cần mệnh giá 1 – 2 chỉ hoặc 3 – 4 chỉ, với lãi suất bằng lãi suất các ngân hàng áp dụng đối với tiền gửi bằng vàng bình quân hiện nay 0,5 – 1%/năm”, vị cán bộ trên nhận định.

PSG TS. Trần Hoàng Ngân, Phó hiệu trưởng Trường đại học Kinh tế TP. HCM cũng cho rằng, Chính phủ nên xem xét phát hành trái phiếu chính phủ bằng vàng để huy động vốn vàng trong dân. Theo ông Ngân, năm ngoái, việc phát hành trái phiếu chính phủ bằng nội tệ đã không thành công, chỉ huy động được 4,2% kế hoạch phát hành 61.700 tỷ đồng. Việc huy động vốn vàng trong dân vừa tạo thanh khoản cho vàng, vừa giúp ngân sách nhà nước có thêm vốn để triển khai các dự án, cũng như tăng dự trữ ngoại hối quốc gia, giảm lượng ngoại tệ để nhập vàng, các DN có thể mua vàng từ Chính phủ để sản xuất nữ trang.

___________________________________________________

Posted in Chuyện đất nước, Kinh tế | Tagged: , , | Leave a Comment »

Thành quả cải cách: So sánh Trung Quốc và Việt Nam

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Mười Hai 24, 2010

Vũ Minh Khương

Kể từ khi phát động các cuộc cải cách kinh tế ở Trung Quốc năm 1978 và ở Việt Nam năm 1986, hai quốc gia này đã đạt được những thành tựu ấn tượng. Tuy nhiên, hai nước đã chứng kiến sự khác biệt lớn về tăng trưởng dù bối cảnh xuất phát và đặc điểm của hai cuộc cải cách gần như tương đồng.
Tiến sĩ Vũ Minh Khương có bài viết về nguyên nhân dẫn tới sự khác biệt này
.

Trong năm thập kỷ vừa qua, Đông Á đã nổi lên là một khu vực với những câu chuyện ngoạn mục về sự phát triển kinh tế. Ngân hàng Thế giới (WB) đã xác định 8 nền kinh tế châu Á đạt thành quả cao nhất (HPAEs) là Nhật Bản, “Bốn Con rồng châu Á” gồm Hồng Kông, Singapore, Hàn Quốc và Đài Loan, và ba nền kinh tế mới được công nghiệp hóa (NIEs) gồm Indonesia, Malaysia và Thái Lan.
Trong khi bốn Con rồng châu Á và NIEs đều đạt được các thành quả ấn tượng về tăng trưởng kinh tế và phát triển, giữa các nền kinh tế này vẫn có sự khác biệt về nhịp độ và hiệu quả của tăng trưởng. Hơn nữa, sự phục hồi chậm chạp sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997 của các nền kinh tế NIEs cũng như của bốn Con rồng châu Á khiến ta nghĩ rằng hai nhóm này có những khác biệt đáng kể về các nhân tố cơ bản tạo ra thành quả kinh tế của họ.
Trung Quốc và Việt Nam đã đạt được mức tăng trưởng kinh tế đáng chú ý kể từ khi phát động cuộc cải cách kinh tế trong nước (Trung Quốc vào năm 1978 và Việt Nam năm 1986). Tuy nhiên, giống như giữa bốn Con rồng châu Á với NIEs, hai nước này cũng chứng kiến những khác biệt lớn về thành quả tăng trưởng kinh tế. Trung Quốc và Việt Nam đi theo những mô hình tăng trưởng tương tự nhau, nhưng tăng trưởng của Việt Nam hiện thấp hơn của Trung Quốc rất nhiều.
Bên cạnh Trung Quốc, cần phải nhấn mạnh rằng Ấn Độ, nước đã thúc đẩy tăng trưởng mạnh kể từ khi tiến hành cải cách năm 1991, cũng đã làm tốt hơn Việt Nam từ năm 2004, và cả Trung Quốc và Ấn Độ dự kiến sẽ phục hồi nhanh hơn Viêt Nam sau cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay.
Các quan sát trên cho thấy sự khác biệt về thành quả kinh tế giữa Việt Nam và Trung Quốc sẽ lớn hơn nữa, chứ không đơn giản là sự chênh lệch về số lượng trong tăng trưởng kinh tế vào một thời gian nào đó.

