NGÔN NGỮ & VĂN HÓA

CHÚC MỪNG NĂM MỚI

Tài nguyên và các nhóm lợi ích

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Tư 15, 2011

Mập mờ trong khai khoáng

– Việc công khai, minh bạch trong khai thác khoáng sản sẽ đảm bảo hài hòa lợi ích giữa người dân và doanh nghiệp, chấm dứt nhập nhèm các nguồn thu – nguyên Viện trưởng Viện chiến lược Bộ Công an chia sẻ tại hội thảo chiều 14/4 ở Hà Nội về sáng kiến minh bạch trong khai khoáng.
Cũng tại hội thảo, ông Phạm Quang Tú, Phó Viện trưởng Viện Tư vấn và phát triển cho hay, trong hai năm 2010 và 2011, Bình Định dự kiến sẽ thu của các doanh nghiệp khai thác titan trên địa bàn huyện Phù Mỹ 25 tỷ đồng đóng góp nghĩa vụ bảo vệ môi trường, nhưng đến nay, tỉnh mới thu được hơn 4 tỷ. Còn rất nhiều địa phương khác “thất thu” khi vận động DN khai khoáng thực hiện nghĩa vụ.

Dễ làm, khó bỏ

Chuyện ông Tú kể chỉ là một trong các ví dụ về tình trạng thất thu trong khai thác khoáng sản ở Việt Nam. Trong khảo sát về thực trạng ngành công nghiệp khai khoáng, nhóm nghiên cứu của ông Tú đã tìm hiểu và phân tích nhiều dạng thất thoát khác nhau, như trốn thuế, gian lận, buôn lậu…
Ở một đất nước có trên 5.000 mỏ và điểm quặng của hơn 60 loại khoáng sản khác nhau, mà nguồn thu từ khoáng sản còn hạn chế, trông chờ chủ yếu vào dầu mỏ. Trong khi ta còn rất nhiều loại khoáng sản trữ lượng lớn như titan, bôxit, đá nguyên liệu ximăng…
Phó trưởng ban Pháp chế Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam Đậu Anh Tuấn phân tích: Khai thác khoáng sản là một trong những mảnh đất tiềm năng cho nạn tham nhũng và là nguồn gốc cho nhiều bất ổn, xung đột giữa chính quyền địa phương với người dân vì va chạm lợi ích.
Do sự thiếu minh bạch trong quản lý và khai khoáng, nên dù là tài sản của toàn dân nhưng chỉ doanh nghiệp là được hưởng lợi nhiều nhất từ các mỏ.

Dễ nhận thấy nhất là việc thu thuế tài nguyên chỉ thuần túy dựa trên con số báo cáo của doanh nghiệp. Trong khi đó, Nhà nước không kiểm soát được trữ lượng khoáng sản đã được khai thác, nhất là tình trạng khai thác bừa bãi titan khu vực ven biển miền Trung.
Theo luật định, DN phải nộp một khoản tiền nhất định để phục hồi môi trường, cải tạo hạ tầng, đường xá bị hư hỏng trong quá trình vận chuyển. Xong, rất nhiều DN không làm tròn nghĩa vụ. Nếu không, số tiền cũng rơi vào ngân sách nhà nước thay vì đầu tư bảo vệ môi trường.

Tình trạng xin – cho trong cấp phép khai thác và nạn khai thác lậu dẫn đến thực trạng dễ làm – khó bỏ, vừa gây tổn thất cho Nhà nước vừa ảnh hưởng đến môi trường.
Ngoài ra, như ý kiến của ông Trịnh Đình Thắng (Vụ Hợp tác quốc tế – Bộ Công thương), tham nhũng trong khai khoáng không chỉ diễn ra quanh quá trình thu – nộp thuế mà còn ở nhiều khâu khác.
Tại hội thảo, một số chuyên gia còn phân tích, Việt Nam chưa công khai, minh bạch các số liệu về khai khoáng cũng như quyền khai thác. Đây là mảnh đất phát sinh tham nhũng, tệ xin – cho, chuyển nhượng lậu…

Quyết tâm từ cấp cao nhất

Đáng chú ý, nguồn lợi thiên nhiên ban tặng đôi khi lại rơi vào một số nhóm lợi ích thay vì cả cộng đồng, do cơ chế kiểm tra, giám sát của nhà nước chưa chặt chẽ. Thậm chí, tình trạng khai thác lộn xộn đã để lại những hậu quả xã hội, môi trường tiêu cực, khó khăn.

Nhóm nghiên cứu chỉ ra, Việt Nam cần phải có một công cụ để giám sát quá trình khai khoáng, chẳng hạn tham gia sáng kiến minh bạch ngành công nghiệp khai khoáng, đồng thời bổ sung, sửa đổi các dự án luật liên quan.
Ủng hộ sáng kiến này, nguyên Viện trưởng Viện chiến lược Bộ Công an Lê Văn Cương cho rằng, việc công khai và minh bạch trong lĩnh vực khai khoáng trước hết sẽ đảm bảo được sự hài hòa lợi ích giữa người dân và doanh nghiệp, xóa đi tình trạng mập mờ, nhập nhèm các nguồn thu và lợi ích. Tuy nhiên, để tham gia cần có sự tự nguyện và cam kết từ cấp cao nhất.
Chỉ có như vậy mới tạo ra môi trường kinh doanh và đầu tư lành mạnh, cải thiện hình ảnh đất nước, cải thiện hệ thống thuế, góp phần chống tham nhũng. Nhất là trong bối cảnh các chỉ số tín nhiệm và chỉ số minh bạch trong tất cả các lĩnh vực ở Việt Nam chưa được xếp hạng cao.

Tài nguyên và các nhóm lợi ích

Đáng chú ý, nguồn lợi thiên nhiên ban tặng đôi khi lại rơi vào một số nhóm lợi ích thay vì cả cộng đồng, do cơ chế kiểm tra, giám sát của nhà nước chưa chặt chẽ. Thậm chí, tình trạng khai thác lộn xộn đã để lại những hậu quả xã hội, môi trường tiêu cực, khó khăn.

Ông Đậu Anh Tuấn, phó ban Pháp chế của phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam (VCCI), cho rằng, Việt Nam cần gia nhập Sáng kiến minh bạch trong ngành công nghiệp khai khoáng (EITI) nếu muốn “tăng thu ngân sách nhà nước và tăng cường chống tham nhũng” trong ngành này. EITI, được công bố năm 2002 tại Nam Phi và thu hút 35 quốc gia trên thế giới làm thành viên, tạo ra cơ chế buộc các chính phủ công khai nguồn thu nhận được từ các công ty khai khoáng, trong khi các công ty khai khoáng cũng phải công khai các khoản chi cho chính phủ. Giám sát các khoản thu này là một cơ quan độc lập gồm nhiều tổ chức khác nhau. Ông Tuấn nói, cơ chế này sẽ giúp nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm giải trình trong ngành khai khoáng vốn đang “rất thiếu” ở Việt Nam hiện nay.
Kiến nghị của vị chuyên gia này được sự ủng hộ của lãnh đạo VCCI, viện Tư vấn phát triển, sứ quán Na Uy, sứ quán Thuỵ Điển và nhiều tổ chức khác trong và ngoài nước.
Theo nghiên cứu của VCCI, ngành khai khoáng đóng góp 10 – 11% vào GDP trong khoảng một thập kỷ nay. Doanh thu từ xuất khẩu khoáng sản trong năm 2009 đạt khoảng 8,5 tỉ USD, trong đó từ dầu thô đạt 6,2 tỉ USD, chiếm khoảng một phần tư tổng thu ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, quản lý nhà nước đối với khu vực kinh tế đặc biệt quan trọng này đang bộc lộ rất nhiều sơ hở.
VCCI khuyến nghị, nguồn lợi tài nguyên khoáng sản đôi khi rơi vào một số nhóm lợi ích thay vì cho cả một cộng đồng, do cơ chế kiểm tra giám sát của các cơ quan nhà nước còn chưa chặt chẽ. Cơ chế xin – cho trong cấp phép ở lĩnh vực khai thác khoáng sản đang diễn ra phổ biến nên khó có thể đạt được mục tiêu minh bạch. Mặt khác, phần lớn những khoáng sản quan trọng đều do doanh nghiệp nhà nước đảm nhiệm, tỷ lệ tư nhân hoá trong ngành công nghiệp khai thác vẫn còn rất thấp cũng được xem là yếu tố cản trở. Bên cạnh đó, tình trạng khai thác khoáng sản trái phép diễn ra khá phổ biến ở một số địa phương, khai thác khoáng sản theo kiểu “dễ làm –khó bỏ”, chưa sử dụng tổng hợp các loại khoáng sản trong quá trình khai thác, chế biến vẫn còn diễn ra khá phổ biến gây tổn thất, thất thoát lớn khoáng sản và nguồn thu ngân sách.

Và lời nguyền tài nguyên

Một báo cáo khác của tập đoàn Than – khoáng sản Việt Nam (TKV), tổn thất trong khai thác than ở Quảng Ninh vào khoảng 7,3 – 7,7% đối với khai thác lộ thiên và khoảng 28 – 31% trong khai thác hầm lò. Ngoài ra, độ thu hồi quặng vàng trong chế biến hiện chỉ đạt khoảng 30 – 40% khiến khoáng sản quý này không chỉ mất mát mà việc khai thác còn gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.
Theo ông Phạm Quang Tú thuộc viện Tư vấn phát triển, hơn 2.000 doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đã tham gia khai thác khoáng sản, trong đó có tới khoảng 90% là doanh nghiệp quy mô nhỏ. Nhiều doanh nghiệp trong ngành không thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật. Ông Tú nhận xét, tình trạng trốn thuế tài nguyên, vận chuyển, buôn bán lậu… diễn ra phổ biến ở nhiều địa phương. Công tác quản lý và giám sát nguồn thu – chi từ công nghiệp khai thác chưa thật sự chặt chẽ dẫn tới thất thu ngân sách. Hơn nữa, việc công khai thông tin cũng như trách nhiệm giải trình của các bên trong ngành công nghiệp khai thác còn rất hạn chế.
Ông Tú nhận xét, chỉ có một số cơ quan quản lý nhà nước là có khả năng tiếp cận được những thông tin về các nghĩa vụ tài chính của doanh nghiệp. Ông tiết lộ, khi nhóm nghiên cứu của VCCI và CODE hỏi về cung cấp một số thông tin liên quan tới nguồn thu – chi của các đối tượng phỏng vấn thì chỉ một vài công ty sẵn sàng cung cấp đầy đủ các dữ liệu. Ông nói: “Kết quả là đa phần người dân chưa thể giám sát được nguồn thu từ hoạt động khai thác khoáng sản”. Ông cảnh báo rằng, hiện xuất hiện ngày càng nhiều tình trạng xung đột, tranh chấp giữa người dân và doanh nghiệp khai thác khoáng sản ở một số địa phương.
Bên cạnh đó, các nhà nghiên cứu cảnh báo trong giai đoạn tới, ngành công nghiệp khai thác khoáng sản sẽ gặp nhiều khó khăn do trữ lượng dầu khí và than đang ngày càng cạn kiệt. Hơn nữa, mặc dù Việt Nam có một số loại khoáng sản có trữ lượng cao như bôxít, titan, đá vôi… nhưng chưa thể đưa vào khai thác quy mô lớn do trên thế giới cũng có rất nhiều những loại khoáng sản này và nhu cầu hiện tại không cao.

Họ đặt câu hỏi: liệu nền kinh tế Việt Nam, vốn luôn dựa vào xuất khẩu tài nguyên thô trong hàng chục năm qua, có tránh được lời nguyền tài nguyên mà không ít quốc gia cả giàu có lẫn nghèo nàn trên thế giới đã mắc phải với không ít hệ luỵ cho phát triển nếu kéo dài tình trạng khai thác khoáng sản thiếu kiểm soát?

(tổng hợp)

__________________________________________

Advertisements

Trả lời

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: