NGÔN NGỮ & VĂN HÓA

CHÚC MỪNG NĂM MỚI

Archive for Tháng Hai, 2011

Vì sao ngửa tay xin viện trợ, nhưng “xài sang nhất thế giới”?

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Hai 28, 2011

Trần Minh Quân

Mọi người sẽ nghĩ gì khi Việt Nam chưa thuộc diện thoát nghèo, vẫn đang nhận viện trợ của thế giới mà lại mang tiếng chi bạo nhất thế giới? Đó là câu hỏi day dứt mà tác giả đặt ra trong bài viết dưới đây.
Trong mấy ngày qua, bài toán lạm phát và chỉ số giá tiêu dùng có xu hướng tăng vọt đang làm nóng các diễn đàn, đang thách thức các nhà kinh tế. Và bài bài toán chi tiêu, các phương án “thắt lưng buộc bụng” trong thời bão giá đã len lỏi vào tận hang cùng ngõ hẻm, là câu chuyện xôm tụ từ trong nhà ra đến ngoài phố, từ miền ngược đến miền xuôi, … thì vẫn có một bộ phận người Việt Nam đang “vô tư” tiêu xài mà không hề suy tính thiệt hơn.
Thoạt nhìn thì những kết luận kiểu như “Người Việt Nam lạc quan nhất thế giới” hay “Người Việt Nam tiêu xài lạc quan nhất thế giới”, … là những dấu hiệu đáng mừng vì khi xã hội tiêu xài lạc quan, sức mua tăng lên, chứng tỏ nền kinh tế Việt Nam rất năng động, sản xuất hàng hóa đang phát triển. Nhiều người cũng tin rằng, đây sẽ là bước đà để Việt Nam theo kịp các nước có nền kinh tế phát triển cao trên thế giới.
Tuy nhiên, nếu xem xét kỹ vấn đề thì hình như không phải như vậy, thậm chí hiện tượng này phản ánh một thực tế hoàn toàn ngược lại.

Đừng tự hào khi mang danh “xài sang nhất thế giới”

Nhiều nông dân bán đất được một cục tiền lớn, không biết làm gì, tiêu xài vô tội vạ như nội dung phim “Cuộc phiêu lưu của Hai Lúa”. Ảnh: minh họaTrong khi Việt Nam vẫn đang thuộc diện nghèo với đa phần là nông dân, có thu nhập thấp. Kinh tế vẫn chủ yếu dựa vào đầu tư nước ngoài và các khoản viện trợ của các tổ chức tín dụng quốc tế thì cái danh “tiêu xài lạc quan nhất thế giới” thật không đáng để tự hào chút nào.
Thực tế thì trong những năm gần đây, kinh tế của người dân có phần khấm khá, thu nhập có phần tăng lên, do đó sức mua và chi tiêu cũng tăng theo. Thị trường bán lẻ của Việt Nam tăng mỗi năm 20% có nguyên nhân từ sự dồn nén của nhiều năm trước, khi đa phần người dân có đời sống hàng ngày quá thiếu thốn. Đồng thời con số này chỉ phản ánh được mức tiêu xài ở các thành phố lớn, còn những người ở vùng nông thôn vẫn còn đang vật lộn với cái ăn, cái mặc hàng ngày thì lấy tiền đâu ra để mua sắm?
Công bằng mà nói thì ở đâu đó trong xã hội vẫn có nhiều người nghèo nhưng họ chi tiêu rất thông thoáng. Những người này đa phần là những người không có công ăn việc làm nhưng lại sẵn có đất đai của tổ tiên, ông bà để lại. Hay những người trước giờ vốn nghèo nhưng do quá trình đô thị hóa, đất đai của họ vốn rẻ như … bèo thì nay tự nhiên có giá do đầu tư, quy hoạch. Họ cầm một khoản lớn tiền đền bù, giải tỏa trong tay mà không biết làm gì cho hợp lý nên đa phần họ tìm cách mua sắm, tiêu xài một cách vô tội vạ đến khi hết thì thôi.
Ngoài ra, có lẽ có người viết đã quá lời khi cho rằng đa phần người Việt Nam hiện nay làm ra chỉ được 1 đồng mà tiêu xài đến 2 đồng hay 4 đồng. Điều này là không hoàn toàn chính xác.
Hàng ngày trên các phương tiện thông tin đại chúng hay trong cuộc sống xung quanh chúng ta vẫn còn rất nhiều những người mẹ, người cha đang tảo tần, dãi nắng dầm mưa, làm lụng vất vả kiếm tiền nuôi sống gia đình, nuôi con ăn học. Từng đồng tiền họ kiếm được là mồ hôi, là nước mắt, là sự nổ lực phấn đấu không ngừng của bản thân mà có nên họ rất quý trọng và tiết kiệm đồng tiền.
Điều này chỉ đúng đối với một bộ phận nhỏ những người không trực tiếp làm ra đồng tiền, những cậu ấm, cô chiêu, hay những người vì một lý do nào đó mà giàu nhanh, những đồng tiền lớn họ có trong tay không được tạo nên từ mồ hôi, nước mắt, không phải từ lao động chân chính, mà từ những phi vụ làm ăn bất chính, hay do tham ô, hối lộ, … nên họ mới xem nhẹ đồng tiền.
Bên cạnh đó, hệ thống ngân hàng hay các tổ chức tín dụng cũng đâu dễ dãi cho vay đối với những người không có khả năng chi trả, không có vật dụng thế chấp. Thử hỏi họ lấy đâu ra tiền để mà chi tiêu vượt khả năng của mình?

Ai ăn bát phở 750.000 đồng?

Vậy tại sao tuy số lượng những người “chi bạo” không chiếm đa số nhưng lại phản ánh được một thực tế gây phản cảm, thậm chí bị xem là một lối ứng xử trong xã hội hiện nay?
Điều này sẽ không khó để lý giải khi mà những người nghèo (đa số), thì đang cố gắng chắt chiu từng đồng bạc lẻ, từng hạt muối, hạt thóc, củ khoai, … trong khi đó những người chi bạo (thiểu số) thì lại đang ra sức mua nào là siêu xe, siêu điện thoại, siêu laptop, … hay chi cho những bữa ăn bạc triệu, thậm chí một số người chỉ với một bữa ăn sáng họ chi tới 750.000 đồng.
Điều này cho thấy rằng dù đa số người nghèo có tiết kiệm tới đâu thì cũng không thể bù đủ cho lượng tiền mà những người chi bạo đã bỏ ra.
Có người cho rằng nguyên nhân của hiện tượng này chủ yếu từ giáo dục. Do thiếu giáo dục của gia đình, nhà trường và xã hội nên mới xảy ra cớ sự như ngày hôm nay. Điều này quả thật không sai.
Tuy nhiên có một nghịch lý phũ phàng đang diễn ra. Trong khi nhiều học sinh ở vùng miền núi các tỉnh miền trung đang phải bỏ học để lên rừng chặt đót về bán kiếm tiền phụ giúp gia đình thì vẫn còn đâu đó những học sinh con nhà khá giả nơi thành thị lại vùi đầu vào các trò chơi trực tuyến, game online, hay các cuộc chơi trác táng, thâu đêm suốt sáng, tiêu tiền như rác, như ném tiền qua cửa sổ, … Vậy phải chăng học sinh ở thành phố không được giáo dục đầy đủ và tới nơi tới chốn như các em học sinh ở miền núi khó khăn?
Điều này cho thấy rằng nếu sống trong điều kiện khó khăn, thấy được sự vất vả của cha mẹ khi kiếm tiền thì con cái sẽ biết cách quý trọng đồng tiền. Ngược lại, những gia đình có cha mẹ kiếm tiền quá dễ, nhất là những đồng tiền không chân chính thì rất dễ dẫn đến sự nhìn nhận lệch lạc giá trị của đồng tiền, chi bạo ắt sẽ xảy ra.

Tự làm xấu mình trong con mắt bạn bè thế giới

Hàng ngày vẫn còn rất nhiều những người mẹ, người cha đang tảo tần, dãi nắng dầm mưa, làm lụng vất vả kiếm tiền nuôi sống gia đình, nuôi con ăn học. Từng đồng tiền họ kiếm được là mồ hôi, là nước mắt, là sự nổ lực phấn đấu không ngừng của bản thân mà có nên họ rất quý trọng và tiết kiệm đồng tiền.
Trong xã hội hiện nay đang tồn tại một bộ phận không nhỏ người dân quá xem trọng hình thức và giá trị vật chất. Điều này rất dễ dẫn đến sự đua đòi, bắt chước, muốn thể hiện ta đây là kẻ “chịu chơi”, là thức thời. Nếu những người này sống trong điều kiện kinh tế gia đình khá giả, rất dễ trở thành những người chi bạo.
Tóm lại, chỉ có những người đang sở hữu những đồng tiền không phải do mình làm ra hay làm ra một cách không minh bạch mới dám xem nhẹ đồng tiền. Đa số những người còn lại, khi vẫn đang chật vật xoay xở với công cuộc mưu sinh hằng ngày, cuộc sống đang phải đối diện với những thiếu thốn thường nhật thì không thể và cũng không có để mà chi bạo.
Chi bạo sẽ không có gì đáng nói nếu là chi những đồng tiền do lao động chân chính của chính mình làm ra hay chi vào những việc có ích cho xã hội như làm từ thiện, giúp đỡ cho người nghèo, …
Chỉ vì một số người chi bạo mà tạo nên một hiện tượng xã hội hay hình thành nên một lối ứng xử thì rất đáng bị lên án, cần được chấn chỉnh kịp thời. Nếu không sẽ tạo nên một đặc trưng ứng xử lệch lạc trong xã hội và quan trọng hơn, chúng ta sẽ tự làm xấu mình trong con mắt của bạn bè thế giới.
Mọi người sẽ nghĩ gì khi Việt Nam chưa thuộc diện thoát nghèo, vẫn đang nhận viện trợ của thế giới mà lại mang tiếng chi bạo nhất thế giới?

_____________________________________________________

Advertisements

Posted in Chuyện xã hội, Chuyện đất nước, Kinh tế | Tagged: , , | Leave a Comment »

Tìm về nơi ẩn mình của Tập Cận Bình

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Hai 28, 2011

Một ngôi nhà hang động mờ mờ, chật chội, bốc mùi ẩm mốc, chiếc giường và tấm thảm chùi chân sát cửa. Một chiếc túi bạt màu xanh và ngọn đèn lồng treo trên hai chiếc móc gỉ trên bức tường… những thứ này từng thuộc về một cậu thiếu niên gày gò đến từ Bắc Kinh cách đây hơn bốn thập niên, để tham gia lao động cực nhọc và sống một cuộc sống nông thôn đích thực.

“Cậu ấy dường như rất thích đọc sách”, Lục Năng Trung, 80 tuổi, một lão nông từng ở cùng cậu thiếu niên khi ấy, Tập Cận Bình, trong ba năm, kể lại. “Những cuốn sách rất dày, nhưng tôi không biết chúng nói về điều gì. Cậu ấy đọc sách cho tới khi ngủ thiếp đi”.

Và, những ngày này, thứ mà ông Tập chú tâm thiên về các bài phát biểu, hay tài liệu hoạch định của chính phủ. Vị phó Chủ tịch Trung Quốc, 57 tuổi, được cho là người sẽ kế nhiệm ông Hồ Cẩm Đào vào năm tới ở cương vị lãnh đạo cao nhất đất nước. Tiểu sử chính thức của ông chưa từng được công bố chi tiết. Ngôi nhà cũ của ông dường như là nơi khó tiếp cận với các phóng viên.

Lương Gia Hà được coi là nơi khởi nguồn, nơi bắt đầu cho những “huyền thoại” về người lãnh đạo bí ẩn. Trong một bài viết tiểu luận viết cho một cuốn sách năm 2003, ông Tập Cận Bình nói rằng, bảy năm ông sống ở đây đã tạo ra sự biến chuyển của cuộc đời ông. Ông viết về cách phụng sự người dân: “Chúng ta không được đứng cao hơn quần chúng. Cuộc sống vất vả khó khăn của thường dân có thể nuôi dưỡng ý chí, tu luyện một con người. Với những trải nghiệm ấy, bất kể khó khăn nào trong tương lai, tôi sẽ đối mặt với lòng can đảm, để vượt qua mọi thách thức, để tin vào những điều không thể và để chinh phục những trở ngại mà không hề hoảng hốt.

Ngôi làng nằm trong một thung lũng hẹp cách Diên An, thành phố thuộc tỉnh Thiểm Tây phía bắc Trung Quốc khoảng hơn 100km, đây cũng là căn cứ cách mạng của Đảng Cộng sản Trung Quốc trong suốt 12 năm. Cha của ông Tập Cận Bình là ông Tập Trọng Huân, người sinh ra ở Thiểm Tây, đã góp phần xây dựng căn cứ này và trở thành một vị lãnh đạo được kính trọng. Ông bị thanh lọc trong cuộc Cách mạng ăn hóa, và con trai ông từ Bắc Kinh được gửi tới đây khi ở tuổi 15 để lao động cực nhọc trong đại đội lao động Lương Gia Hà.

Ngôi làng có 100 hộ gia đình, lớn gấp hai so với thời ông Tập sống ở đây. Nhà của dân làng xây dựng trên các sườn đồi khô. Các lão nông làm việc trên các cánh đồng ngô, bí ngô và khoai tây; những người trẻ tuổi hơn đã rời làng đi tìm việc làm ở các thành phố; những chú ngựa, lừa chở hàng bước nặng nề trên đường; Phụ nữ về nhà với gánh củi nặng trên vai…

Con trai của một vị anh hùng cách mạng, cậu thanh niên Tập Cận Bình đã rời bỏ cuộc sống của tầng lớp quý tộc ở Bắc Kinh. Khi ấy, Tập là một trong hơn 10 thiếu niên tới đây từ thủ đô Trung Quốc. “Cậu ấy rất khác so với chúng tôi”, ông Lục nói. “Dáng vẻ rất khác, lời nói cũng khác. Chúng tôi không hiểu giọng Bắc Kinh của cậu ấy, và lúc đầu, cậu ấy cũng không hiểu chúng tôi”.

Nghề nông không phải phải là nghề của Tập. Thậm chí sau một năm ở đây, cậu vẫn khá vất vả để giữ cân bằng gánh nước trên vai, ông Lộc nhớ lại. “Cậu ấy trượt xuống đồi thay vì đi bộ, cậu ấy luôn luôn rất thận trọng. Cậu ấy nói với tôi ’Người Thiểm Tây thực sự là điều gì đó. Mọi người có thể phát hiện những viên sỏi trên cánh đồng”, ông Lục kể lại: “Và tôi nói, cậu không kiếm tìm sỏi đá, cậu cảm nhận chúng”.

Rất nhiều thanh thiếu niên khác tới ngôi làng xuất thân trong các gia đình quân sự, và Tập Cận Bình kết bạn với họ. Nhưng phần lớn đã gia nhập quân đội chỉ sau nửa năm. “Tôi cảm thấy rất buồn”, ông Tập sau này viết. “Nhưng sau khi tôi tham gia vào cuộc sống địa phương, đặc biệt là sau khi tôi hòa mình với người dân địa phương, tôi cảm thấy sống rất hạnh phúc”.

Tập Cận Bình đã sống ở một số ngôi nhà hang động. Trong ba năm ở nhà của ông Lục, Tập trở nên gần gũi với con trai ông là Lục Hậu Thành. Sau này, khi ông Tập phụ trách tỉnh Phúc Kiến, ông đã gửi tiền giúp con trai ông Lục phẫu thuật chân. Trên tường nhà ông Lục có treo tấm hình cậu con trai rắn chắc đứng cạnh ông Tập. “Cậu ấy giống như một người thân trong gia đình”, ông Lục cho biết. “Tất cả chúng tôi sống cùng nhau, khi có vấn đề gì, cậu ấy luôn kể với tôi”.

Tuy nhiên, cũng có những khác biệt giữa ông Tập và dân làng. Giống như rất nhiều thanh thiếu niên khác gửi tới vùng nông thôn, Tập được chia khẩu phần bột ngô, còn dân làng thì ăn phần vỏ. “Ngày càng có nhiều người bắt đầu tới thăm nơi tôi ở, và cuối cùng nó trở thành trung tâm ngôi làng”, ông Tập viết. “Hàng đêm, người dân mọi lứa tuổi đều gõ cửa nhà tôi. Chúng tôi trao đổi đủ mọi chuyện. Thậm chí bí thư chi bộ địa phương cũng tới muốn tìm kiếm lời khuyên, ông ấy nói, lớp trẻ chứng kiến thế giới rộng lớn hơn và biết nhiều hơn thế hệ của ông”.

Theo một số nhà phân tích, không phải ngẫu nhiên mà ông Tập tham gia đại đội lao động ở khu vực nơi cha ông từng rất được kính trọng trong suốt những ngày cách mạng tại Diên An. “Khi con trai của Tập Trọng Huân được gửi tới đây, ông ấy được chào đón nồng nhiệt thậm chí khi người cha không còn quyền lực”, Đản Hồ Oa, một sử gia tại Đại học Diên An nói. “Mọi người nơi đây chào đón Tập Cận Bình với cánh tay rộng mở vì cha ông từng có thời ở đây”.

Ông Tập Cận Bình từng kể rằng, ông đã 10 lần xin gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc. Cuối cùng, ông đã được chấp thuận vào tháng 1/1974. Không lâu sau đó, người dân đã bầu ông làm bí thư của làng, vị bí thư đầu tiên trong tổng số 29.000 thanh niên được gửi từ Bắc Kinh tới Thiểm Tây. “Ông ấy không nói nhiều, nhưng khi ông ấy nói, người khác không thể cắt ngang”, lão nông Lục cho biết. “Ông ấy là nhà hùng biện mạnh mẽ, có sức thuyết phục”.

Ông Tập đã dẫn dắt dân làng trong việc xây dựng những con đập nhỏ để chặn lũ lụt và tưới tiêu mùa màng. Ông rời Lương Gia Hà năm 1975 để theo học trường Đại học Thanh Hoa tại Bắc Kinh – một cái nôi của nhiều lãnh đạo chính trị nổi tiếng Trung Quốc. Theo ông Lục, ngày ông Tập rời làng, một số người đã dùng xe ba gác đưa ông tới huyện lị gần đó.

Và ông Tập đã trở lại, sau nhiều thập niên, khi ông đảm nhận chức vụ Bí thư Tỉnh ủy tỉnh duyên hải Chiết Giang. Ông Lục kể rằng, vị bí thư khi ấy đã tháo chiếc đồng hồ khỏi tay mình. “Ông cảm thấy sốc vì dân làng quá nghèo”.

(Theo Vietnamnet/ Nytimes)
______________________________________________________

Posted in Chính trị thế giới | Tagged: , , | Leave a Comment »

Ông Nguyễn Đan Quế bị điều tra hành vi ‘lật đổ chính quyền’

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Hai 28, 2011

Quốc Thắng

Công an TP HCM vừa tạm giữ ông Nguyễn Đan Quế, 69 tuổi, để điều tra hành vi “hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”. 60.000 đầu tài liệu trong máy tính của ông Quế được cho là tài liệu kích động, kêu gọi chống Nhà nước cùng “lời kêu gọi toàn dân” xuống đường biểu tình đã bị thu giữ.

Theo trung tá Nguyễn Sỹ Quang, Phó Văn phòng CA TP HCM chiều 26/2, cơ quan an ninh điều tra phối hợp với công an quận 5 (TP HCM) “bắt quả tang” ông Quế đang “lưu trữ, phát tán nhiều tài liệu có nội dung kêu gọi lật đổ chế độ, chính quyền nhân dân”.

Công an khám xét khẩn cấp nhà riêng của ông Quế trên đường Nguyễn Trãi (phường 3, quận 5). Theo cơ quan điều tra, khoảng 60.000 đầu tài liệu trong máy tính của ông Quế được cho là tài liệu kích động, kêu gọi chống Nhà nước cùng “lời kêu gọi toàn dân” xuống đường biểu tình lật đổ chế độ bị thu giữ.

“Trong quá trình điều tra, ông Quế đã thừa nhận những tài liệu trên do ông soạn thảo từ ngày 24/2 và đã phát tán cho một số tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước”, ông Quang nói.

Cũng theo ông Quang, hành vi của ông Quế đã xâm phạm trực tiếp đến sự ổn định và vững mạnh của chính quyền nhân dân.”Việc khám phá, ngăn chặn kịp thời hành vi này và xử lý theo pháp luật là hết sức cần thiết để đảm bảo ổn định chính trị”, ông Quang khẳng định.

Cơ quan công an cho biết đang tiếp tục điều tra, củng cố chứng cứ để làm rõ dấu hiệu “hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” của ông Quế.

Ông Nguyễn Đan Quế sinh tại Hà Nội, từng công tác tại Bệnh viện Chợ Rẫy, đồng thời là giảng viên tại Đại học Y khoa Sài Gòn.

________________________________________________________

Posted in Chính trị Việt Nam, Chuyện pháp luật, Chuyện xã hội, Chuyện đất nước | Tagged: , , | Leave a Comment »

Cũ, mới đều… hoang phế

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Hai 28, 2011

Đức Trường

LTS: Hiện nay, hiện tượng biệt thự bỏ hoang tồn tại ở nhiều khu đô thị đã hoàn thành trên địa bàn Thủ đô. Trong lúc người dân phải xếp hàng dài dằng dặc chờ nộp đơn mua căn hộ cho người thu nhập thấp, thì việc nhiều biệt thự, khu chung cư để hoang phơi mưa phơi nắng là điều không thể chấp nhận, gây bức xúc trong dư luận. Qua loạt bài Nhà “bỏ hoang” giữa lòng Hà Nội, Báo Hànộimới sẽ cùng độc giả tìm hiểu về sự lãng phí biết bao nhiêu tỷ đồng, có những gì phía sau những biệt thự, chung cư đang bị cỏ dại che lấp?

Nhắc đến biệt thự, người Hà Nội nghĩ ngay đến những biệt thự được xây dựng từ trước năm 1954 vốn đã tạo nên một giá trị khác biệt cho Thủ đô. Những năm gần đây, cùng với tốc độ đô thị hóa chóng mặt và nhu cầu sử dụng của những người có thu nhập cao, nhiều biệt thự mới được dựng lên ở những khu đô thị mới cũng góp phần làm cho bộ mặt đô thị thêm khởi sắc. Tuy nhiên, trên thực tế, trong khi không ít biệt thự cổ giàu giá trị kiến trúc và lịch sử đang bị sử dụng lãng phí, nhiều biệt thự mới lại bị bỏ hoang cũng nằm phơi sương gió.

Biệt thự cũ sử dụng lãng phí

Một chiều cuối xuân, mây mù và mưa phùn giăng mắc khắp phố phường Hà Nội. Căn biệt thự số 5 Lê Phụng Hiểu như tối hơn khi chỉ có ánh đèn tuýp lờ mờ hắt ra từ khung cửa sổ cũ kỹ trên tầng 2. Cố gắng lắm người ta mới đọc được dòng chữ trắng “SỞ NGOẠI VỤ” trên tấm biển xanh bị bụi phủ mờ gắn ngay trước cánh cửa tầng 1 trông ra phía phố Tông Đản. Người dân xung quanh cho biết, tầng 1 của biệt thự này bị bỏ không như thế đã hơn 10 năm nay. Bà cụ hơn 90 tuổi ở trên tầng 2 vốn là người có công với cách mạng. Đã hơn một lần bà kiên quyết không cho người của Sở Ngoại vụ vào tầng 1. Bà không muốn đi đâu cả nhưng cũng không phải giữ để làm của riêng. Bà bảo khi nào bà chết bà sẽ trả lại Nhà nước. Khuôn viên biệt thự có cửa thông ra phố Lê Phụng Hiểu được dùng làm quán lẩu gầu bò.

Trong khi đó, trước cổng biệt thự số 49 Trần Hưng Đạo, một người thanh niên đứng trên chiếc thang đang quét những chiếc lá đã mủn trên mái hiên quán phở xuống vỉa hè. Kề bên quán phở, cùng một số nhà, quán cà phê bày đầy bàn ghế nhưng không một người khách. Biệt thự này có hơn một chục hộ đang chen chúc ở tầng 1 nhưng tầng 2 lại đóng cửa để không. Các hộ dân ở tầng 1 đã cơi nới, xây dựng thêm nhiều công trình làm biệt thự bị biến dạng. Nếu nhìn từ ngoài vào không ai còn nhận ra đây là một biệt thự.

Tình trạng sử dụng biệt thự cổ lãng phí, không hợp lý, đan xen sở hữu… làm giảm giá trị kiến trúc và giá trị sử dụng như 2 trường hợp trên không phải là hiếm ở khu vực 4 quận nội thành cũ. Theo thống kê, tổng số biệt thự thuộc sở hữu nhà nước trên địa bàn Hà Nội là 970 căn, trong đó 60% do các công ty kinh doanh nhà trực tiếp quản lý, 30% đan xen sở hữu giữa nhà nước và tư nhân, 10% trụ sở cơ quan nhà nước đan xen với các hộ dân thuê để ở. Gần như tất cả biệt thự này được xây dựng từ trước năm 1954 mang những nét kiến trúc Pháp và đều tọa lạc ở những vị trí đẹp, trên các tuyến phố chính tập trung ở ba khu vực chính: phía đông hồ Trúc Bạch, khu Ba Đình và phía nam khu phố cổ. Theo Sở Xây dựng Hà Nội, số lượng biệt thự do Văn phòng Trung ương Đảng, Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an đang quản lý ước khoảng 200 ngôi.

Mặc dù biệt thự là một tài sản có giá trị lớn cả về kinh tế, xã hội lẫn cảnh quan, kiến trúc nhưng lại được sử dụng nhiều mục đích như trụ sở cơ quan, để ở, cửa hàng kinh doanh, thậm chí còn để hoang. Theo một kết quả khảo sát, số biệt thự có 1 đến 2 hộ ở chỉ chiếm khoảng 5% số biệt thự dùng để ở, từ 5 đến 10 hộ có tới hơn một nửa, từ 10 đến 15 hộ chiếm khoảng 40%, cá biệt có biệt thự có tới gần 50 hộ ở. Cùng với gánh nặng thời gian, tình trạng có quá nhiều hộ ở trong một khuôn viên biệt thự và luôn tìm cách cơi nới còn làm cho kết cấu biệt thự hư hỏng, một số không còn giữ được kiến trúc ban đầu. Hai biệt thự được nhắc tới ở trên nằm trong số 80% số biệt thự đã cải tạo, sửa chữa bị biến dạng trong quá trình sử dụng. Số biệt thự còn nguyên trạng chỉ còn 15% và số đã phá đi xây lại là 5%.

Biệt thự mới để hoang phí

Trong khi sự lãng phí trong sử dụng những biệt thự cổ trong nội thành còn chưa được giải quyết thỏa đáng thì không ít biệt thự trong những khu đô thị mới ở các quận nội thành như Cầu Giấy, Thanh Xuân, Hoàng Mai, Long Biên, Hà Đông… lại để hoang trong nhiều năm.

Để chứng kiến tận mắt những biệt thự để hoang, ta chỉ cần đi một vòng trên đường Vành đai 3 là đủ. Bắt đầu từ ngã tư đường cao tốc Thăng Long – Nội Bài về trung tâm qua các khu đô thị Mê Linh, Cienco5, Quang Minh về đến Cổ Nhuế – Xuân Đỉnh, Mỹ Đình II, Nam Trung Yên, Trung Yên, Trung Hòa – Nhân Chính, Linh Đàm, Pháp Vân – Tứ Hiệp, rồi xa hơn là Từ Sơn (Bắc Ninh), trong bất kỳ khu đô thị nào ít hoặc nhiều cũng thấy cảnh biệt thự để hoang.

Ðã có thời khu biệt thự Quang Minh với cơ sở hạ tầng hiện đại, cổng chính hướng ra đường cao tốc Thăng Long – Nội Bài, một phía tiếp giáp với sông Cà Lồ được đánh giá là nơi sinh sống lý tưởng của những người dân phố muốn tìm một không gian tĩnh lặng hơn. Thế nhưng từ khi được bàn giao tới tay khách hàng vào cuối năm 2006, chỉ một vài căn trong số 400 căn biệt thự ở đây có người ở. Phần còn lại vẫn cửa đóng then cài. Đây đó còn nguyên những căn hộ mới xây thô cỏ dại mọc tới đầu gối.

Xuôi về đường Phạm Văn Đồng, Khu biệt thự Cổ Nhuế – Xuân Đỉnh (huyện Từ Liêm) dù nằm ngay gần các siêu thị lớn, trường học, bệnh viện, Công viên Hòa Bình song cũng có tới mấy chục biệt thự để hoang từ khi xây xong. Khu đô thị mới Cổ Nhuế – Xuân Đỉnh có trên 20.000m2 đất nhà biệt thự, được xây dựng từ năm 2003, chủ đầu tư là Công ty Kinh doanh dịch vụ nhà ở Hà Nội (thuộc Tổng Công ty Đầu tư và phát triển nhà Hà Nội).

Sang Khu đô thị Mỹ Đình I, Mỹ Đình II (huyện Từ Liêm), hàng chục lô đất nền và biệt thự ở những vị trí đẹp bị bỏ hoang mấy năm làm xấu cả một khu đất vốn được định giá cao nhất phía Tây nam Hà Nội. Sau hơn 6 năm, giá đất ở đây vào khoảng 150 triệu đồng/m2, tăng hơn chục lần so với giá gốc. Khu Mễ Trì cũng trong tình trạng tương tự.

Đến khu Trung Hòa – Nhân Chính (Cầu Giấy), hàng chục ngôi biệt thự đang được hoàn thiện dở dang, màu sơn loang lổ để không từ mấy năm mà chẳng mấy khi có người ra vào, ngoại trừ những kẻ “dạt vòm”. Vượt qua cầu Dậu, tới Khu đô thị Linh Đàm (quận Hoàng Mai), được chứng nhận là khu đô thị kiểu mẫu duy nhất của Hà Nội cũng có nhiều biệt thự để hoang phế từ năm 2004. Thậm chí có căn biệt thự đã biến thành điểm đổ rác không chính thức. Thậm chí, tình trạng còn bi đát hơn khi sang tới Khu đô thị Pháp Vân – Tứ Hiệp.

Sự hoang phí càng bộc lộ rõ hơn ở những khu đô thị ven Hà Nội. Tiếp tục vượt cầu Thanh Trì, cách Thủ đô Hà Nội khoảng 15km về phía Bắc, Khu đô thị mới Nam Từ Sơn với tấm biển “Một không gian châu Âu trong lòng Hà Nội – Bắc Ninh” cũng tồn tại hàng trăm biệt thự để hoang rêu phủ xanh, cỏ mọc um tùm từ hơn 10 năm nay. Trên thực tế, khu đô thị này chỉ xây xong phần thô và kiến trúc cảnh quan phụ trợ. Hệ thống hạ tầng xã hội như trường học, bệnh viện, chợ, khu vui chơi… đều chưa có. Cả khu biệt thự chỉ có vài hộ đang sống.

Sang khu Việt Hưng (Long Biên) hay đi vào Văn Quán, Văn Phú (Hà Đông) cũng gặp tình trạng tương tự. Tuy số lượng biệt thự bỏ hoang mỗi khu mỗi khác, nhưng chúng có một điểm chung là hầu hết biệt thự đều đã có chủ và có giá rất cao. Một người môi giới đất tại khu Việt Hưng chào giá, một căn biệt thự rộng 200m2 đã xây thô, hoàn thiện mặt ngoài và lát mái có giá khoảng 14 tỷ đồng, tương đương 70 triệu đồng/m2. Trong khi đó, giá ở Linh Đàm cỡ 150 triệu đồng/m2, ở Mỹ Đình II cỡ 170 triệu đồng/m2, ở Văn Phú (trên trục chính) 150 triệu đồng/m2… Nếu tính sơ bộ, mỗi căn biệt thự giá lên tới hàng triệu USD.

Câu hỏi đặt ra là ai là chủ những biệt thự này và tại sao họ lại để hoang một tài sản lớn như vậy trong ngần ấy năm?

___________________________________________________________________

Posted in Chuyện xã hội, Chuyện đất nước, Hà Nội nghìn năm, Kinh tế | Tagged: , , | Leave a Comment »

Những bí mật xung quanh tổng thống Libi

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Hai 27, 2011

Sau ngày đầu năm mới 2009, truyền thông phương Tây đưa tin, Seif al-Islam el-Gaddafi, một cậu con trai của nhà lãnh đạo Libya Muammar el-Gaddafi, đã trả Mariah Carey tới 1 triệu USD chỉ để hát 4 ca khúc trong một bữa tiệc tổ chức trên đảo St Barts, biển Caribbea.
Trên tờ báo do chính mình kiểm soát, Seif đã phẫn nộ bác bỏ thông tin này – theo bức điện tín ngoại giao mật gửi từ Đại sứ quán Mỹ ở Tripoli về Washington thì, người tiêu xài lớn hơn, Seif nói, là anh trai Muatassim – cố vấn an ninh quốc gia của Libya.

Các con bất kham

Cũng chính Muatassim, bức điện tín cho biết, là người đã đòi hỏi 1,2 tỉ USD năm 2008 từ Chủ tịch Tập đoàn dầu khí quốc gia của Libya để thành lập đội quân cho riêng mình. Điều này khiến anh ta theo kịp một anh em khác là Khamis, chỉ huy một lực lượng đặc nhiệm “phụng sự hiệu quả như một đơn vị bảo vệ chế độ”.
Khi gia tộc Gaddafi nỗ lực đấu tranh giữ vững quyền lực tại Libya, những bức điện tín mà trang web WikiLeaks có được đã đưa ra bức tranh về sự chi tiêu hoang phí, thói đặc quyền đặc lợi và cả tranh giành sức mạnh. Một bức điện tín năm 2006 đã đưa ra cái gọi là “liên đoàn Gadhafi” mà Bộ Ngoại giao Mỹ sử dụng để nói về những rắc rối từ gia đình đệ nhất của Libya.
Những “trò vui” trong gia tộc này vài năm gần đây đã tới tai người Libya cho dù Gaddafi thắt chặt kiểm soát truyền thông. Căng thẳng giữa các anh chị em trong gia tộc có thể nổi lên là một nhân tố trong cuộc hỗn loạn tại quốc gia châu Phi giàu dầu mỏ này.
Những đứa trẻ nhà Gaddafi trong các bức điện tín được mô tả là những người cưỡi ngựa đua trong con đường tranh giành quyền lực. “Tất cả con cái của Gaddafi và vợ con họ đều được hỗ trợ để có lợi tức từ công ty Dầu khí quốc gia và các chi nhánh”, một bức điện năm 2006 nhấn mạnh.
Một năm trước đây, có bức điện tín thông báo rằng, những vụ bê bối gia tăng khiến gia tộc đệ nhất của Libya rơi vào “tình trạng suy sụp”. Muatassim thường xuyên tổ chức các bữa tiệc chào năm mới tại St. Barts và thuê các ca sĩ nổi tiếng về hát, trong đó có Beyonce hay Usher. Một “nhà quan sát chính trị địa phương” giấu tên tại Tripoli nói với quan chức ngoại giao Mỹ: “Việc tiệc tùng vui đùa và xa hoa quá mức của Muatassim khiến người dân địa phương tức giận, họ xem các hành động của anh ta là bất kính và đáng xấu hổ với dân tộc”.
Trong khi đó, một người anh khác, Hannibal đã trốn khỏi London sau khi bị cáo buộc hành hung vợ là Aline và sau sự can thiệp của cô con gái nhà Gaddafi, Ayesha, người tới London du lịch dù mang thai nhiều tháng, bức điện tín cho biết. Ayesha cùng với vợ hai của Gaddafi, bà Safiya – là mẹ của sáu trong 8 đứa con của ông – “đã khuyên Aline thông báo với cảnh sát về việc cô bị thương trong một vụ tai nạn và không đề cập bất cứ điều gì về việc hành hung”, bức điện nhấn mạnh.
Trong số các anh chị em “bất kham” của mình, Seif, con trai thứ hai của Tổng thống Libya “không hay vướng mắc những chuyện địa phương”, thường dành những kỳ nghỉ vào việc săn bắn ở New Zealand. Tổ chức từ thiện của ông – Quỹ từ thiện và phát triển quốc tế Gaddafi, đã gửi hàng trăm tấn hàng viện trợ tới quốc gia bị động đất tàn phá Haiti, và ông cũng được xem là người có viễn cảnh hợp lý để kế nhiệm cha.
Cùng năm 2010, theo nội dnug một bức điện tín, những thanh niên trẻ người Libya qua các cuộc tiếp xúc đều cho biết, Seif al-Islam là hy vọng của “Libya ngày mai”. Các nam thanh niên trong độ tuổi 20 nghĩ ông là chọn lựa đúng đắn để điều hành đất nước. Họ mô tả ông là người có học thức, văn hóa và một trong ít người mong muốn tương lai tốt đẹp hơn cho Libya, khác hẳn với các anh em khác.

Người cha hoang tưởng

Nhưng giờ đây, mọi thứ đã khác, những thanh niên đổ xuống đường biểu tình yêu cầu lật đổ toàn gia đình, và cũng chính Seif el-Gaddafi là người đã tuyên bố trên truyền hình lúc 1h sáng thứ hai rằng, Libya sẽ đối mặt với cuộc nội chiến và “những dòng sông máu” nếu bạo lực tiếp tục leo thang.
Với vị lãnh đạo Gaddafi, 68 tuổi, các bức điện tín cung cấp một bức chân dung khá hấp dẫn, mô tả ông là như người mắc bệnh hoang tưởng, rất sợ hãi phải bay trên mặt nước, thường xuyên ăn chay vào thứ hai và thứ năm. Điện tín nói rằng, ông là người hâm mộ cuồng tín đua ngựa và nhảy flamenco, người tự phong mình là “Vua của Văn hóa” với danh sách dài các danh hiệu ông trao cho chính mình, và cũng là người đi khắp mọi nơi với một đội ngũ các nữ vệ sĩ xinh đẹp tháp tùng.
Sau khi Gaddafi tuyên bố từ bỏ theo đuổi chương trình vũ khí hủy diệt hàng loạt năm 2003, rất nhiều quan chức Mỹ đã hoan nghênh sự hợp tác của ông. Đến thăm Libya năm 2009, thượng nghị sĩ Joseph I. Lieberman, nói với vị lãnh đạo rằng, Libya là “một đồng minh rất quan trọng trong cuộc chiến chống khủng bố”.
Trước khi Condoleezza Rice thăm Libya năm 2008 – Ngoại trưởng Mỹ đầu tiên làm như vậy kể từ năm 1953 – Đại sứ quán Mỹ tại Tripoli đã nỗ lực nhấn mạnh vào những quan điểm tích cực. Rằng sự thực là Gaddafi “nổi tiếng nhanh trí” và cảnh báo bà Rice rằng “có thể có những khoảnh khắc im lặng kéo dài, bất tiện”. Nhưng các bức điện tín cũng khẳng định, ông là “người rất khao khát tin tức”, người có những ý tưởng đặc biệt như giải quyết cuộc xung đột Israel – Palestine bằng sự ra đời của một nhà nước duy nhất có tên gọi “Isratine”.
“Một người tự xưng là trí thức và một triết gia”, bức điện tín ngoại giao mật đánh giá về ông Gaddafi với bà Rice, “ông ấy háo hức mong chờ nhiều năm qua cơ hội được chia sẻ với bà quan điểm của ông về các vấn đề toàn cầu”.

Người đẹp nắm giữ vận mệnh của Gaddafi

Người đứng đầu Libya Gaddafi không thể làm được việc gì nếu thiếu người đẹp tóc vàng Galyna. Trong giờ phút nguy cấp như hiện nay, “bảo mẫu” của ông ở đâu.

Galyna Kolotnytska có thể cắt đứt quan hệ và chạy trốn khi quyền lực bắt đầu trượt khỏi tay đại tá Gaddafi như cát sa mạc Sahara. Tuy nhiên, đêm qua, người đẹp tóc vàng quyến rũ, y tá riêng của Gaddafi vẫn sát cánh bên nhà lãnh đạo này dù ông thề tử vì đạo trong trận chiến đẫm máu cuối cùng.
Gaddafi không thể đi đâu nếu thiếu người đẹp Ukraine, được cho là người tình của ông, vì Galyna nắm rõ mọi lịch trình của nhà lãnh đạo này, tài liệu được WikiLeaks tiết lộ cho hay.
Tối 25/2, các quan chức Ukraine cho biết, họ không nhận được yêu cầu nào về việc sơ tán Galyna, 38 tuổi. “Theo chúng tôi được biết, cô ấy vẫn đang ở bên ông Gaddafi”.
Cô sinh viên Tatiana, 20 tuổi, con gái bà góa Galyna nói: “Tôi đã không liên lạc với mẹ một thời gian dài. Tôi không gọi được cho bà”.
Nhà lãnh đạo Libya Gaddafi yêu quý Galyna hơn cả đội vệ sĩ – các nữ chiến binh Amazone, vốn là những nữ đồng trinh giỏi võ nghệ.
Một bản tài liệu mật rò rỉ năm 2009 được gửi tới Ngoại trưởng Hillary do WikiLeaks công bố cho biết, lãnh đạo Libya Gaddafi “dường như dựa dẫm” vào Galyna. Theo đó, Gaddafi từng phái một chiếc máy bay riêng để chở Galyna từ Libya tới Bồ Đào Nha để gặp khi người đẹp này bị hoãn chuyến vì vấn đề thị thực.
WikiLeaks tiết lộ, “một quan chức chính trị Ukraine gần đây xác nhận người nữ y tá Ukraine đi cùng Gaddafi khắp mọi nơi. Một số nguồn tin nói, Gaddafi và Galyna có một mối quan hệ rất lãng mạn. Và rằng, nhà lãnh đạo này dựa dẫm hoàn toàn vào một nhân vật chủ chốt như Galyna”.
Hiện, cuộc đời của nữ tâm phúc có thể chấm dứt khi những đối thủ của Gaddafi dành được sức mạnh.

Tại đường biên giữa Libya và Tunisia, một người chạy trốn tên là Nabil Mohamed, 33 tuổi nói, Eva Braun còn ở bên cạnh Hitler thì tại sao Galyna không thể ở bên Gaddafi.

Gaddafi bí mật tẩu tán tài sản

Nhà lãnh đạo M. Gaddafi đã bí mật tuồn 3 tỷ bảng Anh tới một quỹ đầu tư cá nhân ở Anh có tên Mayfair.

Ngày 26/2, tờ The Times đưa tin nhà lãnh đạo của Libya, ông M. Gaddafi đã bí mật tuồn 3 tỷ bảng Anh tới quỹ đầu tư cá nhân ở Anh có tên Mayfair. Tuy nhiên, GĐĐH của Mayfair đã từ chối đưa ra lời bình luận về thông tin này khi báo của Anh đặt câu hỏi về số tiền.
Hiện gia đình nhà Gaddafi đang có khá nhiều tài sản giá trị ở Anh. Theo tờ Dailymail, chính phủ Anh đang lập một đơn vị để kiểm kê lại số tài sản, vốn được ước tính có thể lên tới 20 tỷ bảng.

(Tổng hợp)
__________________________________________________________

Posted in Chính trị thế giới, Chuyện xã hội, Tin tức nổi bật | Tagged: , , , | Leave a Comment »

Xếp hạng các nước dễ xảy ra bạo loạn

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Hai 27, 2011

Lê Việt

TP – Mạng của báo Mỹ The Wall Street Journal đăng bảng xếp hạng các nước mà theo ý kiến của những người lập bảng, là dễ bùng nổ sự phản kháng của dân chúng.

Vị trí số 1 thuộc về Kenya, điểm số là 100. Xếp thứ 2 là Cameroon với 94,5 điểm. Pakistan đứng ở vị trí thứ 3 với 90,8 điểm. Tiếp theo lần lượt là Nigeria (88,9), Indonesia (80,3). Những nước còn lại trong top 10 của The Wall Street Journal là Philippines (80,1), Guatemala (79,2), Morocco (78,7), Jordan 78,6, Azerbaijan 78,6.
Các nước ít có khả năng xảy ra phản đối của dân nhất là Úc, Áo, Phần Lan, Thụy Điển, Canada, Đan Mạch, Đức và Thụy Sĩ, những nơi có chỉ số dưới 30. Chỉ số này của Mỹ là 32,3 và Nhật là 32,2.

Chỉ số khả năng phản kháng của dân chúng dựa trên 3 căn cứ: 1. Thứ hạng thái độ với tham nhũng; 2. Chỉ số phát triển con người; 3. Chỉ số Gini (chỉ số về phân hoá xã hội, trường hợp ở đây về mặt giàu nghèo).

________________________________________________________________

Posted in Chính trị thế giới, Chuyện xã hội | Tagged: , , | Leave a Comment »

Nhà nghiên cứu tiếng Việt bậc thày đã ra đi

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Hai 27, 2011

Theo tin từ gia đình, Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn đã từ trần vào hồi 19 giờ 10 phút (giờ Hà Nội) ngày 25 tháng 2 năm 2011 tại Matxcơva sau một thời gian bị bệnh mặc dù đã được các thầy thuốc và gia đình hết lòng chăm sóc, cứu chữa.

Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn sinh ngày 22 tháng 5 năm 1926 ở Thanh Văn, Thanh Chương, Nghệ An trong một gia đình Nho học, đỗ đạt.. Thuở thiếu thời ông học tại Quốc học Vinh, Quốc học Huế và tham gia kháng chiến chống Pháp từ 1946 và học Đại học kháng chiến. Trong thời gian 1953-1954, Ông đảm nhận chức Trưởng phòng chuyên môn giáo dục Liên khu Bốn. Trong những năm 1955-1960, Ông làm chuyên gia giảng dạy tiếng Việt tại Đại học Tổng hợp Leningrad và đã bảo vệ thành công luận án Phó tiến sĩ Ngữ văn (1960). Sau khi về nước Ông được bổ nhiệm làm Chủ nhiệm Bộ môn Ngôn ngữ học ĐHTH Hà Nội và đảm nhiệm chức vụ này cho đến năm 1971. Trong các năm 1971-1974, Ông được biệt phái về Ban khoa giáo Trung ương về công tác Ngữ văn. Năm 1980, Ông được được phong học hàm Giáo sư.
Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn đã từng làm giáo sư thỉnh giảng tại các trường ĐH nước ngoài: Đại học Paris 7 (Pháp) và Đại học Cornell (Mỹ).
Năm 2000,Ông được nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học và công nghệ.
Ông được phong tặng danh hiệu Nhà giáo Nhân dân năm 2008.

Nguyễn Tài Cẩn được giới Việt ngữ học đánh giá là một trong những chuyên gia đầu ngành của ngành Ngôn ngữ học Việt Nam. Ông đã có công lớn trong việc xây dựng chuyên ngành Ngôn ngữ học tại trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, nay là khoa Ngôn ngữ học của trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội.

Năm 2000 Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn đã được Nhà nước Việt Nam tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về cụm ba công trình Ngữ pháp và Lịch sử tiếng Việt:

1. Ngữ pháp tiếng Việt – từ ghép, đoản ngữ – tập hợp một số bài giảng về ngữ pháp tiếng Việt hiện đại cho sinh viên chuyên ngành ngôn ngữ Khoa ngữ văn trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, trong thời gian 1961-1969. Tiếng, từ ghép, đoản ngữ là ba lĩnh vực then chốt của ngữ pháp tiếng Việt, được tác giả nghiên cứu, lý giải một cách khoa học, mà cho tới bây giờ vẫn được đánh giá là chuẩn xác (tuy các thuật ngữ đã có một số thay đổi).

2. Giáo trình lịch sử ngữ âm tiếng Việt – công trình nghiên cứu về quá trình phát triển ngữ âm tiếng Việt trên cơ sở lý thuyết ngữ âm hiện đại, có liên hệ với các ngôn ngữ có liên quan như tiếng Êđê, tiếng Khmer của, âm vận học Trung Quốc.

3. Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán–Việt – công trình nghiên cứu sự ra đời cách đọc Hán–Việt.

_____________________________________________________________

Posted in Giáo dục Việt Nam, Ngôn ngữ | Tagged: , , | Leave a Comment »

Thực hư chuyện làm đẹp bằng… mỡ người!

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Hai 26, 2011

Trên một số trang web thời gian gần đây rộ lên thông tin: lượng mỡ thừa lấy ra từ cơ thể người sau các phẫu thuật giảm béo có thể được tái sử dụng để bơm ngực, căng da mặt và sản xuất mỹ phẩm. Vậy thực hư của việc này thế nào?

Hiện trên một số trang web có giới thiệu các loại mỹ phẩm làm đẹp, giúp da căng mịn, chống lão hoá … được chiết xuất từ mỡ người. Đã có những lời rao thu mua mỡ người trên mạng và ở một vài cơ sở thẩm mỹ.

Vào năm 2009, dư luận xôn xao về vụ cảnh sát Peru bắt được một băng nhóm tội phạm bị tình nghi giết người để hút mỡ mang bán cho các trung tâm thẩm mỹ tại thủ đô Lima. Với mỗi lít mỡ người, bọn chúng thu được 15.000 USD.

Tuy nhiên, theo các chuyên gia, việc dùng mỡ thừa lấy ra từ cơ thể người sau các phẫu thuật giảm béo để bơm ngực, căng da mặt và sản xuất mỹ phẩm hiện chưa được nghiên cứu và chưa có bất cứ minh chứng nào cho thấy các loại mỹ phẩm đó mang lại tác dụng cho sắc đẹp con người.

TS. BS. Nguyễn Anh Tuấn, Trưởng khoa phẫu thuật tạo hình – thẩm mỹ, Bệnh viện Đại học Y dược TP.HCM cho biết trên báo Sài Gòn tiếp thị, ông chưa từng biết đến chuyện mua bán mỡ người trên internet, cũng như việc trao đổi mỡ ở các cơ sở thẩm mỹ trong nước. Việc sử dụng mỡ để phẫu thuật, tái tạo các vùng da lõm, khuyết trên cơ thể cần có sự kiểm tra, xét nghiệm kỹ càng và phải được tiến hành bởi các trung tâm thẩm mỹ, bệnh viện có chuyên môn cao.

“Mỡ của người nào sẽ được sử dụng cho cơ thể của chính người đó, nếu đem bán hoặc san sẻ cho cơ thể người khác, sai quy trình phẫu thuật có thể gây phản ứng miễn dịch, viêm nhiễm, sưng tấy mạnh, thậm chí dẫn đến tử vong”, BS Tuấn cảnh báo.

Cũng trên báo này, BS Nguyễn Anh Tuấn cho biết, hiện có nhiều phụ nữ tìm đến các cơ sở thẩm mỹ nhờ lấy mỡ vùng mông, đùi… của mình để làm to lên vùng ngực. Việc làm đẹp này cần phải rất hạn chế bởi lượng mỡ mỗi lần đưa vào không đủ để làm đầy vùng ngực. Hơn nữa, khi mỡ đưa vào vùng ngực, mô mỡ sẽ được các tổ chức xơ bao bọc xung quanh giống như những khối u nhỏ. Hiện tượng này thường gây ra sự nghi ngờ, nhầm lẫn bệnh tật hoặc bệnh nhân không thể phân biệt mô mỡ với các khối u ung thư. Vì vậy, việc cấy ghép mỡ ở vùng ngực sẽ không an toàn bằng các loại hình phẫu thuật tái tạo khác nên phải rất thận trọng.

Đại tá Bạch Quang Tuyến – Phó chủ nhiệm Khoa Phẫu thuật Tạo hình và Hàm mặt, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 trước đó cho biết trên Bee.net.vn rằng, do yếu tố miễn dịch, mỡ của người này tuyệt đối không thể truyền cho người khác, như vậy sẽ gây phản ứng miễn dịch, viêm nhiễm, sưng tấy mạnh, có thể dẫn đến tử vong. Mỡ thừa của người còn được dùng để nuôi cá sấu. Tuy nhiên, việc làm này không được phổ biến.
Hãng thông tấn BBC của Anh cũng từng trích lời các chuyên gia y tế hàng đầu thế giới cho biết: Mỡ người không có giá trị kinh tế. Mỡ của người này dùng cho người khác có thể gây chết người.

Các chuyên gia y tế cho biết, mỡ người có dạng sền sệt, màu vàng, gần giống mỡ gà. Theo ước tính, với người có trọng lượng 60kg có thể lấy được tối đa 2,4 lít mỡ thừa trong cơ thể. Lượng mỡ này sau khi lấy ra nếu không sử dụng vào lĩnh vực phẫu thuật tái tạo, nghiên cứu tế bào gốc… sẽ được đốt bỏ theo quy trình xử lí bệnh phẩm nói chung tại tất cả các bệnh viện, trung tâm y tế.

Theo Thái Hòa
__________________________________________________________

Posted in Chuyện Sinh học, Chuyện xã hội | Tagged: , , | Leave a Comment »

Thành nhà Hồ – Tác phẩm đẹp nhất của kiến trúc Việt

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Hai 26, 2011

Quốc Việt

Đã có nhiều đoàn chuyên gia trong nước và quốc tế đến thăm Thành nhà Hồ (huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa), với mong muốn “bỏ phiếu” để ủng hộ Thành nhà Hồ trở thành Di sản thế giới. Liệu “giấc mơ” Di sản thế giới của Thành nhà Hồ có trở thành hiện thực hay không, còn phụ thuộc quyết định từ Hội nghị lần thứ 35 của Ủy ban Di sản văn hóa Thế giới tổ chức tại Bahrain vào tháng 6 tới…

Thành nhà Hồ sẽ trở thành Di sản thế giới?

Nhà nghiên cứu người Pháp L.Bezacier đã từng nhận xét: “Công trình Thành nhà Hồ là một trong những tác phẩm đẹp nhất của kiến trúc…”. Công trình này, được Hồ Quý Ly xây dựng vào mùa Xuân năm Đinh Sửu (1397), đời vua Trần Thuận Tông. Sách “Đại Việt Sử ký toàn thư” của Ngô Sĩ Liên thời Lê sơ có ghi: “Tháng Giêng năm Đinh Sửu (1397) Hồ Quý Ly sai Thượng Thư Lại bộ kiêm Thái sử lệnh Đỗ Tỉnh về Yên Tôn khảo sát thực địa, đo đạc, đắp thành, đào hào, lập nhà tông miếu, xây đàn thờ thần, mở phố sá lập đường ngõ, công việc làm 3 tháng thì xong. Cuối năm đó ép vua Trần Thuận Tông dời đô về đây và đầu năm ấy lại bức nhường ngôi cho Thái tử An. Tháng 3 năm Mậu Dần (1398) Thái tử An lên ngôi ở cung Bảo Thanh…”. Không lâu sau, Hồ Quý Ly lên ngôi vua, nơi đây, trở thành kinh đô của nước Đại Ngu những năm đầu thế kỷ 15 (1400-1407). Xưa thành nhà Hồ có tên là An Tôn, rồi Tây Đô (để phân biệt với Thăng Long – Đông Đô), Thạch Thành, Tây Giai… tên Thành Nhà Hồ mới có từ sau Cách mạng tháng Tám.

Thành nhà Hồ được xây dựng và gắn chặt với một giai đoạn đầy biến động của xã hội Việt Nam, với những cải cách của vương triều Hồ và tư tưởng chủ động bảo vệ nền độc lập dân tộc. Theo PGS, TS Tống Trung Tín (Viện trưởng Viện khảo cổ học Việt Nam): “Bên ngoài Thành nhà Hồ được xây bằng đá nguyên khối, bên trong chủ yếu là đắp đất”. Thành được xây dựng trên bình đồ kiến trúc gần vuông, hai mặt Nam – Bắc dài hơn 900m, Đông – Tây dài hơn 700m. Đặc biệt thành vẫn còn nguyên 4 cổng theo hướng chính Nam – Bắc – Tây – Đông gọi là các cổng Tiền – Hậu – Tả – Hữu. 4 cổng ở các mặt thành xây cuốn vòm, trong đó cổng phía Nam là cổng lớn nhất với chiều rộng là 38m, cao 10m cùng 3 mái vòm lớn. Cho đến nay, Thành nhà Hồ là thành cổ duy nhất được xây dựng bằng cách ghép những khối đá xanh lớn, đục đẽo tinh xảo, vuông vức, có khối dài tới 4 – 5m; cao 1,2m; rộng 1,2m và nặng tới hơn 15 tấn, được xếp chồng khít lên nhau một cách tự nhiên theo hình chữ “Công” tạo thành vách thẳng đứng. Đặc biệt, có tấm ở cửa Tây dài tới 5,1m, rộng 1,59m, cao 1,30m. Tường thành cao trung bình từ 5-6m (có nơi lên đến 10m ở cổng Nam). Sau chuyến thăm thực địa tại Thành nhà Hồ đầu năm 2011, bà Katherine Muller-Marin, Trưởng đại diện UNESCO tại Việt Nam đã chia sẻ: “Tôi rất ấn tượng với việc xây Thành nhà Hồ bằng việc gắn những phiến đá rất lớn lại với nhau mà không cần đến một chất kết dính nào trong một khoảng thời gian rất ngắn, lại thực hiện hoàn toàn bằng sức người. Đây là một trong rất nhiều bí ẩn của Thành nhà Hồ mà các nhà khoa học Việt Nam cần tiếp tục nghiên cứu, tìm hiểu”…

Theo nhà nghiên cứu Lưu Trần Tiêu: “Thành nhà Hồ là một trong số ít các di tích lịch sử – văn hóa ở nước ta được nhà nước xếp hạng đợt đầu tiên năm 1962. Quy định khu vực bảo vệ Thành nhà Hồ gồm có hai khu vực: Khu vực bất khả xâm phạm là toàn bộ thành đá và khu vực đất trong nội thành, toàn bộ hào quanh thành và toàn bộ khu đất làm đền thờ Bình Khương. Khu vực 2 là khu vực bảo vệ gồm phần đất rộng gần 500m tính từ hào trở ra chạy quanh thành”. Hiện tại, Trung tâm Bảo tồn Di sản Thành nhà Hồ và huyện Vĩnh Lộc đã cắm hơn 200 cột mốc chỉ giới tại 3 vùng lõi: Thành nội, Đàn tế Nam Giao và khu vực La thành (đê Đại La), nhằm mục đích công khai phạm vi khoanh vùng bảo vệ vùng đề cử tại Di sản Thành nhà Hồ, mặt khác giúp chính quyền và nhân dân địa phương chủ động trong kế hoạch bảo vệ và tuyên truyền cho di tích.

Ngày 29-9-2009, Hồ sơ khoa học di sản văn hóa Thành nhà Hồ đã được gửi đến Trung tâm Di sản Thế giới. Với những giá trị lịch sử, văn hóa và kiến trúc nổi bật toàn cầu, cộng với tâm huyết nguyện vọng của nhân dân Thanh Hóa cùng sự quan tâm giúp đỡ của Ủy ban Quốc gia UNESCO Việt Nam; Hội đồng quốc tế về Di tích và Di chỉ – Cơ quan tư vấn của UNESCO; Đoàn ngoại giao các nước Thường trực Ủy ban Di sản thế giới; Cục Di sản Văn hoá, Viện Khảo cổ học Việt Nam…, hy vọng Thành nhà Hồ sẽ được ghi danh là Di sản văn hóa thế giới. Nhưng cho dù Thành nhà Hồ có trở thành di sản thế giới hay không, thì ngay từ lúc này, nếu có điều kiện, chúng ta hãy tới chiêm ngưỡng công trình kiến trúc lịch sử vĩ đại một thời của ông cha, để cảm nhận được sức sống mãnh liệt nơi mảnh đất cố đô…

_____________________________________________________

Posted in Chuyện du lịch VN, Chuyện kiến trúc, Di tích | Tagged: , , | Leave a Comment »

Cần Giờ – Hai ngàn năm trước

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Hai 26, 2011

Nguyễn Thị Hậu

Huyện Cần Giờ nằm ở phía Đông Nam TP.HCM, là vùng đồng bằng cửa sông – vịnh biên mới được thành tạo từ khoảng 6.000 – 5.000 năm cách ngày nay. Bề mặt đồng bằng thấp trũng bao phủ bởi thảm thực vật kiểu rừng nước mặn, lại bị chia xẻ do hệ thống sông rạch chằng chịt. Trên vùng địa hình phức tạp này các di tích khảo cổ học thường được tìm thấy trên các giồng đất được thành tạo từ quá trình tích tụ phù sa chưa hoàn chỉnh ở vùng cửa sông Đồng Nai. Dấu tích cư trú của con người từ rất sớm ở nơi đây đã làm cho môi trường sinh thái – nhân văn của Cần Giờ khác hẳn những khu vực rừng ngập mặn khác, nơi đơn thuần chỉ có dấu vết quá trình lấn biển của tự nhiên.
Từ những phát hiện đầu tiên vào những năm 1976 – 1978, qua nhiều lần khảo sát, thám sát và qua 3 lần khai quật liên tục (1992, 1993 và 1994), các nhà khảo cổ học đã bước đầu phác dựng lịch sử Cần Giờ giai đoạn từ 3.000 đến khoảng 2.000 năm cách ngày nay, qua việc nghiên cứu các đặc trưng văn hoá khảo cổ nơi đây.
– Là những di tích chỉ cư trú có tầng văn hoá khá dày, hình thành ngay trên nền sét biển. Tích tụ của quá trình sản xuất gốm văn hoá đã góp phần cùng với tự nhiên tạo nên những giồng đất di tích khảo cổ.
– Di chỉ cư trú dần trở thành khu mộ táng với tục hung táng trong mộ chum là chủ yếu. Tuy nhiên, có thể nhận thấy có một số táng thức khác ở vào giai đoạn sớm hoặc muộn hơn giai đoạn mộ chum.
– Di vật và đồ tuỳ táng của các di tích mộ chum Cần Giờ vô cùng phong phú và độc đáo. Đó là loại gốm Giồng Cá Vồ – Giồng Phệt, được coi là tiêu chí để nhận biết mối liên hệ của Cần Giờ với những vùng khác. Đó là vô số các kiểu đồ gốm mang phong cách của các nền văn hoá Đồng Nai, Sa Huỳnh, Óc Eo… Là các loại hình đồ trang sức cho biết nguồn gốc được sản xuất tại chỗ hoặc du nhập nguyên liệu và kỹ thuật từ những khu vực khác ở ĐNA hải đảo, là sự thiếu vắng các công cụ sản xuất nông nghiệp mà chỉ có mặt một số loại vũ khí mang tích chất tượng trưng cho quyền lực.
– Môi trường tự nhiên, di tích, di vật đã cho thấy đây không phải là một nền văn hoá của cư dân nông nghiệp trồng trọt – như nhiều nền văn hoá khảo cổ trong thời đại kim khí – mà chủ nhân của văn hoá này có đời sống kinh tế khá đặc biệt. Đó là phát triển thương mại kết hợp hoạt động khai thác tự nhiên.
Chính vì vậy, có thể cho rằng Cần Giờ hai ngàn năm trước đây là một “cảng thị sơ khai”, nơi tiếp thu và chuyển hoá nhiều yếu tố văn hoá – kỹ thuật từ bên ngoài, đồng thời cũng là nơi tích tụ và phát tán những yếu tố văn hoá bản địa.

Những điều kiện để “cảng thị” Cần Giờ hình thành và phát triển

Nhìn trên bản đồ địa lý tự nhiên, Cần Giờ giống như một bán đảo bị cắt rời khỏi đất liền bởi các con sông lớn: phía Bắc là sông Nhà Bè – sông Lòng Tàu, phía Đông là sông Đồng Tranh – sông Thị Vải, phía Tây là sông Soài Rạp, còn phía Nam là Biển Đông. Được bao bọc 4 phía bởi sông và biển, Cần Giờ còn bị chia cắt bởi các con sông, rạch tắc… lớn nhỏ khác, ngang dọc chằng chịt khắp vùng rừng Sác. Cho đến nay, phương tiện giao thông chính ở vùng này vẫn là đường thủy, con đường giao lưu của Cần Giờ với những vùng khác vẫn là đường sông, đường biển. Hướng vào nội địa, từ vịnh Cần Giờ có thể theo các con sông ngược lên đến Nhà Bè. Từ đây, hoặc theo sông Sài Gòn đi sâu vào vùng đồi gò thềm phù sa cũ ăn liền với khối Đông Bắc Campuchia, hoặc theo sông Đồng Nai lên vùng Đồng Nai Hạ trù phú, và xa hơn, lên Đồng Nai Thượng (Đại Đồng – Sông Lớn) gắn liền khối Nam Tây Nguyên. Giữa lưu vực Đồng Nai và Vàm Cỏ, vài ngàn năm trước còn bị ngăn cách bởi vùng trũng phèn rộng lớn. Do vậy, con đường giao lưu thuận tiện nhất giữa hai miền Đông – Tây là sông Sài Gòn/ sông Đồng Nai – sông Nhà Bè – sông Soài Rạp – sông Vàm Cỏ Đông – Tây.
Hướng ra bên ngoài, Cần Giờ quay mặt ra biển Đông bằng vô số các cửa sông lớn nhỏ đổ ra vịnh Gành Rái và vịnh Đồng Tranh. Biển Đông mang tính chất là một biển kín, được bao bọc bởi lục địa Châu Á và các quần đảo kéo dài từ Đài Loan qua Philippin đến Boocnéo. Trong vùng biển này chỉ có các dòng hải lưu nhỏ, mang tính địa phương, chịu ảnh hưởng của địa hình vùng biển và do chế độ gió mùa quyết định. Có hai dòng hải lưu, dòng hải lưu chạy dọc bờ biển Việt Nam theo hướng Đông Bắc – Tây Nam chảy mạnh và ổn định nhất vào mùa thu – đông. Còn dòng hải lưu Tây Nam – Đông Bắc vào thời kỳ xuân – hè chảy ven các quần đảo của Đông Nam Á hải đảo. Vùng biển Cần Giờ có chế độ bán nhật triều mạnh, biên độ thuỷ triều rất lớn, vào sâu trong đất liền hàng chục km vẫn còn ảnh hưởng của thuỷ triều.
Vị trí địa lý của Cần Giờ khá đặc biệt, đó là vùng cửa sông – vịnh biển mang tính chất “mặt tiền” của lưu vực Đồng Nai rộng lớn, lại là “trạm trung chuyển” giữa hai miền lưu vực Vàm Cỏ – Đồng Nai hay là Tây – Đông Nam Bộ. Câu ca dao “Nhà Bè nước chảy chia hai – Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về” tuy xuất hiện khá muộn nhưng hẳn cũng là tâm trạng của những người dân lênh đênh trên sông nước, ngược từ vịnh biển Cân Giờ hay từ Vàm Cỏ Đông – Tây lên miền Gia Định – Đồng Nai ngay từ thời xa xưa ấy. Chọn vị trí này để cư trú, có lẽ cư dân cổ Cần Giờ đã góp phần hình thành một trong những quy luật của “làng Nam Bộ” là định cư trên giồng cao nơi “giáp nước”, nơi gặp nhau giữa nước thủy triều chảy ngược và nước sông chảy xuôi. Thủy triều đẩy nước vô các kinh rạch, gặp dòng chảy của sông ra biển, khi gặp nhau, dù nước lớn hay nước ròng phù sa đều lắng đọng ở những nơi này – ghe xuồng ngược xuôi buôn bán thường nghỉ lại đây chờ con nước. Làng mạc mọc lên… ở đâu là nơi giáp nước, ở đó trên bờ là thị tứ, chợ búa…
Mặt khác, các nền văn hoá khảo cổ thời kỳ tiền sơ sử ở ĐNA đã cho thấy Biển Đông không phải là yếu tố ngăn cách và cô lập các tộc người ở khu vực này, mà trái lại, đã là một “chiếc cầu” nối liền các tộc người ven biển với nhau, liên kết giữa ĐNA hải đảo và ĐNA lục địa, giữa ĐNA với những vùng xa hơn trong Thái Bình Dương bao la.
Bước vào thời đại kim khí, vùng châu thổ Đồng Nai đã là một trung tâm nông nghiệp sầm uất, nơi quy tụ lượng tài vật khá lớn của cả phần nam bán đảo Đông dương. Hàng chục di tích khảo cổ học phân bố dày đặc dọc đôi bờ Đồng Nai, trên cả những cù lao và kéo dài đến vùng ven biển. Dấu tích cư trú lâu dài, ổn định và phong phú của con người thể hiện trên số lượng di vật rất lớn, nhiều loại hình và phản ánh được các đặc trưng văn hoá, đặc trưng kỹ thuật của các cộng đồng người ở đây. Những xưởng thủ công lớn sản xuất nhiều loại vật dụng cho cuộc sống của con người như đồ gốm, công cụ đá, khuôn đúc và công cụ kim loại, đồ trang sức bằng đá mà số lượng sản phẩm đã vượt qua mức độ tự cung tự cấp. Miệt Vàm Cỏ cư dân cổ cũng tạo lập cuộc sống định cư trên những “núi đất” giữa vùng lầy trũng, tại đó phong phú công cụ sản xuất bằng đá, đồ dùng bằng gốm, đặc biệt nhiều loại công cụ xương thú và vỏ nhuyễn thể. Dù mối quan hệ giao lưu giữa Vàm Cỏ và Đồng Nai phát triển trên quy mô lớn và đã rất thường xuyên, nhưng cư dân Vàm Cỏ vẫn có lối sống và sản phẩm văn hoá mang bản sắc riêng.
Dựa lưng vào một hậu phương rộng lớn và trù phú như vậy, “cảng thị” Cần Giờ đã có một nền tảng kinh tế – xã hội để tồn tại và phát triển. Như trên đã nói, điều kiện tự nhiên của Cần Giờ không thích hợp cho kinh tế nông nghiệp trồng trọt vì đây là vùng ngập mặn quanh năm, chỉ có các loại cây rừng Sác là chủ lực trong việc giữ đất hình thành hệ sinh thái kiểu “mắm trước đước sau”. Nước ngọt ở đây rất hiếm hoi, mùa mưa còn có nước mưa tạm đủ dùng, nhưng mùa khô hoàn toàn phải mua nước ngọt chở bằng ghe theo đường sông từ Đồng Nai – Sài Gòn xuống. Có thể nói, nếu không có lương thực và nước ngọt của hậu phương Đồng Nai thì cư dân cổ Cần Giờ khó có thể tạo dựng được một “cảng thị” dù là “sơ khai” dạng các bến – chợ. Không chỉ thế, tại Cần Giờ còn tìm thấy những loại vũ khí và công cụ bằng đồng và sắt như rìu, giáo, lao, những dao nhỏ, lưỡi câu và cả đồ trang sức … Nguồn gốc của chúng chắc chắn là từ trung tâm luyện kim Đồng Nai, hoặc xa hơn, từ Ban Chang, Non Nok Tha ở Đông Bắc Thái Lan. Tuy số lượng không nhiều nhưng vũ khí và công cụ kim loại đã có vai trò tích cực trong hoạt động khai thác tự nhiên ở Cần Giờ. Đặc biệt một số vũ khí còn mang ý nghĩa tượng trưng cho quyền lực hay địa vị khi chúng được làm đồ tùy táng trong mộ chum.
Việc trao đổi “thương mại” giữa Cần Giờ và lưu vực Đồng Nai không phải chỉ diễn ra một chiều như vậy. Chủ nhân các di tích ở Cần Giờ không hoàn toàn phụ thuộc vào hậu phương mà tự thân họ đã tạo dựng nơi đây trở thành một trung tâm thủ công nghiệp với các nghề làm gốm, làm đồ trang sức bằng đá, vỏ nhuyễn thể, nghề làm thủy tinh… Sản phẩm của họ đã mang tính chất hàng hoá, được trao đổi một cách “bình đẳng”, thậm chí còn là những mặt hàng qúy giá. Với lưu vực Đồng Nai, cùng với sản phẩm khai thác từ tự nhiên thì những đồ gốm sản xuất tại Giồng Cá Vồ, Giồng Phệt đã có mặt tận Dốc Chùa, Phú Hoà, Suối Chồn, Long Bửu ở lưu vực Đồng Nai; Gò Cao Su, Gò Ô Chùa ở lưu vực Vàm Cỏ. Nhiều kiểu dáng đồ trang sức ở khu mộ chum Phú Hòa như khuyên tai hai đầu thú, khuyên tai 3 mấu, hạt chuỗi mã não… trước đây vẫn được coi là bằng chứng của sự ảnh hưởng của văn hoá Sa Huỳnh, thì nay đã có thể nhìn nhận là kết quả của mối quan hệ mật thiết với cửa biển Cần Giờ.
Đặc biệt, loại hình Cà ràng (bếp lò gốm) có sự phát triển ngày càng hoàn thiện, từ giai đoạn sớm ở Vàm Cỏ đến Đồng Nai, giai đoạn muộn ở Cần Giờ đã mang dáng dấp của Cà ràng trong văn hoá Óc Eo. Từ đây, loại bếp gốm của cư dân sông nước Nam Bộ đã trở thành loại vật dụng quen thuộc của cư dân nhiều nơi ở Đông Nam Á.
Khác với những di tích khác trong vùng Đồng Nai – nơi chủ yếu sản xuất đồ gốm và luyện kim – Cân Giờ là trung tâm thủ công sản xuất đồ trang sức từ các chất liệu vàng, đá quý, thủy tinh và từ vỏ nhuyễn thể. Tại đây, đồ trang sức bằng đá giữ vai trò chủ đạo cả về số lượng, mẫu mã và kỹ thuật sản xuất. Sản phẩm chính là các hạt chuỗi đá ngọc, đá mã não, khuyên tai hai đầu thú… Nghiên cứu bước đầu cho biết, một số sản phẩm được chế tạo tại chỗ từ nguyên liệu ngoại nhập (đá ngọc, đá mã não), từ nguyên liệu sản xuất tại chỗ (thủy tinh) hay từ nguyên liệu tự nhiên (vỏ ốc, vỏ hàu…). Tuy vậy vẫn dễ dàng nhận ra yếu tố giao lưu kỹ thuật với Ấn Độ và xa hơn, nhất là trong việc chế tạo đồ ngọc và thủy tinh. Nhiều sản phẩm ở Cần Giờ mang dấu ấn nhiều nền văn hoá khác như đồ gốm mang phong cách văn hoá Sa Huỳnh; bông tai gốm kiểu hoa thị, đồ trang sức vàng, các kiểu chậu gốm, tượng hình chim mang phong cách hiện vật của vùng đảo Philipinne… Cho đến nay tại cần Giờ đã tìm thấy 28 khuyên tai hai đầu thú bằng đá ngọc và thủy tinh – chiếm hơn nửa số trang sức này trong các di tích khảo cổ ở Đông Nam Á. Đây là loại trang sức độc đáo trước đây được coi là đặc trưng của văn hóa Sa Huỳnh ven biển miền Trung Việt Nam. Nhưng từ những tư liệu khảo cổ ở Cần Giờ một giả thuyết mới được đặt ra, phải chăng nguồn gốc các loại trang sức có mặt trong nhiều khu mộ chum ở ĐNA lục địa và hải đảo là được sản xuất tại Cần Giờ?

Mối quan hệ giao lưu rộng rãi của “cảng thị” Cần Giờ là một trong những yếu tố kích thích sự phát triển của văn hoá Đồng Nai thời tiền sử và góp phần quan trọng vào quá trình hình thành văn minh Óc Eo từ những thế kỷ đầu Công nguyên. Nhờ luôn hội tụ và phát huy những lợi thế về vị trí địa lý, sự giao thương rộng rãi với bên ngoài và nguồn lực vật chất của lưu vực Đồng Nai – Cửu Long, “cảng thị sơ khai” Cần Giờ xưa kia, cảng Bến Nghé thời Nguyễn và Sài Gòn – TP. Hồ Chí Minh ngày nay đã giữ vững vai trò quan trọng của mình trong những giai đoạn lịch sử khác nhau. Đó là một đặc thù mà hầu như không có một cảng biển nào ở nước ta có được./.

____________________________________________________

Posted in Chuyện lịch sử, Chuyện đất nước | Tagged: , , | Leave a Comment »