Những nét tương đồng

Trung Quốc đã bắt đầu xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa vào năm 1949, trong khi quá trình này ở Việt Nam bắt đầu năm 1954 ở miền Bắc và năm 1975 trên cả nước thống nhất. Cả Trung Quốc và Việt Nam đã bắt đầu phát triển kinh tế từ những nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp.
Tháng 12/1978, phiên họp toàn thể lần thứ ba của Ủy ban trung ương đảng lần thứ 11 ở Trung Quốc đã đưa ra sáng kiến về cuộc cải cách kinh kế. Tám năm sau, vào tháng 12/1986, Đại hội lần thứ VI của đảng Cộng sản Việt Nam cũng phát động cải cách kinh tế, được biết đến với cái tên “Đổi Mới”. Dù các cuộc cải cách kinh tế ở hai nước được khởi động cách nhau gần một thập kỷ, nhưng hai cuộc cải cách này có những đặc điểm tương đồng, về bối cảnh dẫn tới cải cách, các điều kiện phát triển kinh tế – xã hội ban đầu, cũng như các phương pháp tiến hành cải cách và quản lý kinh tế.
Thực vậy, cuộc cải cách kinh tế ở cả hai nước đề xuất phát từ bối cảnh gồm ba nhân tố quan trọng cần cho sự thay đổi: khả năng lĩnh hội cái mới, khủng hoảng và cơ hội. Trong thời kỳ tiền cải cách (ở Trung Quốc từ năm 1949-1978, ở Việt Nam từ năm 1954-1986), hai nước đã có những nỗ lực vượt bậc nhằm xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, song chưa thành công. Trung Quốc bị bần cùng hóa bởi thảm họa Đại Nhảy vọt và Cách mạng văn hóa, trong khi nền kinh tế Việt Nam kiệt quệ vì chính sách tập thể hóa đất đai, quốc hữu hóa công nghiệp tư nhân và các thể chế thương mại.
Sau gần 30 năm phát triển kinh tế với mức tăng trưởng hàng năm đạt 2,7%, GDP trên đầu người của Trung Quốc năm 1978 chỉ đạt 164 USD. Năm 1986, Việt Nam bị liệt vào danh sách các nước nghèo nhất thế giới, với GDP trên đầu người chỉ là 203 USD. Tăng trưởng chỉ đạt 1,4% trong 10 năm sau khi đất nước thống nhất năm 1976 và Việt Nam chủ yếu phụ thuộc vào viện trợ kinh tế của Liên Xô.
Các mô hình phát triển kinh tế làm ai cũng thấy nản này đã khiến Trung Quốc và Việt Nam quyết định thay đổi cách quản lý kinh tế. Đối với Việt Nam vào năm 1986, thái độ sẵn sàng thay đổi càng lớn hơn khi cải cách kinh tế ở Trung Quốc đã bước đầu thành công.
Ngoài ra, hai nước đều phải đối mặt với những khó khăn lớn khiến các cuộc cải cách của họ trở nên cấp thiết hơn. Lĩnh vực nông nghiệp của Trung Quốc suy giảm 1,8% trong năm 1976 và 2,2% năm 1977. Trong khi đó, Việt Nam chứng kiến cảnh thiếu lương thực trầm trọng, siêu lạm phát và trợ cấp giảm. Sản lượng lương thực trên đầu người hàng năm giảm từ 304kg (quy ra thóc) năm 1985 xuống còn 301kg năm 1986 và 281kg năm 1987. Tỷ lệ lạm phát cao phi mã: 90% năm 1985, 455% năm 1986, 361% năm 1987 và 374% năm 1988. Trợ giúp hàng năm tính theo đầu người mà Việt Nam nhận được giảm hơn 50%, từ 6 USD/người trong những năm 1978-1982 xuống còn 2,6 USD những năm 1983-1987.
Các cuộc cải cách ở hai nước trở nên khả thi nhờ một số nhân tố bên ngoài và bên trong. Đối với Trung Quốc, Chủ tịch Mao Trạch Đông qua đời năm 1976 đã mở đường cho Đặng Tiểu Bình trở thành hạt nhân của ban lãnh đạo đảng. Đối với Việt Nam, các chương trình cải cách cơ bản, được Mikhail Gorbachev phát động từ năm 1985 ở Liên Xô – sau này là mô hình phát triển kinh tế cho Việt Nam cũng như việc cung cấp các hỗ trợ chính cho người dân – nói trong chừng mực nào đó, đã gợi cảm hứng cho giới lãnh đạo Việt Nam. Hơn nữa, khi Tổng Bí thư Lê Duẩn qua đời năm 1986, Việt Nam chuyển sang giai đoạn cải cách mà Đại hội đảng VI hồi tháng 12/1986 đã đề ra.
Các bối cảnh tương tự nhau đã dẫn tới các cuộc cải cách ở Trung Quốc và Việt Nam như đã nói ở trên là nền tảng cho thực tế là các cuộc cải cách ở cả hai nước mang tính kinh tế hơn là chính trị.
Về các điều kiện phát triển kinh tế – xã hội ban đầu, Trung Quốc và Việt Nam ở mức độ phát triển tương đương nhau trong nhiều lĩnh vực, trong đó có nguồn nhân lực cơ bản, kinh tế và cơ sở hạ tầng. Hai nước có tỷ lệ người biết đọc biết viết và có chế độ dinh dưỡng như nhau. Nếu tuổi thọ ở Trung Quốc cao hơn thì Việt Nam lại vượt về tỷ lệ người trưởng thành biết chữ và tỷ lệ người ở tuổi trung niên.
Nền kinh tế Trung Quốc và Việt Nam khi khởi động cải cách đều ở mức chưa phát triển, với GDP đầu người đạt 165 USD ở Trung Quốc và 203 USD ở Việt Nam. Bên cạnh cấu trúc GDP, lĩnh vực công nghiệp là chủ đạo ở Trung Quốc (48,2%), trong khi ở Việt Nam nông nghiệp là lĩnh vực chủ chốt (38,1%). Sự khác nhau này đặt ra cả ưu và nhược điểm cho cả hai nước trong giai đoạn đầu cải cách kinh tế. Đối với Trung Quốc, lĩnh vực công nghiệp rộng lớn, chủ yếu do nhà nước sở hữu, tạo ra nền tảng vững chắc hơn để công nghiệp hóa, song tính hiệu quả rất kém của nó – quá nhiều nhân công lại thiếu định hướng thị trường – đòi hỏi những nỗ lực lớn và thiện chí chính trị mạnh mẽ để cải cách. Đối với Việt Nam, lĩnh vực nông nghiệp nòng cốt có thể cho phép “nhảy cóc” với các dự án phát triển công nghiệp mới. Tuy nhiên, ngành công nghiệp nhỏ bé cũng đồng nghĩa với việc Việt Nam gặp khó khăn khi tìm kiếm các nhân công lành nghề và xây dựng một mạng lưới công nghiệp phụ trợ ngay từ đầu quá trình công nghiệp hóa.
Về kinh tế nông thôn, 80% dân số của cả hai nước sống tại khu vực nông thôn, và hai nước đều có sản lượng ngũ cốc trên hecta tương đương nhau (2,802 kg đối với Trung Quốc và 2,715 kg đối với Việt Nam). Nền kinh tế cả hai nước đều mở cửa ở mức rất thấp và có cơ sở hạ tầng yếu kém khi bắt đầu tiến hành cải cách. Tỷ trọng xuất khẩu trong GDP đạt 6,6% ở cả hai nước. Tỷ lệ người sử dụng điện thoại (tính trên 1.000 dân) là 1,3 ở Việt Nam và 2,0 ở Trung Quốc.
Trong khi các cuộc cải cách ở Trung Quốc và Việt Nam được khởi động dưới sức ép của sự thất vọng về kinh tế và nhu cầu rất lớn phải tìm ra một con đường mới để xây dựng nền kinh tế, quan tâm lớn của lãnh đạo hai nước là duy trì ổn định chính trị và quyền lực tuyệt đối của đảng Cộng sản. Kết quả là, để xác định tính hợp pháp của hệ thống chính trị, hai nước chọn cách tiến hành cải cách “từng bước” với mục tiêu đặc biệt là tăng trưởng kinh tế. Về mặt này, hai bên có một số tương đồng lớn:
– Khởi động cải cách là quyết định bước ngoặt của đảng Cộng sản với một đội ngũ lãnh đạo mới.
– Quản lý lĩnh vực nông nghiệp: hai nước đều đưa vào một “hệ thống trách nhiệm thỏa thuận với hộ gia đình”. Bước này đã biến hộ ra đình thành một đơn vị sản xuất, khích lệ nông dân nỗ lực tối đa. Điều này chính thức diễn ra ở Trung Quốc năm 1980 và ở Việt Nam năm 1988, tức là khoảng hai năm sau khi phát động cải cách ở hai nước.
– Hợp pháp hóa sự hình thành và phát triển của lĩnh vực tư nhân. Bước này được Trung Quốc thực hiện năm 1982 thông qua sửa đổi hiến pháp, đặt lĩnh vực tư nhân là “một thành phần bổ sung của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa”. Việt Nam cũng làm theo năm 1990 với việc ban hành Luật Công ty.
– Các cuộc cải cách doanh nghiệp vừa và nhỏ (SOE) và “nâng cấp sân chơi” được tiến hành theo ba bước. Giai đoạn đầu (1979-1984 đối với Trung Quốc và 1987-1994 đối với Việt Nam) tập trung trao cho SOE quyền tự quyết nhiều hơn và làm cho các doanh nghiệp này hướng vào thương mại hơn trong khi xóa bỏ nền kinh tế chỉ huy. Bước hai (1985-1993 đối với Trung Quốc và 1994-1998 đối với Việt Nam) nhằm tái cấu trúc SOE trong khi thiết lập một khung pháp lý cho các doanh nghiệp này hoạt động trong một nền kinh tế thị trường. Giai đoạn ba (từ 1994 tại Trung Quốc và từ 1999 tại Việt Nam) nhằm nâng cấp sân chơi cho tất cả các tác nhân trong nền kinh tế và tăng tốc khối tư nhân.
– Hai nước đã tích cực tận dụng toàn cầu hóa, nỗ lực thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và thúc đẩy xuất khẩu. Cả hai đều ban hành các đạo luật thu hút FDI ngay sau khi phát động cải cách (năm 1979 ở Trung Quốc và 1987 ở Việt Nam).
– Các cuộc cải cách tài chính. Cả hai nước đã bắt đầu cải cách lĩnh vực ngân hàng, tách các ngân hàng thương mại lớn của nhà nước khỏi ngân hàng trung ương và đặt chúng vào một nền tảng thương mại nghiêm ngặt hơn với việc thành lập thị trường chứng khoán và các ngân hàng tư nhân. Phải mất hơn một thập kỷ kể từ khi bắt đầu cải cách, hai nước mới cho ra đời thị trường chứng khoán đầu tiên của mình (Trung Quốc năm 1990 và Việt Nam năm 2000).
Hai nước có những khác biệt đáng kể, như quy mô dân số, các đặc điểm lịch sử và tính hiệu quả của đội ngũ lãnh đạo. Các yếu tố dân số và lịch sử tạo cho mỗi nước một số ưu điểm, được cho là có một tác động đáng kể tới thành quả kinh tế. Dân số đông khiến Trung Quốc có sức hút lớn về thị trường và nguồn lao động cả lành nghề và phổ thông. Thời kỳ phát triển hòa bình lâu dài của Trung Quốc cũng khiến hệ thống chính trị của họ ít phải quan tâm tới di sản chiến tranh và tập trung hơn vào phát triển đất nước. Phía bên kia, dân số ít hơn khiến Việt Nam nhanh nhẹn hơn. Bên cạnh đó, Việt Nam có một lợi thế là “người đến sau”, cho phép họ nghiên cứu và học hỏi từ các kinh nghiệm cải cách của Trung Quốc mà không phải trả một giá nào. Sự nổi lên của Trung Quốc cũng biến Việt Nam thành một điểm đến thu hút FDI vì các nhà đầu tư nước ngoài luôn muốn đa dạng hóa đầu tư của mình với mô hình “Trung Quốc cộng một”.
Như vậy, mỗi nước đều có thể tận dụng một số lợi thế đáng kể từ các đặc điểm của mình để thúc đẩy các thành quả kinh tế.

Quốc Thái dịch
_______________________________________________________

Posted in Chuyện đất nước, Kinh tế | Tagged: , , | Leave a Comment »

BĐS dọc Đại lộ Thăng Long bị “thổi” giá?

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Mười Hai 24, 2010

Phạm Huệ

Thị trường bất động sản Hà Nội đang chứng kiến một cơn sốt đất nền chưa từng thấy trong 10 năm trở lại đây. Hiện giá đất các dự án dọc trục đại lộ Thăng Long – còn có tên gọi khác là “đại lộ đội giá nghìn tỉ”, giá tăng chóng mặt.

Tuy nhiên, các dự án này có thực sự hấp dẫn thì rất cần một cái đầu lạnh để phân tích, tránh đầu tư theo đám đông, trở thành nạn nhân của các chiêu “thổi” giá và của cả những nhận định chủ quan của một số lãnh đạo ban ngành chủ quản.

Chờ quy hoạch và giao thông bất tiện

Đại lộ Thăng Long được chính thức thông xe từ 16.11.2010. Từ ngày 20.12, Sở Giao thông vận tải Hà Nội cho phép các phương tiện lưu thông trên đại lộ sẽ được chạy với tốc độ là 100km/h… Những thông tin này làm những nhà đầu tư có đất thuộc các dự án dọc trục đại lộ xốn xang vui mừng. Đường lớn, chạy xe thoải mái, thu ngắn quãng đường từ nhà vào trung tâm thành phố. Tuy nhiên, có đi tìm hiểu thực tế mới thấy, quả đúng là đại lộ Thăng Long thênh thang đẹp thật, nhưng phần lớn các dự án 2 bên đường vẫn còn ngổn ngang, nhiều dự án vẫn đang trong quá trình san lấp, thậm chí chưa GPMB.

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này như khó khăn về nguồn vốn triển khai dự án của chủ đầu tư; chậm trễ đền bù giải phóng mặt bằng…, nhưng lớn nhất chậm tiến độ là do phải điều chỉnh quy hoạch và phân chia lại diện tích các khu đất trong dự án theo định hướng Quy hoạch chung xây dựng thủ đô Hà Nội.

Theo thống kê của Sở Quy hoạch – Kiến trúc Hà Nội, chỉ tính riêng khu vực từ đường vành đai 2 đến vành đai xanh sông Nhuệ có tổng cộng 744 dự án, đồ án nằm trong diện phải rà soát quy hoạch. Trong đó, Thủ tướng Chính phủ đã đồng ý cho phép thực hiện 244 dự án, đồ án, với diện tích chiếm đất khoảng 10.000ha. Tuy nhiên, theo một quan chức Bộ Xây dựng, việc xử lý các dự án trong khu vực từ đường vành đai 4 đến vành đai xanh sông Nhuệ hiện đang hết sức khó khăn vì đa phần các dự án còn lộn xộn, thậm chí có dự án còn chưa có đường vào.

Ở một số dự án đến thời điểm này đã có chút hình dáng một khu đô thị như khu đô thị Nam An Khánh của CTCP Đầu tư và Phát triển công nghiệp Sông Đà (Sudico) hay khu đô thị mới Lideco của CTCP Phát triển đô thị Từ Liêm…, do không có đường dẫn trực tiếp vào khu đô thị mà phải chui xuống đường gom chật chội, nên nhiều nơi phải đi vòng vèo từ 3-5km mới vào được dự án. Đơn cử như để có thể đi sang tuyến đường dẫn vào phía dự án Nam An Khanh, từ luồng đường bên phải (đi từ phía đường Trần Duy Hưng xuống) phải rẽ vào đoạn hầm nhỏ ở phía dưới đường cao tốc thì mới có thể sang được làn đường bên trái. Thậm chí, phải đi thêm 2-3km mới có thể đến được hầm dẫn, nếu muốn quay ngược trở lại.

Đó là chưa nói đến lo ngại khi mặt đại lộ, so với mặt đường gom, thì như một con đê cao, nêu không làm tốt công tác thoát nước, thì nguy cơ ngập mùa mưa lũ sẽ rất lớn.

Những phát biểu chủ quan

Từ cách đây 1 năm, với kỳ vọng quá lớn vào thị trường, nhiều người đã phải bỏ ra số tiền chênh lệch tới vài tỉ, thậm chí ngót chục tỉ đồng để sở hữu 1 nền đất liền kề hoặc biệt thự tại các dự án khu đô thị Bắc An Khánh, Nam An Khánh, Vân Canh, Vườn cam Vinapol… Càng gần đến ngày thông xe đại lộ Thăng Long, giá đất lại bị “thổi” vô tội vạ. Nếu như cuối năm 2009, giá đất liền kề, biệt thự tại Bắc An Khánh đã đạt kỷ lục với mức chênh lệch ngoài lên đến 7-8 tỉ đồng/căn, Nam An Khánh tăng từ 16 triệu đồng/m2 lên mức 22 – 24 triệu đồng/m2… thì mức giá hiện tại đất nền Nam An Khánh đã bị đẩy lên từ 30-50 triệu đồng/m2 tùy vị trí; khu Vườn cam Vinapol từ 32-45 triệu đồng; “sốt” nhất là khu dô thị Lê Trọng tấn kéo dài (Gleximco) khu A, B giá từ 48-60 triệu đồng/m2; mặt đường lớn giá từ 81-85 triệu đồng/m2; khu C giá cũng từ 33-38 triệu đồng/m2; còn những căn biệt thự ở Bắc An Khánh thì gần như không có người gửi bán, mà nếu có thì mức chênh lệch lên tới hơn chục tỉ đồng/căn.

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này do kỳ vọng lớn vào con đường đẹp nhất Việt Nam; việc làm giá của giới đầu cơ; nhưng bên cạnh đó, đáng tiếc còn là dựa vào những phát biểu mang tính chủ quan của lãnh đạo một số ngành chủ quản trong lĩnh vực đất đai, như cho rằng trong 10 năm tới nhà đất sẽ còn tiếp tục tăng giá do nhu cầu nhà ở của người dân là rất lớn. Đây là nhận định của ông Vũ Xuân Thiện – Phó cục trưởng Cục Quản lý nhà và thị trường bất động sản (Bộ Xây dựng) tại buổi hội thảo bất động sản được tổ chức gần đây. Nguyên nhân, theo ông Thiện, chính là việc nhà nước dần thực hiện việc thu tiền sử dụng đất đối với các chủ đầu tư theo hướng sát với giá thị trường. “Chi phí đầu vào của các doanh nghiệp sẽ tăng lên. Từ đó, giá bất động sản cũng sẽ tăng theo” -ông Thiện nói.

Đành rằng có thể nhận định của ông Thiện là có một phần có cơ sở, tuy nhiên, đáng tiếc là “cơ sở” này liệu có nên đưa ra, nhất là khi thị trường lại đang chứng kiến những con sốt vô lối như hiện nay. Vô hình trung, những người có nhu cầu thực sự về chỗ ở lại một lần nữa chịu thiệt thòi.

Trong khi đó, nếu so sánh với mặt bằng các khu đô thị mới cùng khu vực phía tây như các dự án Văn Khê, Văn Phú, hoặc các dự án trục Lê Văn Lương kéo dài, tuy giá cũng tăng rất mạnh nhưng vẫn là những dự án đã nhìn thấy hình hài và là những dự án có đường giao thông đồng cấp, xem ra các dự án ven trục đại lộ Thăng Long đã giảm bớt hấp dẫn. Theo ông Ngô Trung Hải – Viện trưởng Viện Kiến trúc – Quy hoạch đô thị và nông thôn, sẽ có nhiều thách thức không nhỏ với Hà Nội trong thời gian tới, bởi việc lập quy hoạch và quản lý thực hiện quy hoạch còn tồn tại khoảng cách rất lớn. Vì vậy, việc lựa chọn đầu tư vào đâu ở thời điểm nào đòi hỏi sự bình tĩnh, sáng suốt của chính các nhà đầu tư.

__________________________________________________________

Posted in Chuyện đất nước, Kinh tế | Tagged: , , , | Leave a Comment »

BĐS cuối năm – những động thái trái chiều

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Mười Hai 24, 2010

Ngọc Minh – Vũ Chiến

Sự im ắng của thị trường bất động sản cuối năm khiến nhiều chủ đầu tư phải “tung chiêu” nhằm kích thích sức mua. Tuy nhiên, cũng có chủ đầu tư vẫn quyết định đi ngược xu thế thị trường khi tăng giá bán trong thời điểm nhạy cảm này.

Tự tạo “sóng” khuyến mãi

Việc khuyến mãi hay giảm giá bất động sản, vốn được xem là “xưa nay hiếm”, đang được các chủ đầu tư thay đổi khi tự tay tạo ra một đợt “sóng” đua nhau khuyến mãi, giảm giá để kích cầu thị trường.
Đại diện chủ đầu tư dự án City Garden, Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Căn hộ Vườn phố Việt Nam ban đầu tuyên bố tự tin vào chất lượng cũng như mức giá hấp dẫn của căn hộ, nên sẽ không có chương trình giảm giá hoặc khuyến mãi. Tuy nhiên cách đây gần 1 tháng, công ty này đã tung ra chương trình khuyến mãi đặc biệt. Theo đó khách hàng đến tham quan căn hộ mẫu tại City Garden sẽ có cơ hội rút thăm may mắn trúng suất mua căn hộ cao cấp với giá ưu đãi (giá được giảm từ 200 triệu đồng đến 1,4 tỉ đồng).
Công ty Cổ phần Phát triển Hạ tầng và Bất động sản Thái Bình Dương thì thu hút người mua bằng cách giảm giá, theo đó giá bán căn hộ Newtown Apartment (Thủ Đức, TP.HCM) sẽ được giảm giá từ 2,5 – 5%, nếu khách hàng chấp nhận thanh toán trên 50% giá trị căn hộ.

Công ty Intresco cũng có chính sách mới cho đợt bán hàng cuối cùng của dự án Cao ốc An Khang (quận 2, TP.HCM). Đó là chiết khấu trực tiếp từ 2,5-3,5% giá trị căn hộ tùy theo tiến độ thanh toán.
Một hình thức hỗ trợ tài chính khác mới được tung ra gần đây là giảm áp lực trả lãi vay cho người mua. Cuối tháng 9/2010, công ty Cổ phần SetiaBecamex đã giới thiệu chương trình “Đầu tư – Kế hoạch mua nhà EcoLakes 30/70” của dự án EcoLakes Mỹ Phước (Bình Dương). Theo đó, khách hàng chỉ cần trả 30% số tiền mua căn nhà theo nhiều đợt và vay 70% phần còn lại. Điều quan trọng là khách hàng không phải trả lãi suất trong quá trình xây nhà cũng như bất kỳ khoản nào đến khi nhà xây xong và được bàn giao.
Ngoài khuyến mãi, giảm giá, một hình thức khác được nhiều doanh nghiệp sử dụng để thúc đẩy bán hàng là giãn tiến độ thanh toán. Những năm trước đây, tiến độ thanh toán chỉ khoảng 4 – 5 lần trong 1 năm thì hiện nay, con số này là 7 – 8 lần. Thậm chí có những dự án như TDC Plaza (Bình Dương) của công ty Kinh doanh và Phát triển Bình Dương được thanh toán đến 29 lần trong vòng 8 năm.

Chiến lược một mình một lối

Công ty cổ phần Archi Land Việt Nam đã công bố kết thúc giai đoạn bán hàng 1 của dự án Greenvillas 4 thành công với 80% biệt thự được bán ra. Kế hoạch bán đã được nhà đầu tư điều chỉnh từ 3 giai đoạn thành 2 giai đoạn. Giai đoạn 2 này, đơn giá đất của dự án sẽ tăng đồng loạt 5% so với giá công bố đợt 1 (1,6 – 2,3 triệu/m2 đất.) Giá mỗi căn biệt thự ở giai đoạn 2 sẽ giao động ở mức 2,8 – 5 tỷ/ căn tùy vị trí.
Archi Land đã gây một cú sốc khi đi ngược lại hoàn toàn xu thế của thị trường. Lý giải cho quyết định mạo hiểm này, ông Nguyễn Thành Trung – Giám đốc Archi Land cho biết: “Việc tăng giá dựa vào các phân tích về giá trị thực của bất động sản, Trên thực tế, giá trị bất động sản trên địa bàn đang tăng nhờ vào sự cải thiện hạ tầng với tốc độ nhanh. Đặc biệt Greenvillas 4 đang trong thời gian thi công nhộn nhịp, đó là lý do tất yếu để chúng tôi tăng giá đảm bảo giá phản ánh đúng giá trị sản phẩm, cũng như tiêu chí hoạt động của chúng tôi từ lâu nay. Qua thành công của giai đoạn 1, chúng tôi hoàn toàn có cơ sở để tin tưởng rằng số biệt thự giai đoạn 2 sẽ được chuyển nhượng hết trong thời gian ngắn”.
Ông Trung cho biết thêm quyết định này đưa ra còn dựa trên cơ sở những nghiên cứu của công ty nghiên cứu thị trường hàng đầu CBRE. Việc ký kết Thỏa thuận hợp tác Chiến lược nghiên cứu thị trường bất động sản sinh thái giữa công ty Cổ phần Đầu tư Archi (Archi Invest – công ty mẹ của Archi Land) và CBRE là những bước tiến trong quá trình chuyên nghiệp hóa hoạt động của doanh nghiệp. Nguồn thông tin quý giá của Archi thông qua hoạt động kinh doanh kết hợp với kinh nghiệm dày dạn trong lĩnh vực phân tích thị trường của CBRE, hứa hẹn sẽ mang tới bản báo cáo thị trường chất lượng, sát thực và hữu ích. Nó không chỉ là cơ sở để Archi Land đưa ra chiến lược kinh doanh mà còn giúp khách hành có cơ sở để đưa ra quyết định đầu tư.
Ông Trung khẳng định: “Tôi tin rằng sẽ không gặp sức ép lớn khi quyết định tăng giá bán sản phẩm trong khi các dự án khác chọn cách khuyến mãi hay giảm giá. Việc khuyến mãi khủng hay giảm giá là giải pháp cho tình hình thị trường có biến động bất ổn. Thị trường biệt thự nghỉ dưỡng phía tây đang trong giai đoạn ổn định tăng, do vậy việc tăng giá sản phẩm là điều dễ hiểu. Căn nhà là một tài sản lớn, nên không phải cứ có chương trình khuyến mãi là khách hàng sẵn sàng bỏ tiền. Quyết định của khách hành còn phụ thuộc vào vị trí dự án, chất lượng xây dựng, dịch vụ và cam kết lâu dài của chủ đầu tư. Những điều đó Archi Land tự tin cam kết mang lại, hơn nữa ngay cả khi đã quyết định tăng thì mức giá chúng tôi đưa ra vẫn “dễ chịu” so với mặt bằng giá của thị trường”.

_________________________________________

Posted in Kinh tế | Tagged: , , | Leave a Comment »

Đằng sau việc Đại sứ quán Thụy Điển tại Việt Nam đóng cửa

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Mười Hai 24, 2010

Việt Anh – Mai Hương

SGTT.VN – Bộ ngoại giao Thụy Điển cho biết chính phủ nước này đã quyết định đóng cửa đại sứ quán Thụy Điển tại Việt Nam. Bốn đại sứ quán khác của nước này ở thủ đô Buenos Aires của Argentina, Brussels của Bỉ, Kuala Lumpur của Malaysia, và Luanda của Angola cũng đóng cửa.

Trong thông cáo báo chí phát trên website của bộ này, Ngoại trưởng Thụy Điển, ông Carl Bildt cho biết: “Quyết định khó khăn này là một kết quả từ quyết định mới đây của quốc hội cắt giảm khoảng 300 triệu kronor Thụy Sĩ (khoảng 43 triệu USD) ngân sách cấp cho các cơ quan chính phủ”. Thông cáo này cũng cho biết các đại sứ quán nói trên sẽ đóng cửa trong năm 2011.

Quyết định nội bộ

Trước thông báo nói trên, người phát ngôn bộ Ngoại giao Việt Nam, bà Nguyễn Phương Nga ngày 23.12 cho biết đây là “quyết định nội bộ của Thụy Điển”. Bà Nga nói: “Chúng tôi mong muốn hai bên sẽ tiếp tục tăng cường hợp tác trong thời gian tới, thông qua các biện pháp và hình thức phù hợp, đáp ứng nguyện vọng và lợi ích của cả hai nước. Việt Nam sẵn sàng tạo điều kiện thuận lợi để Thụy Điển sớm mở lại đại sứ quán tại Việt Nam khi điều kiện cho phép”.
Thụy Điển là một trong những quốc gia đầu tiên thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam từ năm 1969, và là một trong những nước có nhiều chương trình viện trợ cho Việt Nam.
Các nhân viên đại sứ quán Thụy Điển tại Việt Nam tiếp nhận thông tin về việc đóng cửa cơ quan này chỉ trước Giáng Sinh một ngày. Trên mạng xã hội facebook có nhân viên sứ quán bày tỏ tâm trạng “không tin được”, “không tưởng tượng được”, và sự luyến tiếc về việc đóng cửa trong khi vừa mới có một đại sứ mới năng động và xông xáo.
Ông Staffan Herrström hiện là đại sứ Thụy Điển tại Việt Nam chỉ mới đến Hà Nội nhận nhiệm vụ từ tháng 9.2010. Trong hơn ba tháng qua ông cũng đã có nhiều hoạt động ở nhiều địa phương của Việt Nam, từ Hà Giang đến TP. Hồ Chí Minh.

Tiết kiệm 300 triệu kronor

Đại sứ Staffan Herrström cho biết việc đóng cửa sứ quán ở Hà Nội giúp tiết kiệm số tiền tương đương 3% mức ngân sách bị cắt giảm. Báo Swedish Wire của Thụy Điển cho biết Thủ tướng nước này, ông Fredrik Reinfeldt rất không hài lòng với kế hoạch cắt giảm, với một nửa trong tổng số 300 triệu kronor (khoảng 43 triệu USD) cắt giảm là do thu hẹp ngân sách của bộ Ngoại giao.
Viết trên mạng xã hội Twitter hôm 9.12, ông Carl Bildt cho hay: “Những người theo chủ nghĩa dân túy trong quốc hội đã quyết định cắt giảm nguồn tài chính cho bộ ngoại giao. Giờ chúng ta phải đóng cửa một số đại sứ quán ở nước ngoài. Cực kỳ dại dột”.
Năm ngoái với lý do cắt giảm ngân sách, bộ ngoại giao Thụy Điển cũng đã đóng cửa đại sứ quán của nước này tại Colombo, và tổng lãnh sự quán ở Kaliningrad, Canton, Los Angeles, và New York. Vào tháng 1.2010 bộ trưởng bộ ngoại giao Thụy Điển từng thông báo về việc chính phủ nước này sẽ mở 10 đại sứ quán mới nhưng lại đóng cửa 6 đại sứ quán khác. Đây được xem là biện pháp tìm kiếm cách thức mới để duy trì các quan hệ song phương trong tương lai.

“Ngày đen tối nhất trong năm”

Về việc xin cấp visa (thị thực) ở đại sứ quán Thụy Điển tại Việt Nam, qua Facebook ông trả lời một bạn trẻ Việt Nam rằng: “Việc vấn đề này được xử lý như thế nào trong khuôn khổ hoạt động Schengen sẽ được công bố vào đầu năm sau. Nhưng hiện tại tất nhiên chúng tôi vẫn thực hiện (việc cấp visa)”. Khối tự do đi lai Schengen hiện có 25 thành viên, trong đó có Thụy Điển.

Trong một bài ngắn đăng trên blog vào chiều ngày 23.12 với tựa đề Dark days in Hanoi (Những ngày u ám ở Hà Nội), ông Herrström viết: “Thụy Điển sẽ tìm những cách khác để duy trì và nuôi dưỡng các mối quan hệ của chúng tôi với Việt Nam, và tôi sẽ làm mọi thứ có thể để đóng góp cho điều này trong thời gian còn lại của tôi ở Hà Nội”.

Theo blog này, ông Herrström mới chỉ biết đến quyết định nói trên vào ngày 21.12 vừa qua, gọi đó là “ngày đen tối nhất trong năm”, và trong những việc ông lo lắng lúc này là những thách thức và những khó khăn trong tương lai sẽ xảy đến cho các nhân viên người Việt của ông. Tuy nhiên, ông đã kết thúc bài viết bằng lời an ủi: “Những ngày tươi sáng hơn sẽ đến”.

Toàn văn bài viết Darks day in Hanoi của đại sứ Staffan Herrström:
http://blog.swedenabroad.com/herrstrom/2010/12/23/dark-days-in-hanoi/

_______________________________________________________________

Posted in Chuyện đất nước, Việt Nam và thế giới | Tagged: , , | Leave a Comment »

Không có việc Công an Hà Nội đàn áp tín đồ Tin lành

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Mười Hai 24, 2010

Gần đây, trên phương tiện thông tin nước ngoài và một số trang điện tử như Dongchuacuuthe, Nuvuongcongly.com, Vietcatholic, dựng chuyện “Công an Hà Nội đàn áp tín đồ Tin lành,” gây dư luận không tốt về tự do tôn giáo tại Việt Nam, làm ảnh hưởng xấu đến bầu không khí vui đón Giáng sinh của những người theo đạo Thiên chúa tại Việt Nam. Vậy đâu là bản chất của sự việc?

“Hiệp hội thông công cơ đốc Hà Nội” (HCF) – là tổ chức tôn giáo thành lập trên cơ sở liên kết chín hệ phái Tin lành, nhưng chưa được thành phố Hà Nội công nhận tư cách pháp nhân. Ngày 30/11, tổ chức tôn giáo này thông qua bà Nguyễn Thị Ánh Tuyết, đã ký kết hợp đồng với Trung tâm hội nghị quốc gia với nội dung thuê địa điểm tổ chức “Buổi gặp mặt cuối năm của những người Việt đã từng sống và làm việc ở Nga.”

Nhưng trên thực tế, kịch bản của chương trình mà phía bà Tuyết chuyển cho Trung tâm Hội nghị quốc gia vào ngày 15/12 lại là “Gặp mặt cuối năm: Vui Giáng sinh, mừng năm mới” do mục sư Phạm Tuấn Nhượng chịu trách nhiệm, với những nội dung không trùng khớp như đã đăng ký trong hợp đồng. Chưa kể trong đó có nhiều tiết mục của người nước ngoài (theo quy định phải xin phép cấp có thẩm quyền mới được biểu diễn).

Ngày 16/12, Trung tâm Hội nghị quốc gia chính thức thông báo hủy Hợp đồng số 336-2010/NTAT-NCC và yêu cầu phía bà Tuyết có trách nhiệm thông báo tới toàn thể khách mời về việc này và thay đổi địa điểm tổ chức chương trình. Đồng thời căn cứ vào nguyện vọng của tín đồ, Trung tâm Hội nghị quốc gia đã giới thiệu họ liên hệ chuyển địa điểm tổ chức Chương trình về Trung tâm văn hóa Thể dục thể thao huyện Từ Liêm.

Không đồng ý với quyết định của Trung tâm Hội nghị quốc gia, tối 18/12, ông Phạm Tuấn Nhượng là một trong ba thành viên lãnh đạo của Hiệp hội Thông công Cơ đốc Hà Nội đã họp với Hội đồng mục sư của Hiệp hội Thông công Cơ đốc Hà Nội để bàn việc tiếp tục tổ chức Chương trình.

Theo ông Nhượng, việc Trung tâm Hội nghị quốc gia hủy hợp đồng là vi phạm; thời gian quá gấp không thể chọn địa điểm khác được? Nếu chính quyền không cho tổ chức bên trong Hội trường thì sẽ tổ chức chương trình ở phía ngoài hàng rào của Trung tâm Hội nghị quốc gia.

Chưa dừng ở đó, chiều 19/12, ông Nhượng đã kích động các tín đồ Tin lành tập trung bên ngoài Trung tâm Hội nghị Quốc gia quậy phá, gây rối làm ách tắc giao thông. Để đảm bảo an ninh trật tự và an toàn giao thông tại khu vực, lực lượng chức năng đã giải thích, vận động những người cầm đầu HCF thực hiện đúng pháp luật và yêu cầu các tín đồ giải tán.

Không những không chấp hành pháp luật, ông Nhượng tiếp tục kích động các tín đồ, buộc lực lượng chức năng phải giải tán đám đông và tạm giữ hành chính 24 giờ đối với chín đối tượng quá khích; trong đó có hai người cầm đầu. Tức tối vì không thực hiện được ý đồ, những người đứng đầu HCF đã sử dụng các hình ảnh quay bằng điện thoại di động hoạt động giải tán đám đông của lực lượng chức năng, phát tán trên các trang mạng điện tử, nhằm vu khống “chính quyền đàn áp giáo dân.”

Sự việc đã rõ. Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng tự do tín ngưỡng, tạo điều kiện cho các tôn giáo hoạt động. Việc các tổ chức tôn giáo chưa được công nhận tư cách pháp nhân như HCF vẫn cố tình tổ chức các hoạt động tôn giáo trái phép là vi phạm pháp luật, cần phải được xử lý nghiêm minh./.

TTXVN
_____________________________________________________________________

Posted in Chính trị Việt Nam, Chuyện pháp luật, Chuyện xã hội | Tagged: , , | Leave a Comment »