NGÔN NGỮ & VĂN HÓA

CHÚC MỪNG NĂM MỚI

Archive for the ‘1’ Category

Trung Quốc gây hoài nghi về tuyên bố phát triển hòa bình

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Tám 8, 2010

Chính sách “bên miệng hố chiến tranh” đã tạo ra một mùa hè nóng bỏng tại Đông Á. Trong vài năm gần đây, Trung Quốc đã xây dựng và tăng cường trang bị cho các hạm đội hải quân, cho phép lực lượng này duy trì sự kiểm soát với các lộ trình thương mại.

Giờ đây, các hoạt động của hải quân Trung Quốc đang khiến nhiều quốc gia láng giềng quan ngại. Không ít nước đã nỗ lực kiềm chế sự lớn mạnh trước khi Trung Quốc có thể bước vào một giai đoạn mới.

“Điểm hỏa” chủ chốt chính là Biển Đông. Đây là vùng biển có những hòn đảo giàu tài nguyên và xảy ra tình trạng cạnh tranh lớn trong tuyên bố chủ quyền từ rất nhiều nước như Trung Quốc, Brunei, Malaysia, Philippines…. Tuy nhiên, các nhà phân tích cho rằng, Trung Quốc đang hành động ít hợp tác nhất.

Tại hội nghị Ngoại trưởng ASEAN tháng 7 tổ chức ở Hà Nội, Việt Nam, Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton đã khiến các nhà lãnh đạo khu vực “hài lòng” khi chỉ trích việc “quấy nhiễu” các tàu nước ngoài của Trung Quốc. Bà còn khẳng định, giải pháp hòa bình cho tranh chấp ở Biển Đông là “lợi ích quốc gia” của Mỹ.

Tuy nhiên, Ngoại trưởng Trung Quốc Dương Khiết Trì lập tức phản bác bình luận của người đồng cấp Mỹ khi cho rằng, đó là “sự tấn công vào Trung Quốc” và phản đối quốc tế hóa vấn đề Biển Đông.

Những tranh luận giữa hai nước Trung – Mỹ xảy ra vào một thời điểm nhạy cảm: Mỹ và Hàn Quốc vừa hoàn thành gia đoạn tập trận hải quân kéo dài 4 ngày trên bán đảo Triều Tiên. Đây là cuộc tập trận quy mô lớn chưa từng thấy với sự tham gia của 20 tàu chiến, 200 máy bay, 8.000 binh lính và đặc biệt là sự góp mặt của một tàu sân bay hạt nhân Mỹ. Bắc Kinh dĩ nhiên không thể ngồi yên.

Cần chú ý là, trong năm nay tính đến thời điểm này, các cuộc tập trận của Trung Quốc đã gia tăng đáng kể. Nhật Bản hồi tháng 4 đã “than phiền” về chuyện hai tàu ngầm cùng 8 tàu khu trục Trung Quốc đi qua vùng biển của họ “khá bất ngờ”.

Còn trong tháng 3, một quan chức Mỹ liên quan tới chính sách Trung Quốc tiết lộ, quan chức Trung Quốc nói với hai quan chức cấp cao của chính quyền Obama là Jeffrey A.Bader và James B.Steinberg rằng, Trung Quốc không chấp nhận bất cứ sự can thiệp nào ở Biển Đông mà hiện nay họ tuyên bố là “lợi ích cốt lõi”.

Theo thông tin đăng trên trang nhất của tờ nhật báo Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA), ngày 26/7, hải quân Trung Quốc đã tiến hành cuộc tập trận bắn đạn thật quy mô lớn ở Biển Đông. Giám sát cuộc tập trận này có Tổng tham mưu trưởng quân đội Trung Quốc Trần Bỉnh Đức. Ông Đức cho biết, PLA đang theo dõi chặt chẽ các diễn biến và chuẩn bị “sẵn sàng cho các cuộc đụng độ quân sự lớn”.

Tờ Văn hối báo của Hong Kong dẫn quan điểm của các chuyên gia quân sự Bắc Kinh rằng, cuộc diễn tập và phát biểu của ông Đức cho thấy, PLA có thể sẽ dùng biện pháp quân sự về vấn đề Biển Đông trong tương lai, đồng thời cũng để thể hiện sức mạnh quân sự nhằm hậu thuẫn cho các biện pháp ngoại giao.

Ngày 30/7, trong một cuộc họp báo, người phát ngôn mới của Bộ Quốc phòng Trung Quốc Canh Diên Sinh tuyên bố, Trung Quốc có “chủ quyền không tranh cãi” với các đảo ở Biển Đông và vùng biển bao quanh. Tuy nhiên, ông này cũng không quên khẳng định rằng, Trung Quốc sẽ và luôn theo đuổi con đường phát triển hòa bình, hoàn toàn tuân thủ chính sách phòng thủ quốc phòng quốc gia. Trung Quốc sẽ không lao vào một cuộc chạy đua vũ trang hay đe dọa quân sự với nước khác.

Các diễn biến thực tế “thực sự đặt ra sự hoài nghi với các nước châu Á – Thái Bình Dương về tuyên bố phát triển hòa bình của Trung Quốc”, Abraham Denmark thuộc Trung tâm An ninh mới của Mỹ đánh giá.

Kết quả là, khu vực này giờ đây đang nỗ lực gia tăng hải quân, với mục tiêu là ít nhất hạn chế sức mạnh của Bắc Kinh. Nhật Bản lần đầu tiên trong 36 năm đã tăng cường hạm đội tàu ngầm; Singapore, Indonesia, và Australia cũng nhanh chóng tìm kiếm gia tăng trang bị quân sự…
Và với Mỹ, thách thức chính là chỗ tái tạo lại vai trò “giữ thăng bằng” ở châu Á. Hải quân Mỹ hiện đang có những bước đi quan trọng, nhằm thay đổi toàn bộ cục diện cán cân chiến lược đối với khu vực này, thông qua việc điều chỉnh lực lượng quân sự ở Nhật Bản, Hàn Quốc và căn cứ quân sự trên đảo Guam.

Trong tháng 6, Mỹ đã nhất trí mở rộng sự hiện diện của quân đội tại Hàn Quốc tới năm 2015. Gần đây nhất, bất chấp phản ứng của Trung Quốc khi cho rằng, kế hoạch tập trận chung Mỹ – Hàn là đe dọa ổn định khu vực, Washington vẫn “quyết tâm” điều tàu sân bay hạt nhân USS George Washington tham gia cuộc tập trận hải quân quy mô chưa từng có với Hàn Quốc.

Thái An (Theo Newsweek)
_________________________________________________

Posted in 1, Chính trị thế giới, Chuyện chính trị, Quốc phòng các nước | Tagged: , , | Leave a Comment »

“Tiếp sức” và “chảy máu”

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Tư 23, 2010

Bích Hằng

– Hai động từ này tưởng như không hề liên quan đến nhau, nhưng lại là 2 mặt của một thực trạng đang gây nhiều tranh cãi trong xã hội: Tình trạng học sinh tìm đường ra nước ngoài du học ngày một tăng.

Theo bản phúc trình thường niên Open Doors của Viện Giáo dục quốc tế Mỹ (IIE), năm 2009, Việt Nam đã lọt vào “top” 10 quốc gia có số lượng du học sinh đông nhất tại Mỹ (gần 13.000). Riêng năm 2009, số lượng du học sinh sang Mỹ tăng tới 46,2% (khoảng 4.000 người) và trong 10 năm qua, số lượng du học sinh Việt Nam sang Mỹ đã tăng hơn 8 lần.

Tại Australia, số lượng du học sinh Việt Nam còn đông đảo hơn: 23.400 người và Việt Nam cũng nằm trong “top” những nước có du học sinh đông nhất tại Australia. Số lượng học sinh Việt Nam ra nước ngoài sẽ còn tăng nhanh trong những năm tới.

Con số này đặt ra nhiều vấn đề phải suy nghĩ. Nhìn trực quan, có thể thấy đây là tin đáng mừng. Trước hết, nó là chỉ báo cho thấy kinh tế trong nước đang tăng trưởng tốt, đời sống người dân được cải thiện, thêm vào đó là tinh thần cầu tiến, truyền thống hiếu học của dân tộc vẫn âm thầm chảy trong huyết quản của những người trẻ tuổi. Nhưng từ một góc độ khác, đó là sự bứt phá, không chấp nhận một nền giáo dục đã không còn đáp ứng được yêu cầu.

Nguyên Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Trần Hồng Quân – khi trao đổi với phóng viên Báo Lao Động – đã đưa ra nhận xét: Thực trạng học sinh và cha mẹ tìm cách đưa con đi du học nước ngoài ngày một tăng, cho ta thấy một thực tế là giáo dục đào tạo trong nước đã không đáp ứng được yêu cầu của người học, của thị trường lao động cấp cao. Đó là biểu hiện có tính báo động, cho ta thấy đã đến lúc buộc phải chấn chỉnh giáo dục đại học…

GS Trần Hồng Quân giải thích: Chất lượng giáo dục liên quan đến rất nhiều yếu tố: Năng lực của hệ thống, đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất, nội dung giảng dạy… Ở ta, cả mấy yếu tố này đều chưa đạt, nếu không muốn nói là còn yếu kém. Bệnh thành tích, kiến thức nhồi nhét mà lại yếu kém về kỹ năng… đã khiến sản phẩm đào tạo trong nước cơ bản chưa đáp ứng được thị trường lao động trong nước và quốc tế.

Thực trạng này có nguyên nhân do đâu?

Đọc lại báo cáo của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội công bố tuần trước, có thể bắt gặp những con số giật mình: 11 năm qua, các trường đại học ở Việt Nam được thành lập một cách dễ dãi, vì thế đã có tới 300 trường đại học ra đời, đưa tổng số trường đại học, cao đẳng cả nước lên con số 400.

Về chất lượng đội ngũ giáo viên, báo cáo cũng chỉ rõ: Từ năm 1987 đến 2009, số sinh viên cả nước tăng tới 13 lần, nhưng số lượng giảng viên chỉ tăng gấp 3. 2/3 trong số 61.000 giảng viên chỉ có trình độ cử nhân (nghĩa là “mỡ nó rán nó” – PV). Với một nền tảng đào tạo như vậy, liệu có thể hy vọng rằng, thế hệ tương lai của ta sẽ có thể bứt phá?

Kỳ vọng vào sự “tiếp sức” từ những kiến thức, kỹ năng học được ở nước ngoài để tạo sức bật cho mai sau là một nhu cầu chính đáng của người học, đặc biệt trong bối cảnh thị trường giáo dục trong nước kém cạnh tranh. Nhưng mặt trái của nó là chảy máu ngoại tệ, chảy máu chất xám… và trước mắt, làm giảm động lực cải cách giáo dục…

Malaysia những năm trước cũng đã từng diễn ra tình trạng “chảy máu giáo dục” tương tự. Nhưng chỉ sau 10 năm tập trung vào cải cách giáo dục với những lựa chọn đúng hướng, số lượng sinh viên quốc tế đến Malaysia du học giờ đã đông hơn số lượng sinh viên Malaysia ra nước ngoài. Có lúc du học sinh quốc tế ở Malaysia lên tới 80.000 người – một thành công của cải cách giáo dục ở rất gần ta, thiết nghĩ chúng ta cũng nên tham khảo…

_______________________________________________________

Posted in 1, Chuyện giáo dục, Giáo dục Việt Nam | Tagged: , , | Leave a Comment »

Quy hoạch Hà Nội không được để nhóm lợi ích chi phối

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Tư 23, 2010

Cao Nhật

Lãnh đạo Hà Nội phải dám chịu trách nhiệm đưa ra những quyết định không bị tác động bởi các nhóm lợi ích – ý kiến của nguyên Phó Chủ tịch UBND TP Hà Nội Nguyễn Mại.

Thông tấn xã Việt Nam đưa tin, hôm qua (2/4), Thường trực HĐND TP Hà Nội tổ chức hội nghị xin ý kiến các nhà khoa học về Chiến lược và quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội Thủ đô Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn 2050.

“Còi xương”

Đa phần các nhà khoa học đánh giá bản dự thảo đã được chuẩn bị công phu, tâm huyết. Tuy nhiên, bộ phận soạn thảo cả hai đồ án đều chưa bám sát phân tích kỹ bối cảnh kinh tế và xã hội hiện thời của cả nước và của Hà Nội, đặc biệt các giải pháp đưa ra chưa thuyết phục.
Ước tính dân số năm 2010 của Hà Nội là 6,6 triệu dân, dự báo năm 2020 là 8,5 triệu, năm 2030 là 10,9 triệu nhưng theo ý kiến của nguyên Hiệu trưởng Đại học Kiến trúc Hà Nội Trần Trọng Hanh, việc dự báo dân số theo phương pháp tăng trưởng cho Thủ đô là không hợp lý.
“Sự phát triển nóng, khó kiểm soát dẫn đến sự xuất hiện bệnh “đầu to”, “còi xương”, và “siêu thành phố”, trái với những mong đợi về một thủ đô xanh, sinh thái, bền vững và mỹ quan. Tóm lại, Thủ đô phải lớn về mặt chất lượng”, ông Hanh nhấn mạnh
Về mặt thể chế, ông Hanh cho rằng cần xác định lại vị trí của Thủ đô Hà Nội như một “đặc khu kinh tế – hành chính”, có quyền tự chủ, tự quyết các vấn đề lớn, tránh tình trạng bị lệ thuộc quá nhiều vào các bộ, ngành như hiện nay làm cản trở quá trình phát triển, đổi mới của Thủ đô.
Với quan điểm này, theo ông Trần Trọng Hanh, Bí thư Thành ủy và Chủ tịch UBND TP phải được tuyển cử, bầu chọn đúng người kiệt xuất, có uy tín, bản lĩnh và đủ năng lực để dẫn dắt chiến lược quy hoạch tổng thể kinh tế – xã hội sớm trở thành hiện thực.
Còn theo Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam Trần Đình Thiên, trước hết phải định vị Hà Nội năm 2030, 2050 ra sao, cái gì được coi là đặc sắc của Thành phố. Hà Nội cần phải được thể hiện có tầm văn hóa, phải có bản sắc riêng.
Ông cho rằng, Chiến lược phát triển và Quy hoạch phát triển chưa có điểm nhấn phát triển cho Hà Nội. Phần giải pháp thực hiện được đề cập chưa cụ thể, chưa thuyết phục và thiếu tính sáng tạo.
Nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu phát triển kinh tế thương mại Nguyễn Văn Nam thắc mắc: “Tiềm năng lớn nhất của Hà Nội là trí tuệ, là con người. Tại sao không phát huy, khai thác “mỏ vàng” đó cho Hà Nội?”.
Không thể coi Hà Nội như mọi địa phương khác, khép kín tự lực mà phải là “Hà Nội mở”, trước hết là mở chính sách, mở tấm lòng thu hút trí tuệ, thu hút nhân tài xây dựng Thủ đô.
“Hà Nội cần một sự chuyển mình thật sự, thay đổi thực sự từ nhận thức, tư duy đến tổ chức hành động, từ người lãnh đạo cao nhất đến từng nhân viên cơ quan”, ông Nam nhấn mạnh.

Kiểm soát bằng công cụ hành chính sẽ thất bại

Nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Đặng Hùng Võ cho rằng cần nói tới tàn dư của cơ chế bao cấp còn tồn tại đáng kể trong tư duy lãnh đạo ở nhiều cấp, ngành như một điểm hạn chế cần lưu tâm.
Ông dẫn ví dụ: Ai cũng biết tình trạng di dân cơ học từ nông thôn ra các đô thị lớn, trong đó có Hà Nội, luôn gây ra áp lực lớn lên quá trình phát triển. Vấn đề là dùng giải pháp nào để khắc phục, kiểm soát hành chính để ngăn chặn hay điều tiết kinh tế trong thị trường để hạn chế.
“Hiện nay Hà Nội vẫn đang hướng theo cách sử dụng công cụ hành chính để kiểm soát, tôi tin rằng cách này sẽ không thành công”, ông Đăng Hùng Võ khẳng định.
Chia sẻ với ông Võ, nguyên Phó Chủ tịch UBND TP Hà Nội Nguyễn Mại nhận định cái khó của việc xây dựng chiến lược hay quy hoạch phát triển là cách tiếp cận vấn đề.
Theo ông, cho đến nay ở nước ta vẫn thường làm theo cách đánh giá tình hình thực hiện trên cơ sở so sánh với các chỉ tiêu kế hoạch, nêu lên một số nhận định chung về thế giới và trong nước rồi vạch ra định hướng và chỉ tiêu phát triển.
Chúng ta cần tiếp cận theo phương pháp mới, theo đó khi đánh giá thực trạng tình hình kinh tế -xã hội của Thủ đô 2001-2010 không chỉ so với các chỉ tiêu kế hoạch, mà chủ yếu so với khả năng các nguồn lực mà Hà Nội có thể huy động và sử dụng có hiệu quả hơn. Theo ông, “chúng ta cần so sánh Thủ đô với vài thành phố lớn trong khu vực để đo lường trong cùng một khoảng thời gian vì sao Hà Nội phát triển chậm hơn”.
Ông cũng dẫn chứng Tokyo chỉ sau 15 năm sau chiến tranh từ đống tro tàn biến thành thủ đô của 12 triệu người sánh ngang New York, Quảng Châu mất 10 năm để vượt Bangkok. 3 năm là thời gian để xây dựng cơ bản Thủ đô hành chính tráng lệ của Malaysia.
Ông Mại cũng nhắc lại việc cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt khởi xướng 3 dự án trọng điểm quốc gia với quyết tâm tạo nên bộ mặt mới của đất nước: khu công nghệ cao Hòa Lạc, khu đại học Quốc gia và đường cao tốc Láng – Hòa Lạc.
“12 năm kể từ ngày ông ký quyết định về 3 dự án đó, đến nay chưa có dự án nào hoàn thành. Không thể kể hết sự lãng phí do kéo dài thời gian thực hiện và cũng chẳng ai chịu trách nhiệm trước nhân dân về tình trạng đó”, GS Nguyễn Mại nói.
Theo ông, tư duy phát triển đô thị hiện đại cần trở thành nền tảng nhận thức và quan điểm phát triển Hà Nội trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội thời gian tới.
Trên cơ sở cách tiếp cận đó, các mục tiêu trong từng giai đoạn xây dựng Hà Nội thành thủ đô văn minh, hiện đại sẽ được thực hiện như thế nào tùy thuộc vào việc lựa chọn mô hình phát triển và lộ trình thực hiện mô hình đó.
“Điều này đòi hỏi các nhà lãnh đạo của Hà Nội phải biết lựa chọn trọng tâm và trọng điểm, phải dám chịu trách nhiệm đưa ra những quyết định không bị tác động bởi các nhóm lợi ích, những người có quyền lực cao hơn, hoặc đôi khi để thỏa mãn ý đồ cá nhân”, nguyên Phó Chủ tịch Hà Nội nói.

____________________________________

Posted in 1, Chuyện đô thị, Chuyện đất nước | Tagged: , , | Leave a Comment »

Xóm ghe mắc tả: Lần đầu tiên vui thế này!

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Tư 22, 2010

Phan Tú

– Người dân xóm chài – nơi ngụ cư của hai bố con anh Trần Văn Em và cháu Trần Văn Lợi vẫn không hề tỏ ra lo lắng trước dịch bệnh, trái lại, họ còn cảm thấy: “Xóm ghe lần đầu tiên… vui thế này”.

Phát bệnh từ tô hủ tiếu?

Ngày 19/4/2010, Sở Y tế TP.HCM công bố thêm hai ca nhiễm phẩy khuẩn tả hiện đang sống trên ghe: hai bố con anh Trần Văn Em (25 tuổi) và Trần Văn Lợi (18 tháng tuổi), hiện ngụ tại xóm ghe, cập bến ở đường Trần Xuân Soạn, khu phố 5, phường Tân Thuận Tây, quận 7.
Chiều 20/4, không khí xóm ghe vẫn yên ắng như thường ngày. Chỉ có vài đứa trẻ nghịch đùa ven bờ sông. Người lớn đã đi kiếm sống hoặc đang ngủ.
Hầu hết chủ nhân của những chiếc ghe này đều là dân ngoại tỉnh lên TP.HCM làm thuê kiếm sống. Những chiếc ghe rách nát, nằm chòng chành – buồn như những phận người nơi đây.
Người phụ nữ duy nhất mà chúng tôi gặp là chị Lê Thị Thúy, chị vợ của anh Trần Văn Em. “Lên để nói chuyện với các anh, các chú (đội dân quân tự vệ được phường cắt cử trực -PV). Xóm ghe lần đầu tiên… vui thế này”
Chị Thúy kể lại: Sáng 14, anh Em có đi ăn hủ tiếu, sau đó uống một chai sữa đậu nành. 1 tiếng sau, anh đau bụng đi cầu rồi ói mửa liên tục. Thấy vậy, chồng chị Thúy đưa anh đến Bệnh viện quận 7. Sau khi cho thuốc, anh Em ra về. Nhưng chưa đầy nửa tiếng sau, anh Em lại tiếp tục ói mửa đến bất tỉnh. Anh Em tiếp tục được đưa đến Bệnh viện quận 7. Sáng 15/5, anh Trần Văn Em được chuyển lên Bệnh viện Nhân dân 115.
Trước đó, ngày 13/4, con trai út của anh là Trần Văn Lợi, 18 tháng tuổi cũng có những biểu hiện như ói mửa, tiêu chảy. “Tuy vậy, rất may, ngay ngày hôm sau, cháu đã đỡ nhiều và dần khỏi hẳn”, chị Thúy cho biết.
Vợ chồng anh Trần Văn Em mới từ Trà Vinh chuyển lên TP.HCM được gần 1 tháng. Hoàn cảnh khó khăn, vợ chồng anh cùng 3 đứa con phải ở nhờ ghe của gia đình chị vợ Lê Thị Thúy. Hàng ngày, anh Em đi phụ hồ. Vợ ở nhà trông con.
Trưa 19/4, 3 đứa con của vợ chồng anh Em đã được bà nội đưa về Trà Vinh chăm sóc.

Có người bị tả nên mới được “đi” sạch thế này!

Ông Trần Văn Lòng, Công ty dịch vụ công ích quận 7 cho biết: từ tối 18/4, công ty đã đặt bình nước lớn chứa 5000 lít nước cấp miễn phí cho các chủ ghe tại điểm xảy ra dịch tả. Một hệ thống nhà vệ sinh công cộng cũng đã được đặt tại đây.
Ban chỉ huy quân sự phường Tân Thuận Tây đã cắt cử 10 người luân phiên nhau trực 24/24 tại khu vực này.
Tuy vậy, theo ông Lòng, số người sử dụng nhà vệ sinh chỉ đếm trên đầu ngón tay. “Có lẽ một phần do ban ngày, tất cả đều đi làm đến tối mịt”, ông Trần Văn Lòng lý giải.

Chị Lê Thị Thúy bày tỏ: “Vui lắm. Chưa bao giờ gia đình tui được “đi” nhà vệ sinh sạch thế này”.
“Bọn tui thích lắm, nhưng liệu có được dùng nước miễn phí thế này mãi không”, vừa cầm ống nước cho chồng tắm, bà Lê Thị Đẹp băn khoăn.
Có nước sạch, có nhà vệ sinh hợp chuẩn, nhưng với môi trường sống như ở xóm ghe này, liệu nguy cơ tiềm ẩn lây lan bệnh tả đã được chặn đứng? Và những người dân ở xóm ghe vẫn di chuyển vào thành phố làm ăn, họ có mầm bệnh trong người hay không?-Những câu hỏi này cần gấp rút trả lời.

[Gấp rút kiểm soát dịch bệnh tiêu chảy cấp khu vực biên giới

Trước nguy cơ dịch tiêu chảy cấp nguy hiểm do phẩy khuẩn tả gây ra có thể xâm nhập vào tỉnh Bình Phước, đặc biệt qua biên giới giáp với Campuchia, Trung tâm y tế dự phòng tỉnh Bình Phước đã thành lập khoa kiểm dịch y tế biên giới đường bộ với 4 cán bộ y tế tại Cửa khẩu quốc tế Hoa Lư (huyện Lộc Ninh), tiến hành kiểm tra tất cả các phương tiện, người, lương thực thực phẩm qua lại biên giới, đồng thời xây dựng phòng cách ly tại cửa khẩu với 5 giường bệnh.

Đối với các huyện, thị trong tỉnh, tỉnh Bình Phước đã quyết định thành lập mỗi huyện, thị 2 đội phòng chống dịch, hoạt động thường trực được trang bị phương tiện, hóa chất, thuốc men, vaccine… khi có dịch sẵn sàng xử lý.

Tại An Giang, cho biết đến nay Bệnh viện Đa khoa huyện An Phú đã tiếp nhận điều trị 225 trường hợp tiêu chảy cấp, trong đó có năm bệnh nhân tả. Còn trong số 28 bệnh nhân Campuchia sang điều trị có 12 ca bệnh tả.

Ngoài tăng cường công tác kiểm dịch ở các khu vực cửa khẩu, ngành y tế An Giang đã tích cực giúp phía bạn trong việc phòng chống bệnh tả.]

__________________________________________

Posted in 1, Chuyện xã hội, Chuyện đất nước, Chuyện đời sống | Tagged: , , | Leave a Comment »

ĐỪNG TÙY TIỆN ĐỔI MỚI TIẾNG VIỆT!

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Ba 30, 2010

Lê Đình Tư
(Bài đã đăng trong Tạp chí Tri thức trẻ)

Việc bổ sung từ ngữ cho tiếng Việt bằng cách vay mượn từ ngữ tiếng nước ngoài đương nhiên là một việc bình thường như đối với mọi ngôn ngữ khác, khi sự vay mượn đó là cần thiết, nghĩa là khi trong tiếng Việt chưa có các từ ngữ để biểu thị những khái niệm mới. Chính vì vậy, quá trình tiếp xúc giữa tiếng Việt và các ngôn ngữ khác thường để lại những dấu ấn trong hệ thống từ vựng tiếng Việt. Đó là sự hiện diện của lớp từ vựng vay mượn hay còn gọi là từ vựng ngoại lai. Quá trình vay mượn từ ngữ của các thứ tiếng khác trong tiếng Việt đã diễn ra ngay từ thời kì xa xưa, trong giai đoạn nó đang hình thành, rồi về sau nó tiếp tục được bổ sung thêm vốn từ ngữ vay mượn của tiếng Hán và các thứ tiếng châu Âu hoặc châu Á khác. Đó là do vị trí địa-chính trị đặc biệt của Việt Nam, một trong số ít những quốc gia trên thế giới đã trở thành nơi hội tụ, gặp gỡ của nhiều tinh thần văn hóa-chính trị khác nhau, trong đó sự gặp gỡ của tiếng Việt với các ngôn ngữ thuộc những loại hình khác nhau là một trong những yếu tố gây tác động mạnh mẽ nhất đến đời sống xã hội của cộng đồng người Việt. Trong hệ thống tiếng Việt, chúng ta có thể quan sát thấy những ảnh hưởng của một loạt ngôn ngữ như: tiếng Trung (tiếng Hán), tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng Hàn, tiếng Khơme, tiếng Nhật, tiếng Thái… Dấu tích cụ thể của những ảnh hưởng đó là một tỉ lệ lớn các từ ngoại lai mượn của các ngôn ngữ thuộc những loại hình khác nhau trong tiếng Việt. Nhìn bề ngoài và nếu chỉ xét riêng về tỉ lệ các từ ngoại lai, người ta có thể coi tiếng Việt bản địa chỉ là dấu tích còn lại của một thứ tiếng Việt xa xưa, bởi vì tổng cộng có tới khoảng 60-80% đơn vị từ vựng trong thứ tiếng này là từ vay mượn của các ngôn ngữ khác. Tuy nhiên, tình hình thực tế không cho phép chúng ta khẳng định điều đó, vì đa số các từ ngoại lai trong tiếng Việt không còn mang những nét đặc trưng của các ngôn ngữ gốc mà chủ yếu mang những nét đặc trưng (ngữ âm, ngữ nghĩa và ngữ pháp) của tiếng Việt. Đó là do chúng đã được Việt hóa hóa cao độ để hoàn toàn phù hợp với hệ thống của tiếng Việt, khiến cho người Việt trong nhiều trường hợp không nhận ra tính chất ngoại lai của chúng. Ngày nay, có lẽ ít người Việt nào lại nghĩ là từ (cái) đầu, (căn) buồng là từ vay mượn của tiếng Hán hay (nhà) ga, (cái) phanh là từ mượn của tiếng Pháp.

Việt hóa các yếu tố ngoại lai diễn ra trên tất cả các phương diện: ngữ âm, từ vị và ngữ pháp. Về mặt ngữ âm chẳng hạn, sự Việt hóa đã tạo cho các yếu tố ngoại lai diện mạo của những đơn vị từ vựng tiếng Việt, khiến cho sự tồn tại của chúng trong tiếng Việt không phá vỡ tính hệ thống của nó, nghĩa là làm cho người Việt bình thường khi nghe từ ngoại lai không cảm thấy “chướng tai” và tự mình có thể nói hay đọc được các từ ngữ đó mà không cảm thấy “ngượng giọng”. Một cụm từ tiếng Anh không được Việt hóa như live show sẽ phá vỡ hệ thống ngữ âm của tiếng Việt và gây khó khăn cho đại đa số người Việt trong khi nghe cũng như khi nói.

Trên phương diện ngữ pháp, việc vay mượn rất ít khi xảy ra. Sỡ dĩ như vậy là vì ngữ pháp chính là cái phần quan trọng nhất quyết định ngôn ngữ này hay ngôn ngữ kia là một ngôn ngữ độc lập hay chỉ là một biến thể địa phương của một ngôn ngữ nào đó. Chẳng hạn, nếu xét về phương diện phát âm và từ vựng thì giữa các phương ngữ Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ có sự khác biệt khá lớn, nhưng do không có sự khác biệt đáng kể nào về mặt ngữ pháp giữa các phương ngữ đó nên người Việt sống ở các vùng miền khác nhau trên đất nước Việt Nam vẫn hiểu được nhau. Giả dụ, với sự khác biệt về ngữ âm và từ vựng của mình, nếu tiếng Trung Bộ có cấu trúc ngữ pháp khác với tiếng Việt phổ thông mà giống với cấu trúc của tiếng Anh thì tiếng nói đó chẳng người Việt nào ở những vùng khác hiểu được. Ví dụ: Nếu người Trung Bộ nói: “Rứa chi mần bọ?” thì người vùng khác sẽ nghĩ có lẽ đây là một thứ tiếng nước ngoài. Chính nhờ cái hệ thống ngữ pháp chung cho tất cả các tiếng địa phương mà người Việt ở đâu cũng hiểu được nhau, và do đó, tiếng nói của các cư dân địa phương khác nhau chỉ được coi là phương ngữ của tiếng Việt chứ không phải là những ngôn ngữ độc lập. Như vậy, việc đưa các cấu trúc ngữ pháp của một ngôn ngữ nào đó vào tiếng Việt để “đổi mới” tiếng Việt sẽ có hậu quả tai hại hơn nhiều so với việc vay mượn từ ngữ, bởi vì điều đó có thể dẫn đến nguy cơ biến tiếng Việt thành một phương ngữ của một ngôn ngữ ngữ khác, hoặc chí ít cũng làm cho người Việt không hiểu được nhau hoặc hiểu sai nhau. Với hơn 60% từ ngữ vay mượn của tiếng Hán (tiếng Trung), nếu tiếng Việt “nhập khẩu” thêm các cấu trúc ngữ pháp (cấu trúc ngược) của tiếng Hán thì chắc chắn ngày nay tiếng Việt sẽ được coi là một phương ngữ của tiếng Hán. Cho nên, các thế cha ông người Việt xưa kia thực sự là những nhà thông thái, khi sau hơn một ngàn năm Bắc thuộc vẫn bảo vệ được tiếng Việt khỏi sự diệt vong.

Đương nhiên, đôi khi sự vay mượn cấu trúc tiếng nước ngoài vẫn xảy ra trong tiếng Việt. Đó là sự vay mượn các cấu trúc theo kiểu mô phỏng, nhưng đó thường là những cấu trúc có nhiều điểm giống với cấu trúc của tiếng Việt. Dẫu vậy, ngay cả trong những trường hợp này, người ta vẫn phải Việt hóa các cấu trúc cho phù hợp với hệ thống ngữ pháp tiếng Việt. Chẳng hạn, tuy mô phỏng cấu trúc thành ngữ của tiếng Anh là “To be armed to the teeth”, nhưng tiếng Việt không nói hoàn toàn theo ngữ pháp tiếng Anh là “được vũ trang đến những cái răng” mà nói là “được vũ trang đến tận răng”, Chính việc sử dụng cái từ “tận” rất Việt và từ “răng” mang sẵn ý nghĩa tập hợp (= những cái răng) đã khiến chúng ta cảm thấy thành ngữ này không “Tây” một chút nào. Vì vậy, có thể nói rằng, nguyên tắc Việt hóa các yếu tố vay mượn của tiếng nước ngoài phải được tuân thủ trên tất cả các cấp độ của tiếng Việt.

Như tôi đã viết (xem thêm Tri thức trẻ, số 234-246), cấu trúc “X đến từ Y.” vi phạm trật tự bình thường của cấu trúc ngữ pháp tiếng Việt. Người Việt coi trật tự của các từ như vậy là trật tự nghịch. Nếu kết hợp các từ theo một trật tự nghịch thì người Việt hoặc là không hiểu hoặc là có thể hiểu theo nghĩa khác, hay ít nhất cũng cảm thấy chướng tai. Chẳng hạn, nếu một người Việt nói thế này: “Tôi vừa mới đến từ còng” thì đa số người nghe sẽ hiểu là: “Tôi vừa mới đến Từ Còng”, chứ ít ai hiểu là: “Tôi vừa mới từ Còng đến.”. Đó là do áp lực của cấu trúc thuận trong tiếng Việt. Hơn nữa, vì động từ đến vốn là cách nói rút gọn của cụm động từ đi đến, trong đó đến là từ chỉ phương hướng hay điểm đích của động từ chuyển động đi, nên không bao giờ từ và đến đi liền với nhau. Vì vậy, việc “cách tân” hay “hiện đại hóa” tiếng Việt bằng cách “nhập khẩu” cấu trúc nghịch của tiếng Anh cộng với sự kết hợp những yếu tố không thể kết hợp trực tiếp với nhau sẽ phá vỡ hệ thống ngữ pháp của tiếng Việt.

Việc sử dụng một yếu tố nào đó của tiếng Việt đương nhiên phải dựa vào ý nghĩa thực sự của yếu tố đó trong tiếng Việt. Không thể căn cứ vào ý nghĩa của một từ tương đương trong một ngôn ngữ khác để biện mình cho cách dịch của một cá nhân nào đó. Động từ đến trong tiếng Việt luôn luôn bao hàm ý nghĩa “di chuyển”, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của một số cá nhân biết tiếng Anh, do đó không thể căn cứ vào ý nghĩa của từ to come trong tiếng Anh để giải thích rằng “Anh ta đến từ Việt Nam” có ý nghĩa giống như “Anh ta là người Việt Nam” hay “Anh ta quê ở Việt Nam”, nghĩa là phủ nhận ý nghĩa “di chuyển” của động từ đến của tiếng Việt. Người Việt bình thường không cần biết động từ to come trong tiếng Anh có ý nghĩa gì. Cho nên, việc căn cứ vào ý nghĩa của động từ này trong tiếng Anh để gây áp lực đối với cách hiểu ý nghĩa của từ đến trong tiếng Việt là một việc làm phi lí mà chỉ có những người quá tôn sùng tiếng nước ngoài mới có thể nghĩ tới. Chỉ có thể hiểu được sự phi lí đó, nếu chúng ta tự đặt câu hỏi: Liệu chúng ta có thể “hiện đại hóa” tiếng Anh bằng cách nói: “He from Vietnam comes.” (= Anh ta từ Việt Nam đến) để thay cho cách nói cũ kĩ: “He comes from Vietnam.” (= Anh ta đến từ Việt Nam) được không?

Đương nhiên, ở đây còn phải nghĩ tới một vấn đề lớn hơn: Ai có thẩm quyền quyết định việc “đổi mới” hay “hiện đại hóa” tiếng Việt? Nếu mỗi cá nhân biết một ngoại ngữ nào đó chốc chốc lại “nhập khẩu” một cấu trúc của tiếng nước ngoài thì chẳng bao lâu nữa tiếng Việt sẽ biến mất giống như hàng trăm ngôn ngữ khác trên thế.

Các thế cha ông người Việt xưa kia đã bảo vệ thành công tiếng Việt khỏi sự diệt vong. Các thế hệ những dịch giả tên tuổi đã thực sự lao tâm khổ tứ để các câu văn dịch của họ hoàn toàn không chút pha tạp, mặc dù họ đã tạo ra được rất nhiều cấu trúc mới cho tiếng Việt, làm cho tiếng Việt trở thành một ngôn ngữ hiện đại như ngày nay. Họ không mắc sai lầm vì tránh được sự phụ thuộc vào cấu trúc tiếng nước ngoài. Họ đã làm chủ được cái “thần” của tiếng Việt và ngoại ngữ. Còn ngày nay, chúng ta đang bê nguyên xi từ ngữ và cấu trúc tiếng nước ngoài vào tiếng mẹ đẻ. Điều đó không chỉ nói lên thái độ làm việc mà còn nói lên sự thiếu hiểu biết về cái công cụ giao tiếp quan trọng nhất của người Việt Nam là tiếng mẹ đẻ. Với quan niệm “hiện đại hóa” ngôn ngữ như hiện nay, liệu một vài chục năm nữa, các thế hệ sau có còn nói: “Tôi có hai người bạn.” hoặc “Tôi chỉ có hai người bạn”, hay là sẽ nói: “Tôi có bạn hai người.” hoặc: “Tôi có hai người bạn chỉ.”?

________________________________________________

Posted in 1, Chuyện tiếng Việt | Tagged: , , | Leave a Comment »

Những cuộc truy sát đẫm máu nơi cổng trường

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Ba 23, 2010

Ngọc Thực

Những cuộc ẩu đả kiểu xã hội đen nơi cổng trường không phải hiếm, tiếc là nạn nhân của những vụ ẩu đả đó nhiều khi lại là những học sinh ngoan hiền…

Hoảng hồn vì bị truy sát vô cớ

Ngày 18/3, nằm trong phòng hậu phẫu sau khi bị truy sát ngay trước cổng trường, cậu học sinh Nguyễn Minh Tú, lớp 11D6 – Trường THDL Victoria Hoàng Diệu, HN còn chưa hết hoảng hồn. Tú bị dính nhát chém dài 12cm, sâu tới xương. Các bác sĩ đã phải phẫu thuật nối gân, cơ điều khiển ở tay cho Tú.

Luôn túc trực cạnh em là hai bậc sinh thành không giấu nổi vẻ lo lắng. Tú run run kể lại cuộc truy sát kinh hoàng đó: Khoảng 12h ngày 17/3, Tú đang cùng bạn bè trong lớp ngồi ở quán nước chè ở ngay cổng trường thì có 2 thanh niên đội mũ, một người cầm dao tông, 1 người cầm ống tuýp nước tiến đến hất hàm hỏi: “Đạt là thằng nào?”.

Thấy anh ta có hung khí, nhóm học sinh hoảng quá bỏ chạy tán loạn. Trong lúc luýnh quýnh vấp ngã, Tú bị gã thanh niên chém một nhát vào tay. Một cậu bạn khác cũng bị chém, nhưng vì né được nên chỉ bị chém rách ống quần.

Cậu học sinh hồn nhiên cho biết: “Ban đầu, em không biết chuyện gì, thấy các bạn chạy em cũng chạy. Khi bị chém em mới nhìn rõ một trong hai người đuổi chém em có một cậu là học sinh lớp 10A1 cùng trường”

Theo lời của Tú, cách đây khoảng 4 tháng, cậu này có mâu thuẫn với Đạt, học cùng lớp với Tú. Khi thầy cô giáo và ban phụ huynh hòa giải, hai bên đã bắt tay giảng hòa.

Anh Nguyễn Huy Minh, bố của Tú nói: “Mọi ngày, 11h30 là tôi ra cổng trường đón con. Đúng hôm tôi đi công tác, không đón được con thì xảy ra chuyện”.

Bị truy sát, nằm trên giường bệnh, Tú vẫn còn cơ hội kể lại mọi chuyện, còn trong câu chuyện dưới đây, một cậu học sinh ngoan đã chết oan uổng, cậu không có cơ hội để kể lại toàn bộ sự việc xảy ra. Sau cái chết của cậu con trai, mẹ cậu hóa điên vì không chịu nổi cú sốc.

Người mẹ hóa điên vì cái chết của con

Hôm đó, vào ngày 25 và 26/11/2008, TAND TP Hà Nội chứng kiến một bà mẹ đau khổ gào thét gọi tên con rồi ngất lịm đi, trước vành móng ngựa là 10 cậu học sinh mặt còn non nớt.
Vì mâu thuẫn tranh nhau cái ghế nhựa lúc chào cờ, Lưu Danh Thắng, học sinh lớp 12A6 trường THPT Đại Mỗ, Từ Liêm, HN đã rủ nhóm bạn của mình mang theo tuýp nước và dao tông đi trả thù bạn cùng trường là Phạm Ngọc Vũ, lớp 12 A5.
Nhìn thấy Vũ vừa ra khỏi cổng trường, nhóm của Thắng xông vào đánh nhau với Vũ. Bị đánh và chém bất ngờ, xung quanh không ai cứu giúp, Vũ ôm vết thương bỏ chạy vào trường thì gục ngã. Ngay sau đó, Vũ đã được đưa đi cấp cứu, nhưng em đã không qua khỏi bởi những vết thương quá hiểm.
Cái chết thương tâm của cậu con trai đang ở cái tuổi “bẻ gãy sừng trâu” đã khiến bà mẹ như phát điên phát dại, gia đình phải chạy chữa hết Đông y đến Tây Y nhiều tháng liền bà mới đỡ bệnh.

3 tháng liền nằm liệt giường sau cái chết của con, ngày nào, vào giờ con đi học về, người mẹ cũng ra cửa đứng ngóng, bất kể trời nắng cũng như mưa. Có hôm thấy vợ đầu trần, đứng như trời trồng giữa mưa ngóng con, bố của Vũ chạy ra kéo chị vào, tim anh như quặn thắt. “Đã mất con, tôi chỉ lo mất luôn cả vợ”, người bố đau đớn nói trong nước mắt .

Là con út trong gia đình có 5 anh chị em, gia đình Vũ khá giả nên đều lo cho các con ăn học đến nơi đến chốn. Vốn yêu thích môn tự nhiên, Vũ ước ao được vào học tại trường Đại học Bách Khoa. Nhà có xưởng dệt, hàng ngày Vũ hay mầy mò thiết kế những hoa văn trên máy vi tính để vẽ nhiều mẫu hoa văn cho những sản phẩm của gia đình.

Ngậm ngùi kể về cậu con trai, bố em Vũ nói: “Nó hiền và ngoan lắm, đi học về là về nhà giúp gia đình thiết kế những mẫu hoa văn cho những sản phẩm dệt của gia đình. Có ít tiền nó vẫn hay thích dùng tiền để làm từ thiện…. Thằng bé hiền lành là thế…”

Trong phiên sơ thẩm xét xử 10 cậu học trò vì tội Giết người, HĐXX tuyên phạt hơn 100 năm tù giam cho 10 tội đồ áo trắng. Dù mức án có nghiêm khắc đến chừng nào, nó cũng không làm vơi bớt nỗi buồn của người cha và làm cho người mẹ đau khổ có thể chấm dứt những cơn điên loạn vì con…

______________________________________________________

Posted in 1, Chuyện an ninh, Chuyện giáo dục | Tagged: , , | Leave a Comment »

Không thể để cái chợ ‘ăn cắp’ cạnh di tích tâm linh!

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Ba 22, 2010

Kiên Trung

Chợ trời là một trong những hình thức thương mại của người Việt Nam đã có mặt trong đời sống xã hội từ nhiều năm nay. Tuy nhiên, nếu không kịp thời quản lý thì nó tiềm ẩn nhiều nguy cơ của một thứ văn hóa xấu xí trong đời sống sinh hoạt của người Việt.

Tư cách chợ trời, có hay không?

Có thể kể tên những chợ trời đang hình thành phổ biến ở Hà Nội thời điểm hiện tại và đã trở thành địa chỉ quen thuộc của người dân Thủ đô: chợ trời đê La Thành (cách trường Đại học Văn hóa chừng 500 mét); chợ trời ngã tư Kim Liên – Đại Cồ Việt họp lúc nhập nhoạng sáng; chợ trời phố Huế – Chùa Vua; chợ trời Nghi Tàm – Quảng Bá; chợ “si-đa” dọc tuyến phố Kim Liên – Xã Đàn…

Thời điểm “hoàng kim” của chợ trời Kim Liên có thể tính vào quãng những năm 2000. Khi đó, nút giao thông Kim Liên vẫn còn là điểm giao của hai tuyến phố Kim Liên – Đại Cồ Việt và Lê Duẩn – Giải Phóng. Ngã tư lúc đó chưa rộng thênh thang như bây giờ nhưng nó liền mạch và không bị chia cắt bởi nhiều hướng đường, nên nó có tầm quan trọng huyết mạch và là địa chỉ gần như duy nhất của những người có nhu cầu sử dụng hàng cũ giá rẻ. Điều quan trọng khác như đã nói, vì chưa có “đại dịch” hàng đại hạ giá tràn lan như hiện nay, nên chợ trời Kim Liên vẫn là nguồn mưu sinh của rất nhiều người buôn bán nhỏ lẻ.

Bà Nguyễn Thị T, một chủ hàng lâu năm tại chợ trời Kim Liên bắt đầu buôn bán nhỏ lẻ của mình ở chợ trời Kim Liên bằng mặt hàng giày dép. Và đó cũng là mặt hàng chủ yếu của chợ trời này. Hỏi về “nguồn hàng”, bà giấu nhẹm, bởi đấy là “bí quyết nghề nghiệp”. Những bỡ ngỡ của giai đoạn ban đầu qua đi, thấy làm ăn cũng được, bà về quê huy động chồng con, rủ rê thêm cả họ hàng lên gia nhập đội quân “chợ trời”.

“Có cả một khu vực toàn những người buôn bán chợ trời Kim Liên cùng thuê trọ. Buôn có bạn, bán có phường. Nếu không đoàn kết, không liên kết với nhau thì không sống được, vì chúng tôi tất thảy đều là dân quê lên…”, bà T. thực thà.

“Chen” được một chân vào chợ, cũng là cả một quá trình, dù lòng đường, hè phố nửa đêm về sáng chẳng phải của riêng ai, và thời gian đó cũng không lo lắng lắm đến chuyện bị các anh công an, trật tự phường xuống dẹp.

Bà T. thừa nhận, rằng người ta nói chợ trời là nơi tiêu thụ hàng “nhảy”, hàng ăn cắp… là đúng. Tuy nhiên, để sống được với nghề, thì cần phải làm ăn chân chính.

Thay đổi bộ mặt HN trước sinh nhật 1000 năm?

Bài toán quản lý chợ trời, chợ tạm, chợ tự phát – là nhiệm vụ của các cơ quan chức năng. Thế nhưng, “mượn cớ” đại lễ 1000 năm mừng tuổi Hà Nội, người ta không thể không thắc mắc: quy hoạch và quản lý những khu chợ kiểu đó bằng cách nào để gương mặt Thủ đô bừng sáng hơn trước ngày Đại lễ?

Họa sỹ Phan Cẩm Thượng cho rằng, chúng ta chưa có được “văn hóa mua bán”, ngay ở những trung tâm thương mại hiện đại như các siêu thị, khách hàng vẫn bị các nhà phân phối trà trộn hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng bằng cách dán đè tem lên sản phẩm để qua mặt người tiêu dùng…, hay vẫn có những khách hàng bị nhân viên một vài siêu thị xúc phạm danh dự và nhân phẩm chỉ vì nghi ngờ khách hàng trộm đồ. Ngay tại những trung tâm mua sắm hiện đại và sang trọng còn như thế, thì không thể đòi hỏi “văn hóa mua sắm” tại những cái chợ không được pháp luật thừa nhận như chợ tạm, chợ trời, chợ tự phát…

“Ở nhiều nước tư bản, họ duy trì và phát triển các chợ đồ cũ, cũng là một dạng chợ trời. Tuy nhiên, đó không chỉ là nơi mua bán, trao đổi hàng hóa giá rẻ, mà nó còn là địa chỉ để người ta tìm kiếm những sản phẩm đồ cũ cho những bộ sưu tập của họ. Chợ đó còn là địa chỉ du lịch cho các du khách nước ngoài!”. – Họa sỹ Phan Cẩm Thượng cho hay. “Nếu so sánh với những khu chợ đồ cũ, hàng giá rẻ của nước ngoài, rõ ràng những khu chợ tạm, chợ trời của Việt Nam là những bức tranh trái ngược…”.

Sự lúng túng trong việc quản lý chợ trời, chợ tạm của Việt Nam rõ ràng đang đứng trước nhiều mâu thuẫn: bài toán giải quyết lao động, việc làm cho những người buôn bán; vấn đề quy hoạch và phát triển chợ tại các khu dân cư; quy chế hoạt động buôn bán kinh doanh, quản lý nguồn gốc và chất lượng hàng hóa… Tuy nhiên, điều quan trọng nhất, khi đại lễ 1000 năm Thăng Long đang rốt ráo được chuẩn bị, người ta dường như “bỏ quên” bộ mặt lề đường, lối phố, khi những phiên chợ nhếch nhác và vô tổ chức vẫn diễn ra mỗi ngày.

“Chợ trời phố Huế gắn liền với địa danh chùa Vua – một di tích lịch sử của Hà Nội với quần thể chùa Hưng Khánh và điện Thiên Đế thờ Đế Thích. Nếu bảo tồn và phát triển văn hóa, không thể không nghĩ tới việc có nên giữ một khu chợ xô bồ với nhiều vấn nạn xã hội bên cạnh một địa chỉ văn hóa tâm linh như thế!” – họa sỹ Phan Cẩm Thượng cho biết.

____________________________________________________________

Posted in 1, Chuyện đô thị | Tagged: , , | Leave a Comment »

Vụ án “người giàu nhất Quảng Ninh”

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Ba 21, 2010

Án mạng mang tên “Lục Chắn” được xem là một trong những vụ án phức tạp nhất mà Công an Quảng Ninh khám phá từ trước đến nay. Vụ án gây xôn xao dư luận bởi đối tượng chính được đồn thổi là “ông trùm ở vùng biên giới Móng Cái”, “người giàu nhất Quảng Ninh” mà còn nổi tiếng bởi những cuộc truy tìm ở bên kia biên giới…

Đánh lạc hướng

Công an Quảng Ninh đã mất hơn nửa năm mới có thể hoàn thành những điều tra cơ bản về vụ án. Cho đến khi bài báo đến tay độc giả, công tác đấu tranh với các đối tượng trong vụ án này vẫn đang được tiến hành. Kỳ án Lục Chắn bắt đầu từ một lá đơn tố cáo của PGĐ Công ty xuất nhập khẩu Hồng Kông, Lê Hữu Vinh. Anh Vinh trình báo toàn bộ sự việc giữa hai người bạn của mình bị bắn và bị bắt cóc bởi đối thủ cạnh tranh trong làm ăn.

Theo trình bày của anh Vinh, 18 giờ ngày 22-5-2009, anh cùng các anh Lê Văn Điệp (SN 1974, xã Minh Thành, Yên Hưng, Quảng Ninh), Nguyễn Văn Sỹ (SN 1974, trú phường Trại Cau, Lê Chân, Hải Phòng), Đoàn Quyết Chiến (SN 1988, trú phường Hòa Lạc, Móng Cái), Hà Thanh Tùng (SN 1979, phường Hồng Hải, TP. Hạ Long) đến Đồn biên phòng số 15 tại thôn Lục Chắn, xã Hải Sơn, Móng Cái xin làm thủ tục xuất hàng đông lạnh sang Trung Quốc.

Hỏi xong các thủ tục, anh Vinh và anh Tùng đi về thị trấn Hà Khẩu trước, các anh Chiến, Điệp, Sỹ ở lại thôn Lục Chắn để đón số hàng đông lạnh làm thủ tục. Đến khoảng 17 giờ, ba người trên đang đứng đón hàng thì có một nhóm người đi trên hai ô tô xông xuống đánh, bắt giữ anh Điệp và Sỹ mang đi đâu không biết. Người chạy thoát là anh Đoàn Quyết Chiến cũng không biết nhóm người đã va chạm và có nghe tiếng súng nổ nhưng không biết là súng gì.

Vài ngày sau đó, các nguồn tin trinh sát báo về, cuối tháng 5 đầu tháng 6-2009 xuất hiện một nhóm lưu manh người Hải Phòng mang theo súng bắn đạn hoa cải, lựu đạn đang tìm cách ra Quảng Ninh. Mục đích của chúng là “xử” một nhóm lưu manh khác, trả thù cho đồng bọn. Bọn chúng cũng mang theo hương, vàng mã, khăn áo đến nhà đối thủ để đốt, hù dọa. Công an Quảng Ninh phát hiện sự liên hệ của nhóm người này với anh Đoàn Quyết Chiến – người chạy thoát trong vụ va chạm tại thôn Lục Chắn.

Công an tỉnh Quảng Ninh điều một trung đội Cảnh sát cơ động trang bị vũ khí tiến công để ngăn chặn các đối tượng trên manh động, dàn trận thanh toán nhau; đồng thời vận động Đoàn Quyết Chiến khai báo trung thực. Công an Quảng Ninh còn nhận được nguồn tin Chiến có ý định “điều” đám giang hồ từ Hải Phòng lên để trả thù vụ mình và hai người bạn bị đánh, bắt cóc ở thôn Lục Chắn.

Sau hai ngày được thuyết phục, Đoàn Quyết Chiến chấp nhận kể lại vụ việc. Buổi chiều 22-5-2009, anh Chiến, Điệp, Sỹ đang đứng đón hàng thì gặp xe của Công ty Quang Phát. Tại đây xảy ra mâu thuẫn giữa ba người với lái xe và những người điều hành của Công ty Quang Phát. Cãi cọ xong, biết sẽ có chuyện, Lê Văn Điệp bảo Chiến về nhà lấy mìn và súng. Chiến gọi điện cho đối tượng người Hải Phòng làm ăn ở Quảng Ninh trực tiếp đến nhà Điệp ở phường Hải Hòa lấy khẩu súng và hai quả lựu đạn bỏ vào túi xách và đi xe máy lên. Chiến, Điệp, Sỹ đỗ ô tô tại ngã ba đường cùng với “hàng nóng”. Vì mang theo súng, lại đứng sát biên giới, nhóm này sợ lực lượng biên phòng kiểm tra. Điệp, Sỹ bảo Chiến và đối tượng người Hải Phòng đi xe ôm, cầm súng chạy lên phía trên một đoạn. Một lúc sau, chiếc Hyundai màu đen và một xe Innova màu bạc trờ tới.

Trận hỗn chiến nổ ra giữa nhóm người đi trên hai chiếc xe này và Điệp, Sỹ. Lê Văn Điệp hô to: “Chiến ơi, châm mìn!”. Nghe tiếng gọi, Chiến và đối tượng người Hải Phòng cầm mìn chạy xuống chỗ đang có xô xát thì thấy Điệp và Sỹ đang bị 5 – 7 người đàn ông quây đánh. Vừa lò dò đến nơi thì một tiếng súng chát chúa vang lên, Chiến và đối tượng người Hải Phòng không dám xuống nữa mà quay đầu chạy ngược vào rừng. Trước lúc bỏ chạy, Chiến vẫn kịp nhìn thấy trong đám người đó có Nguyễn Tiến Chung – tức Chung “Linh Hột”.

Khi xảy ra vụ việc, Chiến định không khai báo đúng vụ việc với cơ quan công an mà để tự xử lý. Theo nguồn tin mà các trinh sát thu thập được thì Chiến có ý định chơi Chung “Linh Hột” bằng “luật rừng”. Chung “Linh Hột” là em của một nhân vật rất nổi tiếng ở Quảng Ninh là Phương “Linh Hột”.

Bóng dáng “ông trùm”

Phương “Linh Hột” tên thật là Nguyễn Tiến Phương – Giám đốc Công ty Quang Phát. Đây được xem là nhân vật rất nổi tiếng ở Quảng Ninh, người từng tuyên bố: “Ai muốn đọ tiền mang ra đọ với tôi, tôi chỉ đủ tiền xếp từ sông Ka Long vào đến Hạ Long thôi” (khoảng cách này dài 200km). Phương “Linh Hột” còn được nhiều người đọc chệch thành cái tên nghe khiếp hơn nhiều: Phương “Linh Hồn”. Cái tên dị bản này như gắn liền với nỗi sợ hãi của những người buôn bán vùng biên khi nghe những câu chuyện về Phương – những chuyện có thật và cả những tin đồn.

Công ty Quang Phát của Nguyễn Tiến Phương thi công nhiều công trình xây dựng lớn của tỉnh Quảng Ninh. Nguồn tiền chính của Phương lại đến từ việc bao thầu vận chuyển, thu gom những mặt hàng xuất khẩu sang Trung Quốc. Đến Quảng Ninh, nhắc đến tên Phương “Linh Hột” ai cũng biết. Có người cho là vì Phương quan hệ rộng, sống thoáng, lại chịu chi; cũng có người bảo do lối hành xử của một giang hồ khoác áo doanh nhân. Ngoài việc vận dụng các mối quan hệ, buôn gian bán lận, Phương cũng như các tay anh chị ở đây đều phải trải qua các đợt đâm chém thừa sống thiếu chết để phân tranh ngôi thứ. Một số tờ báo còn cho rằng: Phương “Linh Hột” cầm đầu một băng nhóm tội phạm xuyên quốc gia.

Sau khi phát hiện đây là một vụ bắn, bắt cóc có chủ đích đồng thời với việc điều tra, Công an Quảng Ninh cũng phát động cuộc truy tìm hai người mất tích là Nguyễn Văn Sỹ và Lê Văn Điệp. Tất cả các bệnh viện, trạm xá, phòng khám tư nhân ở Quảng Ninh đồng loạt được rà soát nhưng vẫn không có tung tích hai nạn nhân. Ban chuyên án cũng đặt ra khả năng hai nạn nhân đã bị bọn bắt cóc mang sang bên kia biên giới. Bộ Công an Việt Nam có văn bản yêu cầu sự phối hợp của Công an Trung Quốc. Thiếu tướng Nguyễn Hữu Tước – Giám đốc Công an tỉnh Quảng Ninh – cũng viết thư tay gửi Trưởng ty Công an Khu tự trị dân tộc Choang, tỉnh Quảng Tây để hai tỉnh có cơ chế phối hợp phá án. Công an Quảng Ninh và Công an Quảng Tây cùng nhau tiến hành rà soát các địa bàn phức tạp, đặt ra khả năng nếu hai nạn nhân bị thủ tiêu thì cũng phải tìm ra xác. Chiến dịch phát động quần chúng tố giác tội phạm và truy tìm tung tích nạn nhân mất tích được phát động ở nước bạn.

Ngày 4-6-2009, Công an Quảng Ninh bắt khẩn cấp Nguyễn Tiến Chung về hành vi “bắt giữ người trái pháp luật”. Chung được đưa thẳng về Công an tỉnh Quảng Ninh giam giữ. Lệnh bắt khẩn cấp tiếp tục được thực hiện với 3 đối tượng có hành vi “che giấu tội phạm” gồm: Phạm Văn Kiên (SN 1952, trú tại khu 3, phường Hải Hòa), Nhâm Đức Thông (SN 1958, trú phường Ka Long), Bùi Hải Bài (SN 1957, trú khu 3, phường Ka Long). Nguyễn Tiến Phương tức Phương “Linh Hột” và Nguyễn Thế Cường (SN 1964, trú Lạc Viên, Ngô Quyền, Hải Phòng) bị bắt vì hành vi “không tố giác tội phạm”.

Sau hai ngày mò tìm trên sông Ka Long, 27-7-2009, Công an Quảng Ninh đã vớt được khẩu súng mà nhóm của Chung bắn hai anh Điệp, Sỹ ở thôn Lục Chắn. Khẩu súng được ném xuống lòng sông Ka Long phi tang khi bọn chúng trên đường đưa hai nạn nhân sang Trung Quốc. Tại Trung Quốc, Công an Quảng Tây cũng khoanh vùng, bắt khẩn cấp sáu đối tượng người Trung Quốc có liên quan đến vụ án, trong đó có năm đối tượng bị bắt với tội danh “giết người”.

Khai thác các đối tượng này, Công an Trung Quốc thông báo cho phía Việt Nam hai nạn nhân Nguyễn Văn Sỹ và Lê Văn Điệp đã bị giết chết. Nhóm đối tượng người Trung Quốc khai nhận: khi hai nạn nhân được đưa sang Trung Quốc thì họ vẫn còn sống. Tại đây, đối tượng người Việt Nam có tên là Chấn “điên” (tức Vũ Ngọc Tuất) cùng với năm đối tượng người Trung Quốc đánh đập, dùng dao đâm. Tàn độc hơn, khi nạn nhân chưa chết hẳn, các đối tượng này còn lấy băng dính bịt miệng, mũi cho ngạt thở và chết.

Chấn “điên” là một cai cửu vạn, bốc xếp ở Móng Cái và từng có nhiều thời gian nhận các hợp đồng bốc xếp cho Công ty Quang Phát của Phương “Linh Hột”. Hiện đối tượng này đang bỏ trốn và Công an Quảng Ninh phát lệnh truy nã với tội danh “giết người”. Lệnh truy nã đối tượng đặc biệt nguy hiểm này đã được gửi lên tổ chức Cảnh sát quốc tế Interpol.

Thủ tiêu xong hai nạn nhân, bọn chúng mang một xác đến vứt ở khu vực hẻo lánh trên dãy núi có tên là Thập Vạn Đại Sơn, cái xác còn lại được bỏ vào bao tải ném xuống dòng sông Ka Long. Công an Quảng Tây Trung Quốc cùng Công an Quảng Ninh phối hợp tìm được xác của hai nạn nhân này vào cuối tháng 10-2009.

Vụ án Lục Chắn đã cơ bản được khám phá và theo Đại úy Hoàng Văn Định, Công an Quảng Ninh đã có đủ chứng cứ để kết tội Nguyễn Tiến Phương tức Phương “Linh Hột” tội danh “giết người”. Vụ Lục Chắn được xem là lời kết cho danh tiếng của một người được mệnh danh là “ông trùm vùng biên đông bắc”.

(Theo Công an TP HCM)

____________________________________________________________

Posted in 1, Chuyện an ninh | Tagged: , , | Leave a Comment »

Việt Nam có thể tránh bẫy thu nhập trung bình, nếu…

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Ba 21, 2010

TRUNG NGUYỄN

NDĐT- Sự phụ thuộc quá nhiều vào các yếu tố bên ngoài có thể giúp Việt Nam tăng trưởng tới mức thu nhập trung bình, thậm chí có thể cao hơn nữa, nhưng rất có thể cũng sẽ chỉ dừng lại ở mức đó mà thôi – hay nói cách khác là đã rơi vào “bẫy thu nhập trung bình”. Với tiêu đề “Vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Cơ hội và thách thức đối với Việt Nam”, Hội thảo do Diễn đàn Phát triển Việt Nam (VDF) tổ chức đã thu hút nhiều chuyên gia trong nước và quốc tế tham gia.

Nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình!

Năm 2009, Việt Nam chính thức vượt qua ngưỡng thu nhập thấp, trở thành quốc gia có thu nhập trung bình theo cách phân loại của Ngân hàng Thế giới (WB). Tuy nhiên, theo đánh giá chung của nhiều nhà nghiên cứu kinh tế, tăng trưởng mà Việt Nam có được trong một thời gian qua ngoài lý do chính sách đổi mới đúng hướng hiệu quả, sự điều hành kinh tế vĩ mô nhạy bén, phù hợp thì phần quan trọng là do tác động của tự do hóa đúng thời điểm, đồng thời đã tận dụng lợi thế vị trí địa lý, nguồn tài nguyên phong phú, nguồn lao động trẻ dồi dào…

Nhưng liệu Việt Nam có thể tiếp tục tăng trưởng nhanh và bền vững, tiếp đó có thể đứng vào các nước có thu nhập cao như Hàn Quốc, Đài Loan đã làm trong thời gian qua, hay chúng ta vẫn cứ loay hoay như một số quốc gia lân cận sau một thời gian chưa thể thoát ra khỏi mức thu nhập trung bình sau khi đã đạt được nó. Đó là băn khoăn của nhiều học giả nhà quản lý.

PGS.TS Phạm Quang Trung, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế Quốc dân cho rằng, hiện nay, sự phát triển của Việt Nam đã và đang được xem là có rất nhiều vấn đề tương đồng với các quốc gia lân cận như Thái Lan, Malaysia. Nếu tiếp tục phát triển như những gì Việt Nam đã và đang làm, rất có thể, Việt Nam sẽ là một “quốc gia đang phát triển” trong thời gian dài.

Có thể thấy, hiện nay Việt Nam đã vượt qua khỏi ngưỡng đói nghèo, nhưng những gì mà chúng ta đã làm để vượt qua khỏi ngưỡng đó thì lại phụ thuộc quá nhiều vào ngoại lực, vào các chính sách mở cửa với các luồng vốn FDI – trong khi những nguồn nội lực thì chưa được phát huy một cách hiệu quả và tích cực.

Thật vậy, sự phụ thuộc quá nhiều vào các yếu tố bên ngoài này có thể giúp Việt Nam tăng trưởng tới mức thu nhập trung bình, thậm chí có thể trung bình cao, nhưng rất có thể cũng sẽ chỉ dừng lại ở mức đó mà thôi – hay nói cách khác là đã rơi vào “bẫy thu nhập trung bình”. Ở đây, theo lý thuyết kinh tế và bài học rút ra từ các quốc gia đã vượt qua khỏi mức thu nhập trung bình là, quốc gia đó phải có “chính sách tốt” và “sự năng động của khu vực tư nhân”.

Về vấn đề này, ông Kenichi Ohno, Giám đốc Dự án VDF cho rằng, Việt Nam cần tăng cường giá trị gia tăng chứ không phải dựa vào ODA, hay nguồn tài nguyên, hay lực lượng lao động đông đảo và cần cù. Việt Nam sẽ mất dần những lợi thế truyền thống đó. Vấn đề trước mắt không phải là nguồn vốn, trang thiết bị mà chính là nguồn lực con người. Trên thực tế, vấn đề năng lực, khả năng của con người ở Việt Nam vẫn chưa được cải thiện. Bên cạnh đó, công tác tiếp thị thị trường, vươn ra quốc tế vẫn chưa được làm tốt.

Vận dụng vào thực tiễn ở Việt Nam hiện nay có thể thấy, đang rất thiếu và yếu trong mảng chính sách. Đơn cử như trong hoạt động hoạch định chính sách công nghiệp, nội dung và cấu trúc chính sách thì lạc hậu, không đáp ứng yêu cầu của thị trường, không có tính tự chủ; quy trình và việc tổ chức hoạch định chính sách còn sơ khai; các cán bộ, công chức, chuyên viên Việt Nam còn trì trệ trong việc thực hiện cải cách hoạch định chính sách.

Làm gì để bứt phá vượt ngưỡng trung bình

Hiện nay, với quá trình chuyển đổi một cách có hệ thống và sự hội nhập toàn cầu ngày càng trở nên sâu rộng, Việt Nam cần xây dựng giá trị Nội tại để tiếp tục tăng trưởng và tránh rơi vào bẫy thu nhập trung bình. Tại hội thảo, các chuyên gia cũng tập trung bàn thảo tới giải pháp để quá trình phát triển của Việt Nam không bị dừng ở ngưỡng thu nhập trung bình.

Theo PGS.TS Phạm Quang Trung, trước mắt, Việt Nam phải đối mặt với các vấn đề như: cạnh tranh trên thị trường thế giới ngày càng khốc liệt đòi hỏi phải gắn kết được tăng trưởng và bình đẳng, nâng cao chất lượng quản lý nhà nước, hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo đảm công khai, minh bạch. Bên cạnh đó, cần kiểm soát, ngăn chặn những khủng hoảng mới, đồng thời đẩy mạnh đa dạng hoá các thị trường vốn, tự do hoá thương mại dịch vụ, đồng thời mở rộng các hệ thống giáo dục, đào tạo nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng nguồn nhân lực. Và ngay từ bây giờ, Việt Nam cần có những định hướng chiến lược, hành động cụ thể để duy trì tốc độ tăng trưởng nhanh một cách bền vững.

Ông Kenichi Ohno cho rằng, Việt Nam phải nghiên cứu một cách chọn lọc, kỹ lưỡng kinh nghiệm chính sách của các nước láng giềng, cần phải xác định tầm nhìn chính sách và mục tiêu rõ ràng trong giai đoạn từ năm 2011 đến 2015 và từ năn 2011 đến 2020, phải thiết kế và thực thi gói chính sách một cách đồng bộ.

______________________________________________________

Posted in 1, Chuyện đất nước, Kinh tế | Tagged: , | Leave a Comment »

Cả nước “vào cầu”, toàn dân “đánh quả”?

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Ba 20, 2010

Khánh Linh

“Hám tiền” và “mê quyền” xét cho cùng cũng là một thôi và xem ra ở cái vế thứ hai này, khát vọng còn cháy bỏng hơn nhiều. Điều này giải thích tại sao lễ Khai ấn đền Trần lại có lắm người háo hức đến thế” – GS. Nguyễn Quang Ngọc, Viện trưởng Viện Việt Nam học, Chủ tịch Hội Sử học Hà Nội.

Lễ khai ấn không phải lễ… thưởng công

– Thưa GS, lễ Khai ấn đền Trần có nguồn gốc từ đâu?

Lễ Khai ấn là tục lệ cổ mở đầu ngày làm việc chính thức đầu tiên của triều đình trong một năm mới. Thời đó ta ăn Tết không chỉ trong 3, 4 ngày, mà còn tham gia lễ hội, du xuân… kéo dài đến tận rằm tháng giêng. Kết thúc năm cũ là nghi lễ đóng ấn, và lễ khai ấn vào rằm tháng giêng khi triều đình chính thức trở lại với các công việc hành chính.
Sở dĩ nghi lễ này gắn với đền Trần bởi vùng Tức Mặc chính là kinh đô thứ hai của đất nước dưới triều Trần, nơi Thái thượng hoàng (sau một thời gian làm vua, muốn bồi dưỡng thế hệ trẻ nên giao lại ngai vàng cho con) lui về Tức Mặc nhưng vẫn cùng với vị vua trẻ mới nối ngôi tiếp tục điều hành công việc của đất nước. Lễ khai ấn tổ chức ở đây để Thái thượng hoàng – người vẫn giữ quyền hành cao nhất – chứng kiến, cả triều đình cùng hy vọng một năm mới nhiều thuận lợi và thành công.

– Chứ không phải lễ khai ấn còn là dịp mừng chiến thắng quân Nguyên Mông, nơi quan quân được thăng chức, được ban thưởng?

Nói là mừng thắng trận thì phải biết cụ thể là trận thắng nào. Trận thứ nhất ta thắng lớn vào ngày 24 tháng Chạp năm 1257 (tức 29 tháng 1 năm 1258), trận thứ hai ta thắng to vào ngày 20 tháng 5 (tức 24 tháng 6) năm 1285, con trận thứ ba ta đại thắng ở Bạch Đằng vào ngày 8 tháng 3 (tức 9 tháng 4) năm 1288. Những ngày này cả âm dương lịch đều không có liên quan gì đến Rằm tháng Giêng phải không?
Người ta cũng có thể nghĩ rằng lễ mừng thắng trận sẽ được tổ chức sau ngày chiến thắng một ít ngày. Nếu tính như thế thì hai chiến thắng lần 2 và lần 3 (một vào tháng 5 năm 1285, một vào tháng 3 năm 1288), sau Rằm tháng Giêng đến mấy tháng, chắc chắn không thể tính vào đây được. Chỉ còn chiến thắng lần thứ nhất vào 24 tháng Chạp (1257) và được vua Trần Thái Tông tổ chức lễ mừng công ngay khi trở về kinh đô Thăng Long vào ngày mồng một Tết (1258). Sự kiện này nếu được lấy làm kỷ niệm thì cũng không có liên quan gì đến ngày Rằm tháng Giêng tại Thiên Trường.
Nói như thế để biết rằng lễ Khai ấn ở đền Trần vốn không phải là lễ mừng thắng trận hay thưởng công của vua Trần sau đại thắng quân Mông – Nguyên, mà chỉ đơn giản là nghi lễ đánh dấu ngày đầu tiên triều đình chính thức trở lại làm việc sau một thời gian nghỉ Tết dài, ngày mở đầu làm việc hanh thông và hiệu quả, hứa hẹn một năm làm việc thành công.
Cần nói thêm là triều đình nhà Trần cũng chú trọng sự đơn giản, tiết kiệm. Lễ khai ấn chỉ tổ chức lớn vào những năm Tý – Ngọ – Mão – Dậu, tức là 3 năm mới tổ chức lớn một lần thôi, chứ không phải năm nào cũng đại lễ cả đâu!

– Các triều đại sau này có thực hành nghi lễ Khai ấn không, thưa GS?

Tôi không thấy sử ghi chép. Có thể dự đoán các triều đại sau vẫn có, nhưng tổ chức dưới hình thức khác chăng? Đời Trần do có hai kinh đô, trong đó Tức Mặc khiêm nhường hơn nhưng lại là nơi quyết định, nơi Thái thượng hoàng có thể gọi vua về dạy dỗ, chấn chỉnh.
Từ một nghi lễ của triều đình, sau này lễ Khai ấn đã thành phong tục truyền thống của địa phương. Theo đó, 7 làng ở khu vực xung quanh Tức Mặc (làng Vọc, làng Lốc, làng Hậu Bồi, làng Bảo Lộc, làng Kênh, Làng Bái và làng Tức Mặc) rước kiệu các vị thần trở về tụ họp ở đền Thượng để tế các vua Trần. Nghi lễ Khai ấn được tổ chức rất trang nghiêm tại sân đền Thượng. Như thế, theo truyền thống thì chỉ có 7 làng tham gia lễ Khai ấn đền Trần, chứ không phải cả tỉnh Nam Định, càng không phải cả nước như bây giờ.

Chỉ là lễ xin chức, xin tiền?

Ta bảo tồn, đổi mới, phát huy giá trị của các thuần phong mỹ tục cổ truyền phục vụ cho cuộc sống hiện đại thì hết sức có ý nghĩa, nhưng để các nghi lễ, phong tục truyền thống bị biến dạng thành lễ cầu xin chức tước; rồi người tứ xứ đổ về, chen chúc, dẫm đạp, giầy xéo lên nhau, tranh cướp nhau, nhiều khi cái dồn toàn bộ sức bình sinh ra để cướp được ấy lại chỉ là của dởm!. Các bậc đế vương anh hùng của một thời “hào khí Đông A” làm nên “non sông muôn thuở vững âu vàng” có bao giờ tưởng tượng ra con cháu họ ở đầu thế kỷ XXI lại đến đận này không?

– Lễ hội đầu năm rất nhiều, tại sao lễ Khai ấn lại bị lạm dụng đến mức ấy?

Từ khi chúng ta xóa bỏ cơ chế quan liêu bao cấp chuyển sang cơ chế thị trường, có hai loại lễ hội phát triển đột khởi, trở thành có quy mô cực lớn. Đó là lễ hội xin tiền và lễ hội cầu quyền.
Trước tiên là lễ hội xin tiền. Như bà chúa Kho tương truyền là người giữ kho quân lương phục vụ kháng chiến chống Mông-Nguyên thời Trần. Sau này có nguồn cho là bà chúa thời Lý, nhưng theo tôi là thời Trần. Từ người giữ kho quân lương, giờ lại thành bà chúa quản lý tài lộc cả trên trời dưới biển, ai muốn ăn ra làm nên thì đầu năm đến “vay” bà, rồi cuối năm đến “trả”.
Đã vay thì phải trả, trả rồi lại tiếp tục vay, chưa giàu thì xin được giàu, giàu rồi thì muốn giàu thêm nữa, muốn thu hết của cải xã hội về cho riêng mình. Rồi không chỉ xin bà chúa Kho mà xin rất nhiều bà chúa khác, đến đâu cũng chỉ xin tiền và xin giàu thôi. Ai mà chẳng thích giàu nhỉ, nhưng phải là giàu bằng tài năng, công sức của mình, chứ chỉ đi xin thôi mà thành giàu, thì xem ra quá viển vông.
Cầu tài vẫn chưa đủ đâu, phải có chức cao lộc hậu mới là mục đích cao sang của cuộc đời. Người ta thực tin cứ có chức là có tiền, càng chức to càng nhiều tiền, lại còn là danh dự của bản thân, gia đình, dòng họ, quê hương… nữa chứ. Chỉ có tiền thì đôi khi cũng bị coi thường là trọc phú, là “ít” văn hóa, nên không ít người khi đã có tiền rồi thì tính chuyện “đầu tư” cho chức, vì có chức là có quyền và có quyền thì sẽ có nhiều tiền hơn.
Thậm chí nhiều người thực tin hướng đầu tư này là “phát triển nhanh và bền vững” và “hiệu quả rất cao” nữa kia. Vậy thì “hám tiền” và “mê quyền” xét cho cùng cũng là một thôi và xem ra ở cái vế thứ hai này, khát vọng còn cháy bỏng hơn nhiều. Điều này giải thích tại sao lễ Khai ấn đền Trần lại có lắm người háo hức đến thế.
Nếu muốn trở thành có vai trò, vị thế thì hãy phấn đấu, làm việc hết mình để chứng minh khả năng của bản thân. Chức vụ sẽ rất vinh quang nếu phản ánh đúng tài năng, đức độ, cống hiến, trình độ của chính mình. Nếu chức vụ mà xin được thật thì dù có được ngồi chễm chệ trên ngôi cao cũng chỉ là thứ bố thí mà thôi, nào có vinh quang gì.

Xin lãnh đạo đừng bật đèn xanh cho tiêu cực

– Có người lý giải người dân đổ xô đến lễ hội vì tâm lý xã hội hoang mang, còn quan chức đến lễ hội vì sao?
Theo tôi, quan chức đến lễ Khai ấn đền Trần vì nhiều lý do, trong đó có chuyện hiểu nhầm đây là lễ hội của chức tước. Tôi thấy lạ là những lễ hội bị biến tướng như thế, nhưng ngành văn hóa-du lịch lại không bày tỏ chính kiến. Hình như chính họ còn muốn khai thác tâm lý cần chức, cần tiền của xã hội để kéo “cả nước vào cầu, toàn dân đánh quả” thì phải?
Người dân dù ở tầng lớp nào, nếu đến lễ hội với mục đích xin chức, xin tiền thì đa phần sẽ thất vọng. Không lẽ tất cả đều được lên chức, tất cả sáng mai ngủ dậy là có một đống tiền. Cuối cùng thì cũng đành phải tự an ủi mình rằng “không được cái nọ thì được cái kia”; các cụ đời xưa còn nói “tả tơi xem hội” cơ mà. Đến cả cái “tả tơi” này mà cũng còn phải mua bằng tiền thật nữa đấy!
Lỗi lớn nhất, theo tôi, thuộc về những cơ quan tham mưu, những người tư vấn cho các lãnh đạo. Nếu có những tư vấn chính xác, lãnh đạo sẽ quyết định đúng việc có nên đến lễ hội này hay có thể từ chối lời mời đến lễ hội kia. Nếu lễ hội tổ chức theo phong tục truyền thống, có ý nghĩa khuyến khích động viên phát huy truyền thống văn hóa của dân tộc, thì lãnh đạo cần phải đến chứ? Đằng này, có khi chính những người tư vấn lại giải thích sai về lễ Khai ấn là lễ phong chức, phong thưởng không chừng?

– Vậy là theo GS, câu chuyện lễ Khai ấn đền Trần có thể chấn chỉnh từ đâu?

Trách nhiệm đầu tiên thuộc về các các cơ quan văn hóa và cơ quan du lịch (nay đã về dưới mái nhà chung). Trước hết là phụ trách văn hóa của tỉnh, sau là văn hóa trung ương. Họ phải chịu trách nhiệm về sự được – mất của các lễ hội. Họ phải biết dựa vào lực lượng làm chuyên môn chân chính để chấn chỉnh ngay những lệch lạc trong tổ chức hoạt động lễ hội.
Các nhà lãnh đạo phải biết khai thác và sử dụng những người làm chuyên môn thực sự để có những quyết định đúng. Việc làm của lãnh đạo dù lớn hay nhỏ cũng đều tác động đến người dân. Như câu chuyện cụ thể của đền Trần, nếu tổ chức đúng như nghi lễ mở đầu một năm làm việc mới với những hy vọng tốt đẹp, thuận hoà, hanh thông thì rất cần đến sự có mặt của các nhà lãnh đạo. Nhưng nếu chỉ là xin chức, xin quyền thì có lẽ các vị không nên tới, vì chắc gì đã được, mà lại không khỏi gây ra tâm lý hoài nghi, với cái nhìn phản cảm của dân chúng về ngay cái chức vụ và địa vị mà các vị đang nắm giữ.
Trong xã hội Việt Nam truyền thống, lễ hội là trung tâm và là đỉnh cao của sinh hoạt văn hoá cộng đồng. Đến với lễ hội dường như mọi mong muốn của con người đều được thoả mãn, mọi tài năng của con người đều được bộc lộ, con người được sống hết mình, không phân biệt giàu nghèo, sang hèn… Lễ hội là sự thăng hoa làm quên đi tất cả mọi lo toan vất vả của cuộc sống đời thường.
Đành rằng xã hội đã thay đổi, nhưng lễ hội truyền thống với các giá trị của nó vẫn rất cần cho con người và cộng đồng. Tùy tiện thay đổi lễ hội theo mục tiêu kiếm tiền và kiếm quyền sẽ gây ra tổn hại không thể lường hết được cho chính lễ hội, cho cả văn hoá và con người Việt Nam. Xin đừng bật đèn xanh cho tiêu cực.

_______________________________________________

Posted in 1, Chuyện lễ hội | Tagged: , , , | Leave a Comment »