NGÔN NGỮ & VĂN HÓA

CHÚC MỪNG NĂM MỚI

Truyền nhân của 18 cuốn truyện cổ Tày

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Mười Hai 15, 2010

Trần Hòa – Ba Zin

– Đó là ông Ma Thanh Sợi, 66 tuổi người dân tộc Tày bản Rịa (xã Nghĩa Đô, Bảo Yên, Lào Cai). Ông là truyền nhân đời thứ 3 và là nghệ nhân văn hóa của tộc Tày bản Rịa. 18 cuốn truyện cổ ấy là tài sản tinh thần vô giá mà ông Sợi bấy nhiêu năm đã phải đánh đổi để giữ gìn.

Người được “bọc” trong núi

Từ thị trấn Phố Ràng chúng tôi vượt qua 26 cây số đường rừng bằng chiếc Minsk cổ. Từ đỉnh núi Khau Rịa nhìn xuống, bản Rịa như một kỳ quan đá xám ngoét phớt màu ban mai. Người bản Rịa có câu: “Khửn ngài lống dạc” – tức là “lên dễ xuống khó” – từ đỉnh Khau Rịa, chúng tôi phải “ấn phanh” liên hồi mà con “ngựa chiến” vẫn vù vù lao xuống dốc như đá rơi giữa vực.

Trong bản có ngôi nhà sàn cổ kính gần 100 tuổi làm bằng lim rừng Lùng Vái. Ông Sợi tự hào về ngôi nhà ấy lắm. Có dạo, đại gia trên phố đi chiếc xế hộp cáu cạnh đến năn nỉ mua lại ngôi nhà nhưng ông Sợi không bán. “Ngôi nhà này là “khoăn” (linh hồn) của cả bản làng, mất “khoăn” là mất tất cả” – ông Sợi nói trong những làn khói quyện thơm lừng từ ấm trà dây rừng vừa chín tới.
Tốt nghiệp khoa Sư phạm tại Yên Bái, ông Sợi được điều lên mở lớp ở Nậm Xây – nơi mà người dân gọi thầy giáo là “thầy gió” – một xã đặc biệt khó khăn và gần như 100% mù chữ. Vừa quản lý vừa huấn luyện các lớp đào tạo giáo viên thôn bản được một thời gian, ông gặp ngay phải một họa lớn – “họa thăng chức” – ông được cấp trên giao quyền trưởng phòng giáo dục huyện Văn Bàn. Sở dĩ, gọi là “họa thăng chức” vì với ông Sợi, được gần gụi nhân dân, được ngày ngày “môn khỏa lồng nà” (xắn quần xuống ruộng) với bà con thôn bản là điều hạnh phúc. Một thời gian sau, ông xung phong đi B chiến đấu.

Năm 1981, phục viên trở về quê hương, ông Sợi làm “đầu tàu” với vai trò bí thư, rồi chủ tịch xã cho đến khi chính thức trở thành “truyền nhân tinh thần” của người bản Rịa…

Truyền nhân đời thứ ba

Khi còn sống, “pò” (bố) của ông Sợi vốn là một “kho sử sống” của người Tày bản Rịa. Bao nhiêu năm chờ con đi kháng chiến, khi thấy con trở về ông cụ đã truyền lại những cuốn truyện cổ ấy lại cho con trai như một món quà mà “Pà” (trời) đã gửi trọn.

Thân sinh ông Sợi vốn là truyền nhân đời thứ 2 của bản Rịa. Ông Sợi là đời thứ 3 đã lặn lội khắp các bản làng của người Tày và các dân tộc anh em để tìm lại những câu chuyện cổ tích của bản Rịa.
Không biết dùng chữ nghĩa nào để có thể tả hết những gian truân trong mấy mươi năm qua mà ông Sợi đã trải qua. Lên rừng, vượt núi, chui hang nào đã thấm hết khó nhọc. Có những câu chuyện có được, ông Sợi đã phải “kin lẩu” (uống) cả vại rượu để cảm ơn các già làng, già bản…
Đến nay, ông đã sưu tầm được thêm nhiều truyện cổ, 322 câu tục ngữ, các phong tục tập quán làm nhà, cưới, sinh đẻ, ma chay, các món ăn dân tộc, tập quán chữa bệnh của riêng dân tộc Tày… Đó thực sự là những kho báu vô giá và cũng là ước nguyện “hoàn chỉnh linh hồn” mà người Tày bản Rịa mong muốn.

Trong quá trình sưu tầm, không ít lần ông định bỏ cuộc vì nhiều trở ngại. Ông tự vấn mình rằng, sưu tầm để làm gì? Trong khi những người am hiểu hầu hết đã mang kho tàng cổ ấy xuống tầng sâu của đất. Người còn sống thì hầu hết đã già cả nên trí nhớ kém… Sưu tầm ở những người này nhiều khi không đúng nguyên bản.

Cái khó “ló” cái khôn, không chịu bỏ cuộc nên để có được thông tin hoàn chỉnh ông Sợi phải đi nhiều, hỏi nhiều, chọn lọc ở nhiều người am hiểu ở khắp các làng bản kết hợp với những câu chuyện còn lại trong sách cổ để biên soạn.
Ông Sợi chia sẻ: “Cũng may là trí nhớ tôi còn tốt vì hồi những năm 60, tôi được “nằng cắp các bú” (hầu chuyện các cụ) nên những câu chuyện sau này được nghe tôi đều cố nhớ lại để phân tích…

Trong đó có những câu chuyện độc đáo như: Sự tích cây thanh thảo; Núi Ba Cụ; Hai người bạn già gặp nhau; Bụt sửa người; Làng Chón… Bụt sửa người là một trong những câu chuyện vừa hóm hỉnh lại mang tính nhân văn cao. Câu chuyện kể rằng, xưa kia có một chàng trai tên Pịa mồ côi xấu xí sống với bà ngoại. Vì xấu lại nghèo nên không lấy được “mía” (vợ). Pịa liền bỏ vào rừng sâu và gặp được Bụt. Nghe hết sự tình, Bụt đã “hóa phép” cho Pịa thành một chàng trai tuấn tú.

Trước khi về bản, Bụt dặn Pịa: Ai cầm “vấy” (dương vật) thì con sẽ lấy làm vợ. Không ngờ khi về đến bản, thấy Pịa đẹp trai, tất cả gái bản đã chạy ra tranh nhau để cầm “vấy”. Pịa sợ quá, bỏ trốn khỏi bản rồi gặp một cô gái đẹp. Cô gái ấy như bị bùa mê nên đã cầm “vấy” Pịa. Họ thành vợ thành chồng và sống rất hạnh phúc. Sau này, trai bản Rịa ước được như Pịa nên thi nhau vào rừng sâu tìm Bụt…

Ước mơ giản dị của truyền nhân

Những câu chuyện độc đáo của người Tày bản Rịa rất nhiều mà sức người thì có hạn. Bước sang tuổi 66, sức trai bản điền không còn nữa mà núi rừng hùng vĩ lại ẩn chứa biết bao những bí hiểm. Những câu chuyện cổ của dân tộc Tày như những khối vàng già đang ẩn nấp đâu đây rất cần những truyền nhân chí nghĩa cần cù tiếp tục khai phá.

Để tạm thời phá bỏ những lo lắng ấy, ông Sợi đã trao tất cả đề tài sưu tầm được cho Sở Văn hóa tỉnh Lào Cai quản lý và tiếp tục công trình tìm kiếm. 2.760 trang chép tay chưa một lần công bố sẽ được in ấn cẩn thận trong thời gian không xa để những người yêu văn hóa dân tộc có thể tìm hiểu và thưởng thức những câu chuyện “độc nhất vô nhị” trên thế giới…

Với những kết quả nghiên cứu này, năm 2009, ông Sợi đã được công nhận là nghệ nhân văn hóa dân gian. Bao nhiêu năm cống hiến vì những đặc sắc của văn hóa dân tộc, đến nay khi tuổi đã như Mặt Trời xế núi, ước mơ lớn nhất của ông là có được nguồn tài trợ nho nhỏ để tiếp tục công việc sưu tầm và xuất bản xong 18 cuốn truyện cổ.

[Ngoài những câu chuyện độc đáo ấy, trong quá trình sưu tầm ông Sợi đã vô tình phát hiện ra nhiều thú vị trong ngôn ngữ nói của người Tày Nghĩa Đô. Ông nhận ra rằng, người Tày Nghĩa Đô đã không ngừng sáng tạo chữ viết và tiếng nói trên cơ sở tiếng Tày bản địa.
Ngôn ngữ nói của người dân tộc đều bắt nguồn từ phần từ vựng (từ ngữ), âm vựng (ngữ âm) mà tạo thành. Tiếng nói của người Tày về từ vựng hầu hết giống nhau. Còn ngữ âm (âm vựng) khi phát ra lại khác nhau, gắn liền với địa danh. Nét độc đáo tiếng nói của người Tày Nghĩa Đô còn được biểu hiện rất hóm hỉnh, ngoài 24 chữ cái của tiếng Việt, còn có 4 âm tiết nữa, khi phát ra hoàn toàn khác, không nằm trong ngữ Việt, đó là các từ đầu tiếng gắn sát với chữ p, ph, b, m.]

_____________________________________________________________

Advertisements

Trả lời

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: