NGÔN NGỮ & VĂN HÓA

CHÚC MỪNG NĂM MỚI

Những nguyên mẫu của Vợ chồng A Phủ

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Mười 10, 2011

Nhà văn Tô Hoài đã từng ao ước được trở về Tà Sùa, Hồng Ngài (Sơn La), cùng các nhà làm phim làm một bộ phim về Mường Dơn. Không biết đã ngoài 90 tuổi, cụ đã thỏa tâm nguyện này chưa nhưng mới đây, nữ nhà báo Hoàng Hường đã lặn lội tìm đến địa danh này. Tại đây, chị đã gặp được những con người được cho là nguyên mẫu thật bằng xương bằng thịt như bước ra từ tác phẩm văn học nổi tiếng Vợ chồng A Phủ của nhà văn Tô Hoài. Nhân tiện, chị đã thực hiện một bộ phim ngắn, hay nói cho đúng hơn là làm ký sự bằng hình ảnh về những nguyên mẫu này.

Thống lý Pá Tra là Mùa Trở La, không phải Mùa Chống Lầu

Hoàng Hường cho biết, sở dĩ chị quyết tâm tìm đến những địa danh đã được nhà văn Tô Hoài nhắc đến trong tác phẩm của mình là vì ngay từ ngày được học tác phẩm này trong trường phổ thông, chị đã rất thích đến những miền đất ấy. Mong muốn đó cứ lớn lên để rồi “không chịu được nữa”, chị khoác ba lô lên đường với hy vọng sẽ tìm được những câu chuyện liên quan đến những địa danh, những con người, dù chỉ là “hậu duệ” của những con người mà nhà văn Tô Hoài đã đưa vào tác phẩm văn học. Tuy nhiên, chính sự “tù mù và liều lĩnh” này đã giúp Hoàng Hường “thu hoạch” được nhiều hơn những gì mình mong muốn.

Đầu tiên, Hoàng Hường tìm đến nhà ông Đinh Tôn, (xã Phiêng, huyện Bắc Yên, Sơn La) người được cho là nguyên mẫu nhân vật A Châu trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ. Qua cuộc “chất vấn” giữa “nhà quay phim nghiệp dư Hoàng Hường” với ông Đinh Tôn, có thể tạm chứng minh được ông Đinh Tôn chính là nguyên mẫu “cán bộ A Châu”.

Theo đó, ông Đinh Tôn gặp nhà văn Tô Hoài năm 1951, khi ông còn chưa lập gia đình và đang làm công tác dân vận và nghiên cứu tình hình lịch sử của người Mèo khu 99 (gồm 1 nửa là xã La Phù, 1 nửa là xã Tường Phù). Theo những gì mà ông Đinh Tôn trả lời phỏng vấn nhà báo Hoàng Hường trong phim thì nhân vật thống lý Pá Tra là từ nguyên mẫu thống lý Mùa Trở La, bố đẻ của thống lý Mùa Chống Lầu.

Ông Đinh Tôn kể: “Bố ông Mùa Chống Lầu độc ác lắm, nhưng đến ông thống lý Mùa Chống Lầu, các đồng chí ta lại thuyết phục được ông ấy đi theo cách mạng, ông đã xây dựng cơ sở, vận động tất cả người Mèo vùng 99 và vùng Kim Bon theo cách mạng. Tức là bố ông thống lý thì độc ác nhưng bản thân ông thống lý thì lại đi theo cách mạng. Thế nên nhà văn Tô Hoài cũng không nói ông Mùa Trở La mà nói thống lý Pá Tra. Bởi vì nếu lấy tên ông Mùa Trở La làm tên nhân vật luôn thì ảnh hưởng đến ông Mùa Chống Lầu. Khi đó ông Lầu đang là ủy viên Ủy ban Mặt trận tổ quốc khu Thái – Mèo, còn tôi là ủy viên Hội đồng nhân dân khu. Tức là nguyên mẫu của nhân vật thống lý Pá Tra là ông Mùa Trở La, là bố ông Mùa Chống Lầu, chứ không phải là Mùa Chống Lầu như nhiều người nghĩ”.

Giải thích về các nguyên mẫu khác, ông Đinh Tôn cho biết: “A Sử chết lâu rồi. Các nhân vật A Phủ, A Sử, A Mỵ, tên thật của họ cũng là như vậy thôi. Nhưng giấu cái họ đi. Ngay cả tôi, ban đầu anh Tô Hoài cũng lấy tên tôi ra, nhưng tôi nói rằng như vậy cũng không hay, vì cần phải gắn vào đồng bào dân tộc, cần phải tôn lên cái người dân tộc họ làm nên lịch sử. Vì thế, ngay cả các nhân vật A Phủ, A Sử cũng không có họ. Người Mèo có 12 họ, thì các nhân vật cũng không lấy họ nào cả, mà cứ lấy họ A vào đấy thôi. A là cái tên đệm chung. Bây giờ lấy A Phủ, A Sử, A Châu ra hỏi thì không ai biết cả. Nhưng nghe cái tên đó biết A Châu dân tộc Mông là được rồi”.

Nguyên mẫu A Mỵ thật vẫn còn sống

Nguyên mẫu A Châu Đinh Tôn (sinh năm 1930), nguyên quán ở Vạn Yên, Phú Yên, gốc là người Mường. Ông thoát ly từ năm 15, 16 tuổi và gần như đã đi khắp Sơn La để tham gia công tác dân vận. Năm 1983, ông về ở xã Phiêng, huyện Bắc Yên, Sơn La cho đến bây giờ. Ông có hai vợ. Người vợ thứ nhất đã mất năm 1999, lấy người vợ thứ hai cũng đã có nhiều con cháu. Hoàng Hường kể: “Đến nhà “cán bộ A Châu”, điều tôi ám ảnh nhất không hẳn là những câu chuyện ông kể về những nguyên mẫu trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ của nhà văn Tô Hoài mà là căn nhà ông đang ở. Nó quá dột nát. Ông có 7 người con, hiện 6 người còn sống. Người con thứ hai của ông từng thi ĐH Xây dựng ở HN thừa 2 điểm nhưng không theo học mà ở nhà đi làm, được 7 năm thì ngã bệnh qua đời. Còn 6 người con còn lại, có 3 nữ đều là giáo viên, còn 3 con trai thì 1 là thiếu tá, 1 là trung tá ở công an tỉnh. Nhà chưa làm lại được là vì con cháu ông bà đều công tác xa nhà, có khi cả năm mới đáo về thăm ông bà được một lần!”.

Chưa hết cảm động bởi đã gặp được nguyên mẫu trong tác phẩm văn học mà mình mê mẩn từ ngày còn ngồi trên ghế nhà trường, Hoàng Hường còn sướng rơn khi được “cán bộ A Châu” cho biết, nhân vật A Mỵ hiện vẫn còn sống, nhưng không phải ở Phiềng Sa như trong truyện của Tô Hoài đã viết mà ở bản Lung Tang, cũng thuộc Hồng Ngài, nhưng cách khoảng một ngày đường rừng, băng qua sông và đôi khi phải đi bằng “tứ chi”.

Tài sản lớn nhất của A Mỵ là cái cối đá

Mặc dù “cán bộ A Châu” khẳng định “chắc như đinh đóng cột” rằng vợ chồng A Phủ vẫn còn sống hoặc chí ít còn để lại hậu duệ nhưng Hoàng Hường vẫn tỏ ra hoài nghi, vì lâu nay, nhiều người vẫn đồn vợ chồng A Phủ đã mất.

Sau khi vượt qua những cung đường lầy lội với một bên là núi cao, một bên là vực sâu “bồng bềnh mây trắng”, Hoàng Hường đã đến được Lung Tang và bắt đầu cuộc tìm kiếm vợ chồng A Phủ với sự hỗ trợ của của người thông dịch viên kiêm xe ôm mà chị đã thuê được ngoài thị trấn huyện. Gần hết chiều, “quý bà” Hoàng Hường may mắn gặp được “quý tử” của vợ chồng A Phủ tên là Lầu A Lia.

Hoàng Hường kể: “Sau một hồi trò chuyện, Lầu A Lia bảo hai người chị tìm là bố mẹ tôi. Nghe vậy tôi mừng khôn tả, nhưng khi tôi hỏi: Bố anh còn sống không? Anh nói với tôi: Bố tôi chết rồi. Chết từ ngày con gái đầu của tôi nó thấp bằng con dao. Bây giờ con cháu nó lấy vợ, lấy chồng, đẻ con, đẻ cái hết rồi. Tôi hỏi thế cháu anh được mấy tuổi rồi thì Lầu A Lia cũng chỉ nói: Không biết mấy tuổi, chỉ biết là đẻ từ mùa rẫy trước. Bà thì còn sống, đang xay ngô trong nhà”.

Mừng quá, tôi chạy thẳng vào nhà. Đến cửa, đập vào mắt tôi là một cụ bà mà theo tôi là rất đẹp và phúc hậu. Nhìn cụ tôi đoán có khi cụ cũng phải xấp xỉ trăm tuổi. Cụ vẫn minh mẫn, tay trái cầm một bát sắt to như chiếc mũ bảo hiểm đụng đầy hạt ngô, tay phải đang bón ngô vào trong lòng cối cho đứa cháu xay mèn mén. Nhà cụ rất nghèo và thiếu thốn đủ thứ. Thậm chí, tôi nghĩ cái cối đá chính là tài sản lớn nhất, có giá trị nhất đối với gia đình cụ. Không có cái cối đá ấy, hẳn gia đình cụ còn khổ hơn rất nhiều”.

Người được cho là nguyên mẫu A Mỵ làm “quý bà” Hoàng Hường hết sức xúc động ấy tên thật là Mùa Thị La. Cụ không nói được tiếng Kinh nên qua người thông dịch, Hoàng Hường chỉ biết “A Mỵ” xưa kia ở xã Háng Chú (Bắc Yên) rồi đi sang Háng Dia, nhưng ở đó có nhiều dịch bệnh, ốm đau nên sau giải phóng thì chuyển về ở Tà Sùa. Cụ và Lầu A Phử (trong truyện tên là A Phủ – PV) từng ở nhà ông thống lý Mùa Chống Lầu. Giữa cụ và A Phử là chỗ thân quen, gặp nhau vào dịp chơi tết. Sau này “hai cái bụng ưng nhau” nên A Phử rủ anh em đến đón cụ về làm dâu, từ đó thành vợ, thành chồng! Có với nhau được cả thảy 6 người con, lo gia thất được cho 4 người thì đổ bệnh nhưng không rõ là bệnh gì mà chỉ biết “đau cái bụng”. Sau một thời gian thì ông khuất núi!…”

Tìm được nhân vật có cuộc đời nô lệ còn hơn cả Mỵ

Câu chuyện mà cụ A Mỵ kể lại chừng như đơn giản hơn so với những gì mà Mỵ trong Vợ chồng A Phủ của nhà văn Tô Hoài mà nhiều người đã biết. Nhưng cũng thật tình cờ, trong chuyến đi tìm vợ chồng A Phủ, Hoàng Hường còn vô tình “chộp” được một nhân vật không phải bước ra từ văn học nhưng có chặng đời lại thật như nhân vật A Mỵ đến nỗi khó tin, ở xã Chiềng Công, huyện Mường La, cách xa Hồng Ngài cả trăm km.

Nhân vật này nguyên là nữ thẩm phán người dân tộc Mông đầu tiên của tỉnh Sơn La. Theo đó, năm 12 tuổi, bà Lý bị bán về làm dâu nhà tào phán (thống lý = chủ tịch xã; tào phán = trưởng thôn) Mùa A Mang, làm vợ con trai tào phán là Mùa Súa Tình khi đó cũng 12 tuổi. Những năm bà Lý làm nô lệ, bà không có quyền ăn, không có quyền nói. Nhà chồng ăn thì bà phải vào buồng. Đến lúc bà ăn thì chỉ ăn bí đỏ nấu không bỏ hạt với canh rau chua trộn cơm ngô sền sệt như ăn cám lợn. Không chỉ liên tục phải ngồi trong buồng “nhìn qua cái lỗ vuông vuông bằng bàn tay” mà bà Lý còn liên tục bị chồng cho ăn no đòn. Đánh, đánh thừa sống thiếu chết. Đánh mà không vì cái tội gì cả. Đặc biệt, cú phi cả một cây củi vào mạng sườn của ông chồng “trẻ con” đến giờ mỗi khi trái gió, trở trời lại khiến bà Lý mếu máo vì đau. Thậm chí, mỗi khi nhớ lại những trận đòn thù của “người xưa”, bà không ngần ngại “chửi vọng”: “Thằng chó chết, mày ác. Mày chết đã hơn 40 năm rồi, xương mày đã bị mối ăn hết rồi mà chỗ mày đánh tao vẫn còn đau”.

Bà Lý làm vợ, hay nói cho đúng hơn là làm nô lệ cho cái gia đình “chó chết” đó được 8 năm. Đến năm 1955, thành lập Khu Tự trị Thái Mèo, bà mới được giải phóng khỏi cuộc đời nô lệ, được cho đi học và trở thành “bà thẩm phán”.

“Vợ chồng A Phủ” đã trở thành “di sản”

Bây giờ, những thống lý không còn nữa, những dinh thự gắn với những cơn ác mộng của những người nô lệ đã thành quá khứ, nhưng tập tục cổ xưa của người Mông như bắt vợ gán nợ như Mỵ trong Vợ chồng A Phủ thì vẫn còn, nhưng trên tinh thần thỏa thuận đàng hoàng và sòng phẳng chứ không “cướp giật” theo nghĩa đen.

Hoàng Hường cho biết: “Ông chủ tịch xã nói với tôi; hiện nay, tập tục ấy vẫn giữ, nhưng giữa đôi bên “thông gia” hoặc đôi nam nữ đã “nháy” nhau trước rồi chứ không “cưỡng chế” như xưa nữa. Điều đó chứng tỏ nhận thức đã làm cho người Mông ở nơi đây tiến bộ hơn rất nhiều! Có chăng, cái tồn tại lâu nhất vẫn chưa xóa được ấy là cái nghèo, cái khổ, cái khó của bà con vẫn còn đeo đẳng lấy họ mà thôi”

Theo “quý bà” Hoàng Hường cho biết thì hiện nay, những vùng đất của “thống lý Pá Tra” xưa vẫn ngút ngàn và màu mỡ. Cách trung tâm thị trấn Bắc Yên khoảng 8km, hang A Phủ (xã Hồng Ngài, Bắc Yên, Sơn La) vẫn còn “hoang sơ như thời tiền sử”. Hang này được cho là nơi trú ẩn của A Phủ và Mỵ sau khi cùng nhau chạy trốn khỏi nhà thống lý và sau này cũng là nhà trú ẩn của bộ đội trong khi hành quân để tăng cường cho chiến dịch Tây Bắc 1952. Nếu cái hang này trở thành một “vệ tinh” trong bản đồ, xin tạm gọi “theo dấu chân A Phủ” thì đó sẽ là một trong những chặng dừng chân ý nghĩa khi đến với miền đất và những con người như bước ra từ văn học…

Theo Huy ThôngTT&VH
__________________________________________________________

Advertisements

Trả lời

Please log in using one of these methods to post your comment:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: