NGÔN NGỮ & VĂN HÓA

CHÚC MỪNG NĂM MỚI

Đội gạo lên chùa – trong chùa và ngoài chùa

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Mười 5, 2011

Hoài Nam

Đội gạo lên chùa, trên một phương diện nào đó, là cuốn tiểu thuyết viết về Phật giáo Việt Nam, về tác động của tư tưởng Phật giáo tới văn hóa – lối sống của con người Việt Nam trong trường kỳ lịch sử.

“Cư trần lạc đạo thả tùy duyên/ Cơ tắc thực, hề khốn miên/ Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch/ Đối cảnh vô tâm mạc vấn Thiền” (Tạm dịch: Sống giữa cõi trần vui với Đạo hãy tùy theo hoàn cảnh. Đói thì ăn, mệt thì ngủ. Trong nhà sẵn có của báu, còn phải tìm đâu nữa. Đối cảnh vô tâm, cần gì phải hỏi Thiền). Lấy lại bốn câu trong bài Cư trần lạc đạo phú của Trúc Lâm Đại đầu đà – Phật hoàng Trần Nhân Tông làm đề từ cho cuốn tiểu thuyết Đội gạo lên chùa, dường như nhà văn Nguyễn Xuân Khánh muốn giúp độc giả bằng cách ngầm trao cho họ cái yếu quyết để đi vào và hiểu tác phẩm của mình; hoặc ít ra, hiểu nó rõ thêm.

Quả có vậy, Đội gạo lên chùa, trên một phương diện nào đó, là cuốn tiểu thuyết viết về Phật giáo Việt Nam, về tác động của tư tưởng Phật giáo tới văn hóa – lối sống của con người Việt Nam trong trường kỳ lịch sử, hoặc nói cho ngắn gọn, đây là cuốn tiểu thuyết viết về Phật tính trong văn hóa Việt. (Vả lại, ngay cái nhan đề tác phẩm, theo cơ chế liên văn bản, đã buộc người đọc phải nghĩ tới câu ca dao không biết có từ bao giờ: “Ba cô đội gạo lên chùa/ Một cô yếm thắm bỏ bùa cho sư/ Sư về sư ốm tương tư…”). Từ một biến cố kinh hoàng trong cuộc đời của hai chị em Nguyệt và An – cha mẹ bị lính Pháp cắt cổ trong một trận càn – tác giả đã đưa người đọc tới làng Sọ, một làng quê mang đậm những nét đặc trưng của làng quê vùng đồng bằng Bắc bộ, nơi có ngôi chùa làng vừa như là nạn nhân vừa như là chứng nhân của những thăng trầm lịch sử. Tại chùa làng Sọ, hai chị em Nguyệt và An được cưu mang, được làm lại cuộc đời. Và điều quan trọng hơn, họ được sống trong một vi khí hậu văn hóa đậm đặc Phật tính, được quan sát, trải nghiệm và rồi tự hình thành sự nhận biết cá nhân về vi khí hậu văn hóa ấy. Từ giác độ này, tính luận đề của tiểu thuyết Đội gạo lên chùa được thể hiện khá rõ. Để nói về cái tâm từ bi của nhà Phật cũng như sức mạnh cải hóa, cảm hóa chúng sinh toát ra từ cái tâm từ bi ấy, tác giả đã không ngần ngại mượn lại những motif từng có trong chuyện kể về cuộc đời tu đạo và truyền giáo của Đức Phật Thích Ca: này là mãnh thú (con hổ mang pháp danh Khoan Hòa), này là cường đạo (sư bác Khoan Độ) đều chẳng được sư cụ Vô Úy cứu vớt rồi trở thành Phật gia đệ tử đó sao? Để nói về tinh thần nhập thế tích cực của Phật giáo Việt – vốn được khởi nguồn từ những vị tăng thống như Ngô Chân Lưu, Vạn Hạnh, và đạt tới đỉnh cao với những vị tăng đế thời nhà Trần – tác giả Đội gạo lên chùa chẳng đã dựng lên nhân vật sư Vô Trần bỏ chùa đi hoạt động cách mạng, trở thành một chỉ huy quân sự tiếng tăm lừng lẫy đó sao? Để nói về thái độ khai phóng, không chấp trước, một lối ứng xử cởi mở, một triết lý sống đúng với tinh thần câu “Cư trần lạc đạo thả tùy duyên” của Thiền Việt Nam, nhà văn Nguyễn Xuân Khánh chẳng đã lấy chính cuộc đời của sư cụ chùa làng Sọ – hòa thượng Vô Úy – làm một ví dụ trực quan sinh động đó sao? Tên của nhân vật đã là một ký hiệu đầy hàm nghĩa. Vô Úy nghĩa là không sợ, không sợ bất cứ cái gì. Không sợ cường quyền bạo lực. Không sợ lẽ hưng vong sinh diệt của tạo hóa. Không sợ quy luật tuần hoàn đắp đổi của vạn vật. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, dù là tồi tệ đến đâu, người tu thiền đích thực vẫn có thể “tùy duyên” mà vượt qua được mọi sóng gió với cái tâm an nhiên như mặt nước hồ thu. Chính bằng sự “vô úy” và cái năng lực “tùy duyên” ấy mà sư cụ, cũng như ngôi chùa làng nhỏ bé, vẫn cứ tồn tại trên lớp sóng thời gian dù phải trải qua những cơn rung lắc dữ dội nhất (dưới sự khủng bố của chính quyền tề ngụy, và sau đó, dưới sự lộng hành tăm tối của chính quyền nông dân thời cải cách ruộng đất, chùa làng Sọ luôn là đối tượng bị “quan tâm” nhiều nhất, bản thân sư cụ trong cả hai thời kỳ đều đã bị bắt giữ và bị tra tấn đến chết đi sống lại). Để suy luận – dẫu vì thế mà không tránh khỏi sự võ đoán – có lẽ phải nói rằng ở đây, với những “bằng chứng” về sự thấm nhiễm tư tưởng Phật giáo trong quan niệm sống, hay nói cách khác, với những biểu hiện cụ thể về Phật tính trong văn hóa Việt, tác giả muốn phát lộ một bí mật làm nên khả năng trường tồn của dân tộc chăng?

Dù sao, với một tác phẩm tiểu thuyết luận đề, ở phần diễn dịch cho một tư tưởng hoặc một quan niệm có trước, dẫu có viết khéo đến đâu thì đôi lúc vẫn để lộ ra những chỗ gượng gạo. (Trong Đội gạo lên chùa, phần gượng gạo nhất là lúc tác giả phân tích, bình luận về tính cách của nhân vật trung úy Tây lai Bernard, về cái phức cảm tự tôn lẫn tự ti giữa hai nửa Pháp – An Nam, da trắng – da vàng, kẻ chinh phục – người bị thống trị trong con người Bernard. Rất dài dòng và nói chung là không cần thiết). Sinh động, hấp dẫn và sẽ sống bền hơn cả trong Đội gạo lên chùa của Nguyễn Xuân Khánh, theo tôi, có lẽ là phần nằm ngoài chủ đề Phật tính của văn hóa Việt, cũng tức là nằm ngoài mối quan tâm lớn nhất của tác giả. Tôi muốn nói tới thế giới đàn bà trong tác phẩm, một thế giới được phác lên bằng rất nhiều chân dung, rất nhiều số phận cuộc đời, mà hầu như cái nào cũng sắc nét. Ngay ở những trang đầu tiên của cuốn tiểu thuyết, người đọc đã được sống trong bầu không khí ma mị với một bà cụ Thầm nửa âm nửa dương, mê mê tỉnh tỉnh, suốt đêm chỉ ngồi đếm đom đóm từ nghĩa địa bay vào – mỗi con đom đóm là một vong linh – và lầm rầm trò chuyện với những người bạn đã chết từ thuở còn con gái. Rồi cô Rêu, người thiếu nữ tài sắc vẹn toàn, “lúc nào cũng ngơ ngơ như từ trên trời rơi xuống”, đã nhảy giếng tự tử trong thời cải cách ruộng đất, như thể một tuyên bố về sự không chung sống được với cõi đời đang hồi điên đảo (khi cô chết, cái giếng tỏa mùi thơm ngát. Chi tiết này khiến nhân vật cô Rêu phảng phất bóng dáng nhân vật Người Đẹp trong Trăm năm cô đơn của G. Marquez, chỉ khác là một cô thì bay lên trời, một cô thì lao xuống giếng). Rồi bà cụ làm vàng hương, người không chấp nhận trao số phận mình vào tay đội cải cách và đã “giành quyền tự quyết” bằng cách thắt cổ chết trong một căn phòng sực nức mùi trầm hương. Rồi những bà Nấm, bà Thêu, chị Thì, chị Xim, cô Mai… mỗi người đàn bà trong Đội gạo lên chùa là cả một nguồn năng lượng sống được dồn nén đến cực độ, chỉ chờ dịp để bung phá, tuôn trào. Và khi tuôn trào, nguồn năng lượng sống ấy sẽ cuốn theo, không gì khác, chính những người đàn ông, như dòng nước lũ cuốn phăng những củi mục rong rêu về phía hạ lưu. Đọc Đội gạo lên chùa, không khó nhận thấy những người đàn bà ở đây đều ý thức rất rõ về vẻ đẹp thân thể và sức mạnh giới tính của mình. Đáo để đến mức quyết liệt, họ dùng nó như một thứ lợi khí để đương đầu với số phận, và dùng nó như một phương tiện hữu hiệu để kiếm tìm hạnh phúc cá nhân. Bà Nấm khiến cho sư Vô Trần phải động lòng trần mà cởi tăng y về với cõi tục. Bà Thêu, trong cơn biến cố long trời lở đất có tên là cải cách ruộng đất, đã nhanh chóng thoát khỏi cái tội là vợ địa chủ – rồi sau đó thậm chí còn trở thành cán bộ – bằng việc làm cho anh đội Khoát phải ngây ngất si mê. Đặc biệt ấn tượng, phải kể đến nhân vật chị Xim, người đàn bà hừng hực khao khát như một lò lửa nhưng cũng rất rành mạch sòng phẳng, tình nguyện ban phát cho anh chồng cũ một cuộc ái ân cuồng nhiệt để rồi sau đó chấm dứt, ai nấy sống cuộc đời của mình. Nói chung, nếu không muốn rơi vào sự võ đoán vu khoát khi dùng cụm từ “chủ nghĩa nữ quyền” trong trường hợp này, theo tôi, có thể nói đến một ý hướng khái quát về “mẫu tính” của văn hóa Việt trong Đội gạo lên chùa (“mẫu tính” cũng là cụm từ được nhiều nhà phê bình nhắc tới khi viết về Mẫu Thượng ngàn, cuốn tiểu thuyết trước đó của Nguyễn Xuân Khánh). Có vẻ như, dù không nằm trong chủ ý ban đầu của tác giả, song theo quán tính của một thứ “tạng văn” đã định hình, “theo dòng mẫu hệ”, Đội gạo lên chùa vẫn thuyết phục người đọc nhiều hơn ở những trang viết “ngoài chùa” – những trang viết về người đàn bà, người sinh thành ra chính bản thân sự sống.

Ngót 900 trang sách khổ 14 x 20,5, phải nói rằng Đội gạo lên chùa của Nguyễn Xuân Khánh thuộc vào loại tiểu thuyết dễ khiến cho người ta phải… choáng váng, nhất là với những người đọc thiếu kiên nhẫn. Cũng may là tác giả không chọn cách viết đánh đố thiên hạ. Ông viết đặc sệt cổ điển, có lớp có lang, dẫn dắt mạch lạc, diễn giải kỹ càng. Gần 900 trang sách ấy, một mặt cho thấy lao động viết đầy khổ công, mặt khác lại nói được rất nhiều về nội lực văn hóa của tác giả. Với đề tài như thế này, nếu không phải là một nhà văn “độc phá vạn quyển thư”, quan tâm rộng tới những vấn đề của lịch sử văn hóa – tư tưởng, tôi e rằng anh ta chỉ viết đến 300, 400 trang là hết chuyện để nói. Thế nhưng, không nên quên rằng chúng ta đang bàn tới một tác phẩm tiểu thuyết chứ không phải một công trình nghiên cứu. Và với một tác phẩm tiểu thuyết thì phẩm chất đó, tuy cần thiết, nhưng chưa phải là tất cả.
______________
Đội gạo lên chùa, tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh, NXB Phụ Nữ 2011.

Advertisements

Trả lời

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: