NGÔN NGỮ & VĂN HÓA

CHÚC MỪNG NĂM MỚI

Archive for the ‘Chuyện chính trị’ Category

“VÒNG TRÒN NHỎ” TRONG “VÒNG TRÒN LỚN”

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Ba 30, 2012

Tương Lai
(Bài phát biểu tại Hội thảo về giáo dục và đào tạo ngày 29.3.2012)

Đứng trước những bậc đàn anh thâm niên trong ngày giáo dục, tôi rất xấu hổ là mình đã chuyển nghề từ dạy học sang Viện nghiên cứu, cho dù thỉnh thoảng có đến giảng bài theo chuyên đề ở một vài trường Đại học, cho nên hôm nay, tôi không dám phát biểu thẳng vào giáo dục mà phải đi đường vòng.
Đúng hơn, là từ cái “vòng tròn lớn” để nói về cái “vòng tròn nhỏ” nằm trong cái “vòng tròn lớn” đó. Bởi lẽ, sẽ không thể nào hiểu, không thể nào tìm giải pháp chiến lược cho hệ thống giáo dục và đào tạo khi không đặt nó vào trong hệ thống lớn hơn mà giáo dục đào tạo là một bộ phận của cái toàn thể ấy.
Vì thế, tôi phải bắt đầu từ xã hội. Nhưng,“Xã hội-cho dù nó có hình thức gì đi nữa- là cái gì? là sản phẩm của sự tác động qua lại giữa những con người. Liệu con người có được tự do trong việc lựa chọn hình thức xã hội này hay hình thức xã hội khác hay không, C.Mác đặt ra câu hỏi để rồi trả lời: Tuyệt đối là không” [C.Mác& PhAngghen Toàn tập, Tập 27, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1995, tr. 657]. Lọt lòng mẹ, con người đã có sẵn một xã hội mà nó không có quyền chọn lựa, cũng giống như đứa trẻ không chọn lựa được nơi nó sinh ra, không thể lựa chọn cha mẹ. Bức tường xã hội đã có trước khi chúng ta sinh ra, chúng ta bị giam hãm trong những bức tường đó bởi chính sự hợp tác tự nguyện hay không tự nguyện của chúng ta, cũng có nghĩa là chúng ta cũng góp phần củng cố những bức tường đó hay đập phá nó đi. “Chúng ta bị giam cầm bởi chính sự hợp tác của chúng ta” [Berger]
Sự tác động qua lại trong mối quan hệ giữa người và người đã xây đắp nên những bức tường xã hội ấy hay làm rạn nứt, sụp đổ cũng những bức tường đó. Bức tường theo ý nghĩa trừu tượng. Nhưng cũng có những bức tường theo nghĩa đen trần trụi của nó: “Bức tường Berlin” chẳng hạn. Đây là “bức tường ý thức hệ”! Muôn hiểu về sự xuống cấp và quá lạc hậu của hệ thống giáo dục đào tạo phải đi sâu vào vấn đề “ý thức hệ” này. Đấy chính là “vấn đề của vấn đề”, nhưng cũng là mấp mé với khả năng quy kết là “phản cách mạng, chống Đảng” đây, nhẹ hơn là mất quan điểm lập trường, và thời thượng là có biểu hiện “diễn biến hóa bình”. Nhưng đây là Hội nghị khoa học, mà khoa học thì phải để cho giới khoa học được “mở miệng ra”. Cho nên tôi xin được “mở miệng” trước anh Vũ Ngọc Hoàng.
Căn bệnh của não trạng và hành vi lấy một lý luận chính trị, xã hội làm chân lý tuyệt đối và duy nhất, loại trừ và thủ tiêu mọi lý luận, mọi tư tưởng chính trị khác đã là một căn bệnh lâu đời của loài người. Từ khoảng đầu thế kỷ XX căn bệnh ấy được gọi là căn bệnh tôn sùng “ý thức hệ”, sống và đấu tranh với nhau vì “ý thức hệ”. Cái tên gọi ấy có xuất xứ từ Tây Âu. Căn bệnh ấy phân chia cả loài người và từng dân tộc, từng quốc gia, cho đến từng gia đình thành phe ý thức hệ này đối lập sống chết vơí phe “ý thức hệ” khác.
Tình hình này rõ nhất là sau Cách mạng tháng Mười 1917 và nhất là sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, trong chiến tranh lạnh. Bệnh ý thức hệ ấy ở Mỹ, Âu không kém gì ở Liên Xô và Trung Quốc thời ấy. “Chủ nghĩa Mắc Cácty” ở Mỹ, một quái thai ghê tởm, là một ví dụ. Sau khi kết thúc chiến tranh lạnh, bệnh “ý thức hệ” vẫn còn rất nặng ở quy mô cả loài người, từng quốc gia, thậm chí từng gia đình chứ không hết và chưa chắc đã nhẹ bớt đi. Ví như cuộc đấu tranh giữa ý thức hệ “tân tự do” với “ý thức hệ”, đúng hơn, với những lợi ích dân tộc và cá nhân, chống lại ý thúc hệ “tân tự do” là rất sâu và không kém phần đối nghịch.
Nêu lên điều này để nói rằng, không phải những người cộng sản khởi xướng ra bệnh “ý thức hệ”, mà là đưa thêm vào trong khái niệm đó những biến thái mới. Ở ta cũng từng có những mong muốn chuyển “ý thức hệ Mác-Lênin thành ý thức hệ của toàn dân! Từ Đại hội VI, với tư duy “Đổi Mới”, chúng ta thấy rõ đó là một sản phẩm duy ý chí, lấy lòng mong muốn thay cho thực tế. Bởi thế mới có được Cương Lĩnh của Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam được biểu quyết thông qua tại Đại hội VI của Mặt Trận năm 2004 với sự khẳng định: “đoàn kết mọi người Việt Nam ở trong và ngoài nước, không phân biệt thành phần xã hội và dân tộc, quá khứ và ý thức hệ, tôn giáo và tín ngưỡng, miễn là tán thành công cuộc đổi mới, nhằm mục tiêu giữ vững độc lập, thống nhất chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đầt nước vì dân giàu nước mạnh xã hội công bằng dân chủ văn minh”.
Xác lập được điều này chính là một bước đột phá quan trọng, đưa nhận thức trở lại đúng với quy luật vận động của cuộc sống, từ đấy mà mở ra một cục diện mới, rất mới. Bởi lẽ, phát triển luôn luôn là tự phát triển trong tiến trình tiến hóa, tạo nên những thuộc tính hợp trội, được thực hiện bằng các cơ chế thích nghi qua sự tương tác của hệ thống. Tiến hóa qua cơ chế thích nghi không chỉ biểu hiện bằng cạnh tranh sinh tồn và chọn lọc tư nhiên, mà còn bằng hợp tác và cùng phát triển. Chính sự đa dạng của tiến hóa như vậy tạo nên sự đa dạng, phong phú, rất phức tạp, song cũng hết sức sinh động của cuộc sống. Cuộc sống nói chung và cuộc sống của con người trong xã hội. Mà xã hội lại là một hệ thích nghi cực kỳ phức tạp, trong đó, các thành phần khác nhau, những yếu tố đối lập, tùy theo sức hút của mục tiêu chung đều có lợi cho tất cả, thì không nhất thiết phải đối đầu theo kiểu tư duy “ai thắng ai”, dẫn đến một kết cục phải thanh toán lẫn nhau để giành quyền thắng, chứ không chịu tìm cách thông qua những tương tác có tính hợp trội để có thể tìm được khả năng cùng thắng.
Nhưng đã một thời, “ai thắng ai” là một nguyên lý có ý nghĩa định hướng cho cách tư duy, không chỉ của một nhóm người, mà là tác động đến toàn xã hội. Mọi sinh hoạt trong đời sống chính trị của đất nước đều nằm trong “vùng phủ sóng” của kiểu tư duy “ai thắng ai” trong cuộc đấu tranh giai cấp vốn được xem là động lực của phát triển xã hội. “Ai thắng ai” ngay khi chính quyền đã thuộc về nhân dân, mọi người dân đều được xác lập vị trí làm chủ đất nước, làm chủ xã hội.
Vậy thì, “ai” đây là “ai”, ai thắng ai trong một đất nước mà nhân dân đã phải trả cái giá cho quyền làm chủ vừa giành được ấy bằng máu và nước mắt trong hy sinh chiến đấu của nhiều thế hệ Việt Nam.. Vì có chuyện “ai thắng ai” đó, mà phải kiên trì mô hình kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp, đối lập với kinh tế thị trường; mới có cải tạo Xã hội Chủ nghĩa đối với thành phần kinh tế mà ngày nay được xác lập là lực lượng xung kích trong hội nhập và phát triển. Giờ đây thì đã có thể nói rõ sai lầm của chuyện “quay lưng lại với biết bao sự thật hàng ngày diễn ra trước mắt mình để lao vào những sai lầm với những cái giá đắt nhất phải trả” ấy mà Phạm Văn Đồng đã nghiêm khắc chỉ ra trong “Văn hóa và Đổi mới” xuất bản năm 1994.
Cái giá đắt nhất chính là kéo lùi đất nước lại cả một thập kỷ, để vuột mất những cơ hội của hội nhập và phát triển. Thậm chí khi đã trở thành thành viên chính thức thứ 150 của WTO, nền kinh tế và các nhà doanh nghiệp của ta vẫn còn phải gánh chịu những bất lợi do vẫn bị xem là “nền kinh tế phi thị trường”, và rồi phải phấn đấu thêm 12 năm nữa, những bất lợi ấy mới được bước đầu xóa bỏ. Chẳng hạn như, khi chưa được xem là nền kinh tế thị trường thực thụ, thì Hiệp định về bán phá giá, Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng của WTO sẽ chưa cho chúng ta cơ hội để cứu vãn tình thế bất lợi. Thế là sẽ còn “mất công mười mấy năm thừa ở đây”! Nhưng dù sao thì cũng chỉ là 12 năm chứ không đến nỗi “đoạn trường cho hết kiếp này mới thôi”!
Quả là, “đoạn trường ai có qua cầu mới hay”, nếu không dứt bỏ kiều tư duy “ai thắng ai” đó, thì không thể nào chân thành đoàn kết và xác định rõ “đồng thuận” chính là động lực của phát triển. Nhưng xem ra không phải là cái di lụy của “ai thắng ai” không còn gây ảnh hưởng chỗ này chỗ kia, lúc này lúc khác khiến cho công cuộc đổi mới không tránh khỏi những trắc trở gập ghềnh, đã có lúc “bước đi một bước, giây giây lại dừng”. Đúng là cất bỏ gánh nặng tư tưởng của một thời quả là không đơn giản.
Không đơn giản, song nếu không sòng phẳng về mặt lý luận để có sự tường minh trong nhận thức thực tiễn, trong việc hoạch định các giải pháp phù hợp với một thời kỳ mới mà vận nước đang thôi thúc mỗi một người Việt Nam muốn góp phần mình vào sự nghiệp chấn hưng đất nước. Nếu không sòng phẳng về lý luận, khẳng định rõ đồng thuận là động lực, đại đoàn kết là động lực chứ không phải đấu tranh giai cấp là động lực như trước đây, thì không thể thúc đây sự nghiệp Đổi Mới một cách triệt để và toàn diện được. Mà trong thực tế, lực cản của Đổi Mới là quá lớn. Không thể tiếp tục Đổi Mới, nếu không chỉ rõ cội nguồn của lực cản ấy.
Xin hãy dừng lại ở một ví dụ sau đây:
Đã từng một thời có những câu thơ bốc lửa giục giã con người đi làm cách mạng “Đi đi em can đảm bước chân lên / Ừ đói khổ phải đâu là tội lỗi!”. Đúng vậy, và rồi “Nuôi đi em cho đến lớn, đến già ? Mầm hận ấy trong lồng xương ống máu / Để thêm nóng mai kia hồn chiến đấu” thì giờ đây ngẫm lại có cái gì không ổn! Mà không ổn từ chính logic của hệ tư tưởng:
Xin giải thích bằng một câu chuyện trong “Thế giới phẳng”, một cuốn sách bán chạy nhất của người đã đoạt giải thưởng Pulizer, và theo nhận xét của J. E. Stiglitz, người đoạt giải Nobel kinh tế: “Đặc điểm của một cuốn sách hay là nó khiến bạn nhìn nhận mọi thứ theo một nhãn quan mới, và xét theo tiêu chí này thì Friedman đã thật sự thành công”. Chuyện rằng: “ Một người bạn Hồi giáo vùng Nam Á của tôi đã có lần kể cho tôi nghe câu chuyện như sau: Gia đình Hồi giáo Ấn Độ của anh ta bị chia ly vào năm 1948, một nửa sang Pakistan và một nửa ở lại Mumbai. Khi lớn lên, anh ta hỏi cha mình tại sao một nửa gia đình ở Ấn Độ lại có vẻ làm ăn tốt hơn nửa gia đình ở Pakistan. Cha anh nói: “Con ạ, khi một người Hồi giáo lớn lên ở Ấn Độ và trông thấy một người sống trong một tòa biệt thự lớn trên quả đồi, anh ta sẽ nói “Bố ơi, rồi sẽ có ngày con sẽ như ông ta”. Còn khi một người Hồi giáo lớn lên ở Pakistan và thấy một người sống trong một biệt thự lớn trên quả đồi, anh ta sẽ nói “Bố ơi, rồi có ngày con sẽ giết ông ta.” …Khi bạn không tìm được lối ra, bạn thường tập trung vào sự phẫn nộ và gắm nhắm ký ức của mình”. Kể câu chuyện này, Thomas L. Friedman nhằm minh họa cho luận điểm “cho con người một môi trường mà trong đó mọi lời than phiền hay ý tưởng đều có thể được đăng tải trên báo chí, cho họ một môi trường mà trong đó mỗi người đều có thể ứng cử vào một chức vụ- và thử đoán xem điều gì sẽ đến? Họ thường không muốn làm nổ tung thế giới này. Họ muốn trở thành một phần của thế giới”.[tr. 798]
Sự bất an trong tâm hồn khiến người ta dễ dàng manh động theo bản năng. Phúc âm viết: “Kẻ nào rút gươm ra, kẻ ấy đã mở lối điạ ngục”. Nhưng trước khi rút gươm, tâm thức của anh ta đã chứa đầy hờn căm và những nghĩ suy hiểm ác. Nhìn nhận một sự kiện văn hoá, đạo đức, có thể thấy những nguyên nhân trực tiếp, song thực ra, phải nhìn lùi vào bề dày của những hệ luỵ do nhiều nguyên nhân đã gây ra. Bề dày đó có khi phải tính bằng độ dài của sự ra đời và trưởng thành của mấy thế hệ.
Cho nên, văn hoá phải đi trước một bước thì mới tạo ra được nền tảng tinh thần của xã hội, và đánh giá một hiện tuợng phản văn hoá lại phải lùi lại phía sau nhiều bước thì mới thấu tỏ được nguyên nhân. Có vậy mới đưa ra được giải pháp đúng. Tạo ra một hoàn cảnh “có tính người”, tức là tạo ra một môi trường xã hội trong đó “người với người là bạn”, “thương người như thể thương thân” chính là sứ mệnh cao cả của văn hóa.
Đương nhiên, một môi trường như vậy không tự trên trời rơi xuống, chúng ta tiến hành cuộc cách mạng chính là để hướng tới một môi trường như vậy. Nhưng nếu nung nấu trong “lồng xương, ống máu” một “mầm hận” cho “đến lớn, đến già” thì rồi cái gì sẽ đến khi cách mạng đã thành công? Và nếu tính bài thơ ra đời tháng 2 năm 1938, thì chỉ 7 năm sau Cách mạng Tháng Tám thành công, cậu bé “len lét, cúi đầu, tay xách gói” chắc đã trở thành một người giữ trọng trách với cái “mầm hận ấy trong lồng xương ống máu” thì khủng khiếp quá cho những việc anh ta sẽ làm!
Thì chẳng phải cái “mầm hận” ấy vẫn còn trong não trạng của không ít người đang giữ những vị thế đòi hỏi một tư tưởng cởi mở để thật sự có thể hòa hợp dân tộc trên một đất nước mà không một gia đình nào là không phải chịu đựng những vết thương chiến tranh. Và chắc là trong đó có không ít người nằm trong số còn “lướng vướng” với việc thúc đẩy sự nghiệp Đổi Mới một cách triệt để với tâm thế “cũng cho khỏi lụy trong vòng bước ra”!
Chúng ta đã có những trải nghiệm đau đớn với “cải cách ruộng đất”. với đấu tranh chống “Nhân văn-Giai phẩm”, với đấu tranh ai thắng ai bằng “cải tạo tư sản” và “công tư hợp doanh” , rồi quá trình “kế hoạch hóa tập trung, bao cấp”, “hợp tác hóa bậc cao” ngăn sông cấm chợ, khước từ kinh tế thị trường …đã đẩy đất nước đến bên bờ vực sụp đổ. Trước và trong Đại hội XI, người ta chiếu bộ phim “Bí thư tỉnh ủy” thật có ý nghĩa và cũng thật bạo gan. Tôi nghĩ, nếu mỗi đại biểu Đại hội mà xem nghĩ, hiểu kỹ và tự vấn lương tâm của người cộng sản chân chính và đích thực, chắc sẽ đưa được vào Đại hội một luồng gió mới. Nếu soi kỹ vào những sai lầm kéo dài hàng thập kỷ ấy sẽ thấy “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt chính là cái “mầm hận” đã thấm sâu vào trong “lồng xương ống máu” nhằm đẩy tới cuộc đấu tranh giai cấp được xem là động lực thúc đẩy sự phát triển xã hội.
Xin hãy nhớ lại hình ảnh ông Đình, thường vụ Tỉnh ủy, ông Bao, phái viên của TƯ, rồi cao nhất là ông Trung Chính. Riêng tôi, tôi cứ nhớ lại nét mắt chân tình của ông Trung Chính khi ông ấy dặn với theo xe cấp cứu đưa ông Kim đi bệnh viện: “cẩn thận, đưa ngay vào bệnh viện Việt Xô, tôi sẽ gọi điện thoại bảo điều ngay những bác sĩ giỏi nhất chữa trị cho anh ấy”. Liệu ông Trung Chính có hiểu rằng chính ông là nguyên nhân trực tiếp đẩy ông Kim bị bục dạ dày? Ông Kim, người đồng chí trung thành và dũng cảm, người dám chống lại cả một thế lực khủng khiếp đang đẩy nông dân Miền Bắc nói riêng và cả dân tộc vào thảm họa, chính là người được ông Trung Chính “giác ngộ” và kết nạp vào Đảng thời kỳ hoạt động gian khổ trong vòng vây của kẻ thù!
Sự chu đáo, nhân từ nhưng lại cực kỳ cứng rắn trong giữ vững “lập trường quan điểm” của ông TC càng được khắc họa sắc nét bao nhiêu thì càng làm nổi rõ hơn sự khủng khiếp của một cơ chế trói buộc đầu óc con người, làm triệt tiêu mọi sáng tạo và sức chiến đấu của những con người đang giẫy dụa trong sự trói buộc của chiếc mũ kim cô giáo điều và “tả khuynh”. Một trong những di lụy đáng sợ là chính chiếc mũ kim cô ấy trói buộc những đầu óc sáng tạo và những nhân cách trung thực nhưng lại dung dưỡng cho sự tác oái tác quái của đám dòi bọ của cách mạng.
Từ “dòi bọ” tôi nói đấy là dùng lại cách nói của C.Mác: “Có thể Các Mác vui lòng nhắc lại một câu nói mà tôi luôn luôn ghi nhớ trong ký ức của mình: “Tôi đã gieo những con rồng và tôi đã gặt được những con bọ”. Thật có đúng như vậy, song cũng có những con rồng…” [Phạm Văn Đồng. “Hồ chí Minh. Quá khứ, Hiện tại và Tương lai”NXB Sự Thật. 1991, tr. 98].
Vậy thì, gọi đúng tên cúng cơm của cơ chế trói buộc đầu óc con người, làm triệt tiêu mọi sáng tạo và sức chiến đấu của những con người đang giẫy dụa trong sự trói buộc đó chính là chủ nghĩa giáo điều Maoít phản Mácxít từng xem “đấu tranh với người là niềm vui lớn” đem áp đặt vào một xã hội mà tinh thần dân tộc là “động lực lớn nhất của đất nước” như Hồ Chí Minh đã chỉ ra từ năm 1924 để khẳng định rằng: “người ta sẽ không thể làm gì được cho người An Nam nếu không dựa trên động lực vĩ đại và duy nhất ” ấy!
Từ những năm 30, Hồ Chí Minh đã từng chỉ ra rằng: “…phải biết khéo lợi dụng kinh nghiệm. Nếu thấy người ta làm thế nào mình cũng một mực bắt chươc làm theo thế ấy. Thí dụ: nghe người ta nói giai cấp đấu tranh, mình cũng ra khẩu hiệu giai cấp đấu tranh, mà không xét hoàn cảnh nước mình như thế nào để làm cho đúng” [Văn kiện Đảng (Từ 10.8.1935 đến 1939) Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng, Hà Nội, 1964, tr.25].
Ngay từ Hội nghị thành lập Đảng năm 1930, Hồ Chí Minh đã khẳng định nếu không giải quyết được vấn đề giải phóng dân tộc, không đòi hỏi được độc lập tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu mà quyền lợi của bộ phận giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được. Đến năm 1937, Người lại nhắc nhở:”Các đồng chí mắc phải cái bệnh thiên về thợ thuyền lao động quá, có khi chỉ biết những người ấy mà quên hết cả quyền lợi của các tầng lớp, các giai cấp khác, quyền lợi chung của dân tộc cần phải bênh vực. Các đồng chí trong Đảng cần phải hiểu rằng: Đảng ta chẳng những là kẻ bênh vực và lãnh đạo cho giai cấp vô sản mà thôi, mà cũng là kẻ bênh vực và lãnh đạo cho toàn thể dân chúng nữa. Đảng phải làm tròn vai trò ấy.” [Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập 4, NSB Sự Thật, Hà Nội, 1984. tr. 491]
Lịch sử cách mạng Việt Nam đã chứng minh một sự thật không thể bác bỏ là: lúc nào lấy dân tộc làm động lực thúc đẩy cuộc đấu tranh cách mạng, lúc ấy cách mạng giành được thắng lợi, còn lúc nào nống đấu tranh giai cấp lên làm động lực, lúc ấy cách mạng gặp khó khăn. Đặt vấn đề ý thức hệ giai cấp lên trên quyền lợi của tổ quốc, lấy vấn đề trung thành với ý thức hệ đó làm điểm quy chiếu cho đường lối tổ chức và đánh giá, tuyển chọn cán bộ, đã đẩy tới những hệ lụy khó lường. Đã đến lúc cần phải nghiêm cẩn và thẳng thắn chỉ ra.
Một trong những vấn đề ấy là vấn đề chuyên chính vô sản.
Xin gơi ra đây những ý kiến của đồng chí Võ Văn Kiệt đề cập tới vấn đề gay cấn này qua đoạn viết về đồng chí Lê Duẩn: “Trong nhiều lần trao đổi, nhận xét và chỉ đạo những công việc chúng tôi đang tiến hành tại thành phố Hồ Chí Minh, Anh Ba nêu rất nhiều gợi ý hết sức mạnh dạn và sáng tạo. Qua những ý kiến chỉ đạo của Anh, tôi hiểu Anh đang trăn trở về mô hình phát triển của đất nước mình không thể rập khuôn theo mô hình của Liên Xô và các nước XHCN Đông Au, mô hình Trung Quốc. Cũng như trước đây trong chỉ đạo cuộc chiến tranh cách mạng, tôi thấm thía lời căn dặn của Anh: chỉ lúc nào chúng ta độc lập và sáng tạo, xuất phát từ thực tiễn của đất nước, từ lợi ích của dân tộc, lúc ấy chúng ta thắng lợi, lúc nào chúng ta lệ thuộc, giáo điều sao chép của người ta, lúc ấy cách mạng phải trả giá nặng nề.
Tôi hiểu, Anh không tán thành mô hình Xô Viết. Qua tìm hiểu thực tế ở các nước anh em trong phe XHCN và suy ngẫm về lý luận, Anh nhận ra có quá nhiều vấn đề bất ổn. Anh không tán thành áp đặt thể chế nhà nước “chuyên chính vô sản” khi mà nhân dân đã giành lại được quyền làm chủ đất nước mình bằng những hy sinh không sao kể xiết, không thể “vô sản” lại chuyên chính với chính mình, với nhân dân. Tư tưởng về “làm chủ tập thể” mà Anh nung nấu chính là sự cố gắng tìm đường bứt phá ra khỏi những công thức giáo điều không phản ánh được sự vận động và biến đổi của cuộc sống, xa rời ý chí và nguyện vọng của nhân dân.
Đáng tiếc là, những lóe sáng trong bộ óc tìm tòi, sáng tạo của Lê Duẩn chưa được giới lý luận suy nghĩ, bàn bạc một cách nghiêm túc để định hình được một hệ thống lý luận hoàn chỉnh từ sự đúc kết thực tiễn thay vì những lời tụng ca xu thời lúc Anh Ba giữ cương vị Tổng Bí thư và những quy kết vô lối đầy ác ý khi Anh Ba qua đời. Giờ đây nhớ lại, Anh Ba đã từng phê phán những tư tưởng hạn hẹp chỉ bó gọn tầm mắt và mối quan hệ trong COMECOM. Đôi lúc trao đổi với chúng tôi, Anh nghĩ đến việc phải học hỏi thêm những thành tựu kinh tế và mở rộng quan hệ với Châu Âu, với Nhật, với Mỹ. Anh Ba cho rằng đó không chỉ là chuyện chính sách và chiến thuật, mà phải ở tầm đường lối cơ bản. Trong suy nghĩ về đường lối phát triển kinh tế, Anh Ba cũng đã từng nói đến kinh tế hộ, kinh tế hợp tác và kinh tế tư nhân chứ không phải chỉ nhấn mạnh quốc doanh là ưu việt nhất một cách tràn lan mọi ngành, mọi lúc. Ngay cả vấn đề “khoán hộ” của đồng chí Kim Ngọc ở Vĩnh Phú, mặc dầu lúc ấy đã có kết luận chính thức, song Anh Ba vẫn động viên cần tiếp tục tìm tòi cái mới trong quản lý sản xuất nông nghiệp..
Chính tôi đã nhiều lần nghe Anh Ba phê phán những khuyết tật cơ bản của kế hoạch hóa tập trung quan liêu, và đòi hỏi phải dám mạnh dạn tìm tòi cơ chế mới phù hợp với từng bước phát triển của đất nước mình. Anh Ba đã có lần gợi ý với chúng tôi những vấn đề cần suy nghĩ về vai trò của giá, của tài chính tiền tệ, những công cụ và đòn bẩy chính của kinh tế thị trường mà ta nói hiện nay. Rõ ràng là, từ rất sớm, bộ óc lớn ấy đã từng lóe sáng những suy tư về đổi mới như tôi đã nói ở trên.
Chỉ có điều, từ những trăn trở trong suy nghĩ nhằm định hình những vấn đề thuộc về đường lối, đến việc vận dụng vào thực tế, có cả một khoảng cách rất xa. Ở cương vị cao nhất của Đảng, gánh vác những công việc lớn lao của đất nước sau khi Bác Hồ qua đời, đồng chí Lê Duẩn không thể không chịu trách nhiệm về những sai lầm của Đảng, làm chậm sự phát triển của đất nước mà Đại hội VI của Đảng đã chỉ ra. Cho đến hôm nay, tôi vẫn băn khoăn suy nghĩ về một số vấn đề lớn được Đại hội IV quyết định. Đành rằng trong bối cảnh lịch sử lúc bấy giờ, thoát ra khỏi những lối mòn đã định hình quá lâu trong đầu óc của những nhà lãnh đạo có trách nhiệm hoạch định đường lối không hề là chuyện đơn giản. Nhưng ở cương vị Tổng Bí thư, đồng chí Lê Duẩn phải chịu trách nhiệm những gì và như thế nào. Để làm rõ những vấn đề có ý nghĩa lớn ấy trong lịch sử Đảng nhằm đúc kết những bài học cho những thế hệ hôm nay và mai sau, không thể là những phát biểu tùy tiện, mà phải là những nghiên cứu nghiêm túc với tinh thần trung thực và khách quan.
Năm tháng đã trôi qua, khi viết những dòng này, lòng tôi vẫn bồi hồi xúc động nghĩ đến một hình ảnh đang chiếm giữ trong tim óc tôi một vị trí thật thiêng liêng và gần gũi. Sau Bác Hồ vĩ đại và kính yêu, hình ảnh thân thiết nhất, cảm phục nhất, có sức động viên và nâng tôi lên chính là hình ảnh của đồng chí Lê Duẩn, Anh Ba Duẩn kính mến.”
Thế nhưng sau khi bài này vừa đăng lên thì 2 hôm sau trên báo Sài Gòn Giải phóng của một người từng nắm công tác lý luận đã lên tiếng bác bỏ. Trong lập luận, bài viết ấy vẫn khẳng định nhà nước của ta hiện nay, về thực chất vẫn thực hiện nội dung chuyên chính vô sản! Tôi vẫn giữ lại tờ báo có đăng bài ấy nhưng xin miễn nêu ra ở đây.
Vì sao vậy?
Đây là vấn đề cực kỳ phức tạp và nhạy cảm. Sự định hình của nguồn mạch tư duy, nhất là đối với những người đã cao tuổi, vốn sống với hào quang của quá khứ, thật khó mà dứt bỏ khỏi đầu óc mình những cái vốn đã ăn vào máu thịt và là niềm kiêu hãnh lớn , một giá trị được xây đắp vun quén trong cả một đời. Những người từng gánh vác trách nhiệm cao, từng vào tù ra tội, từng chịu đựng mưa bom bão đạn sẽ lại càng khó dứt bỏ những ngộ nhận và sai lầm. Tự vượt lên chính mình là thử thách khó nhất đối với bản lĩnh một con người. Đấy là chưa nói sự lạc hậu với tình hình, không kịp thời nắm bắt thong tin, chỉ quen sống với những giá trị đã định hình cho dù những giá trị bị ngộ nhận hoặc đã “quá đát” trở thành vật cản cho tư duy.
Phải chăng ở đây có thể mượn ý Nguyễn Du qua lời của bóng ma Đạm Tiên nói với nàng Kiều “Rỉ rằng nhân quả dở dang. Đã toan trốn nợ đoạn trường được sao” cho dù là “Ma đưa lối, quỷ dẫn đường, Lại tìm những chốn đoạn trường mà đi”. Thật ra, một khi mà “Một giây một buộc ai giằng cho ra” thì “đố ai gỡ mối tơ mành cho xong” nếu không tự mình giải phóng cho chính mình mà ngay đến khi đã có thể “Đoạn trường sổ rút tên ra” thì vẫn cứ “Cuộc vui gãy khúc đoạn trường” [ấy chi ]! Mà có chuyện đó vì nó có nguồn mạch từ trong quá trình vận động cách mạng.
Xin gợi lại vài tư liệu lịch sử để thấy rằng chính Hồ Chí Minh cũng đã từng là nạn nhân của sự “độc quyền chân lý, áp đặt tư duy, tùy tiện quy kết” từ những cấp rất cao khi kiên định quan điểm về dân tộc, không tán thành thổi phồng vấn đề giai cấp. Chẳng hạn, vì lý do ấy mà Staline không tiếp Hồ Chí Minh, chưa chịu công nhận nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà cho mãi đến năm 1950 sau cuộc gặp ở Matxcơva.
Một tài liệu cho biết cuối cùng Staline cũng nhận tiếp Hồ Chí Minh, ngay tại phòng làm việc của mình, với sự có mặt đông đủ các nhà lãnh đạo chủ chốt của Liên Xô, phía Trung Quốc có Đại sứ Trung Quốc Vương Gia Tường, phía Việt Nam có Trần Đăng Ninh. Staline mở đầu: Chúng ta là những người bạn, người anh em thân thiết, gặp đồng chí hơi muộn một chút, xin thứ lỗi! Hồ Chí Minh báo cáo tóm tắt tình hình cơ bản về Đảng Cộng sản Đông Dương, về cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Việt Nam và đề nghị Liên Xô giúp đỡ…Staline phát biểu chậm rãi nhưng rành rọt, đại ý:
– Tại sao các đồng chí tự ý giải tán Đảng? Đồng chí tưởng lừa được chủ nghĩa đế quốc à, chính là đồng chí lừa chúng tôi, vì ở xa, không biết thực hư thế nào (có ý trách là không xin ý kiến).
– Chính phủ các đồng chí là cái chính quyền gì, sao mà lắm nhân sĩ, trí thức, địa chủ, quan lại thế? (ý nói không phải chính quyền công nông).
– Tại sao đến nay các đồng chí không tiến hành cải cách ruộng đất? Để đánh thắng đế quốc Pháp, sự chi viện của quốc tế là cần thiết, nhưng phải phát động quần chúng, động viên quần chúng, đem lại lợi ích thiết thân cho họ, đó mới là điểm mấu chốt làm nên thắng lợi. Staline tỏ ý không hài lòng lắm, hỏi: trong 2 cái ghế dân tộc và giai cấp, đồng chí ngồi trên cái ghế nào? (có ý phê bình lập trường giai cấp còn mơ hồ ).
– Về vấn đề viện trợ cho cuộc kháng chiến của Việt Nam, Staline nói: Cách mạng Trung Quốc nay đã thành công, Trung Quốc đã trở thành trung tâm của cách mạng châu Á, từ nay chi viện cho Việt Nam sẽ do Trung Quốc đảm nhiệm, vì sát với Việt Nam. Liên Xô có nhiệm vụ giúp Trung Quốc xây dựng kinh tế, những vũ khí chúng tôi giúp Trung Quốc, nay kết thúc chiến tranh, cái gì không dùng nữa, hợp với Việt Nam, thì có thể chuyển cho Việt Nam (như một sự phân công quốc tế); đồng thời Staline cũng nhắc nhở Việt Nam phải ra sức học tập kinh nghiệm của Trung Quốc.
Tóm lại, Liên Xô không muốn dính vào vấn đề Việt Nam ở thời điểm này. Cuộc đón tiếp được coi là hờ hững. Trong cuộc tiếp, nhân trên bàn có cuốn họa báo “Liên Xô trên công trường”, có ảnh Staline, Hồ Chí Minh bèn xin Staline một chữ ký để làm kỷ niệm. Staline ký tặng rồi sau đó sai KGB bí mật lấy lại. Điều này làm cho Hồ Chí Minh rất bức xúc: “Làm sao lại có thể có chuyện đó giữa những đồng chí cộng sản với nhau”?.
[Theo Trương Quảng Hoa: “Ghi chép bí mật về quyết sách giúp Việt Nam chống Pháp”, đăng trên Tạp chí Viêm hoàng xuân thu, số 10 năm 1995.]
Hiểu sự kiện này có ý nghĩa như thế nào mới thấy ra được bản lĩnh của Hồ Chí Minh, những khó khăn mà Hồ Chí Minh phải vượt qua như thế nào. Gay gắt nhất là khó khăn do các đồng chí của mình gây ra. Trần Phú, Ngô Đức Trì là những học viên lớp đầu của trường Phương Đông trong khoảng thời gian từ 1927 đến 1930, đã được đào luyện rất kỹ theo tinh thần “giai cấp chống giai cấp” của Đại hội VI, trở thành những người cộng sản ‘cứng rắn”, được cử về để “uốn nắn” lại những “sai lầm” của Nguyễn Ái Quốc!
Người phê phán gay gắt nhất Nguyễn Ái Quốc là Trần Phú. Tại Hội nghị TƯ tháng 10-1930, Trần Phú đã phê phán những sai lầm về chính trị và tổ chức của Hội nghị hợp nhất là “chỉ lo đến việc phản đế mà quên mất lợi ích giai cấp đấu tranh, ấy là một sự rất nguy hiểm”, về “chia địa chủ làm đại, trung và tiểu địa chủ”, về “nóí phải lợi dụng bọn tư bản mà chưa rõ mặt phản cách mạng”, cùng một số sai lầm khác, sau đó ra nghị quyết ‘thủ tiêu Chính cương, Sách lược và Điều lệ cũ của Đảng” [Văn kiện Đảng Toàn Tập, NXB Chính trị Quốc gia, 1998, t. 2, tr. 110-112]. Sau Hội nghị TƯ 10-1930, trong thư gửi Quốc tế Cộng sản ngày 17-4-1931, ông còn phê phán nội dung Hội nghị hợp nhất “mang nặng dấu ấn các tổ chức cách mạng cũ, các vấn đề cơ bản đều mâu thuẫn với đường lối Quốc tế Cộng sản (do thiếu một chính sách giai cấp),…mang dấu ấn nhất định của thời kỳ Quốc -Cộng hợp tác 1925-1927” [Tài liệu lưu trữ tại Phòng QTCS, nay là Trung tâm bảo tồn và nghiên cứu các tài liệu lịch sử hiện đại Nga, viết tắt là R.C. ký hiệu 495.154.462.]
Thời gian này, Hà Huy Tập đã trở về Trung Quốc, đứng đầu Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng. Ngày 31-3-1935, trong thư gửi Quốc tế Cộng sản, ngoài nội dung chính là báo cáo kết quả của Đại hội Ma Cao, trong 10 điểm nói thêm, có 2 điểm báo cáo về Nguyễn Ái Quốc, ở điểm thứ mười, ông đã viết: “Ở Xiêm và Đông Dương, các tổ chức cộng sản đã tiến hành một cuộc đấu tranh công khai chống lại những tàn dư của tư tưởng dân tộc cách mạng pha trộn với chủ nghĩa cải lương của đảng Thanh niên và của đ/c Nguyễn Ái Quốc, những tàn dư ấy rất mạnh và tạo thành một chướng ngại nghiêm trọng cho sự phát triển chủ nghĩa cộng sản…Chúng tôi đề nghị đ/c Lin viết một quyển sách để tự phê bình những khuyết điểm đã qua”. [Văn kiện Đảng TT, t. 5, tr. 204]
Ngay cả khi được tin Nguyễn Ái Quốc đã lâm bệnh, qua đời ở Hồng Kông, trong bài viết như để truy điệu, Hà Huy Tập cũng không quên nhắc đến những “sai lầm” của Nguyễn Ái Quốc: “Công lao mà ông đã đóng góp cho Đảng chúng ta thật là lớn. Song các đồng chí chúng ta trong lúc này không được quên những tàn dư dân tộc chủ nghĩa của Nguyễn Ái Quốc, các chỉ thị sai lầm của ông về những vấn đề cơ bản của phong trào cách mạng…Ông đã không đưa ra bàn luận trước về những sách lược mà Quốc tế Cộng sản đòi hỏi phải áp dụng để loại bỏ những phần tử cơ hội trong Đảng. Ngoài ra, ông còn khuyến dụ một sách lược cải lương và hợp tác sai lầm: trung lập hóa tư sản và phú nông, liên minh với trung và tiểu địa chủ”. [Bài đăng trên Tạp chí Bônsêvích (Cahier du Bolchévisme) số 8, tháng 12-1934. Dẫn lại theo Daniel Hemery: Ho Chi Minh, De l’Indochine au Viet Nam , p. 73].
Cái logic của định hướng tư tưởng ấy sẽ đẩy cuộc sống đi tới theo chiều hướng cực tả. Mà vì vậy, muốn là người cách mạng kiên định thì phải đi theo hướng ấy. Đây chính là điểm quy chiếu của lập trường quan điểm và chỉ đạo đường lối chính sách cũng như hành động thực tiễn. Từ trước Đổi Mới, đây là điểm tựa cơ bản. Hiểu điều này, mới hiểu được bản lĩnh của Hồ Chí Minh vào năm 1951, khi Đảng có điều kiện để ra công khai đã đổi tên Đảng là Đảng Lao Động Việt Nam: “Chính vì Đảng Lao động Việt Nam là đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cho nên nó phải là Đảng của dân tộc Việt Nam” 1. Chỉ rõ “Đảng phải là Đảng của dân tộc Việt Nam”, khẳng định dân tộc, lợi ích của dân tộc là mục tiêu chiến đấu, quan điểm ấy, ý chí ấy nhất quán trong tư tưởng Hồ Chí Minh từ đầu chí cuối. Ngay từ 1924, Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: “Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn nhất của đất nước … Người ta sẽ không thể làm gì được cho người An Nam nếu không dựa trên các động lực vĩ đại, và duy nhất của đời sống xã hội của họ”. Chính vì vậy, “Chính cương và Sách lược” do Nguyễn Ái Quốc nêu nổi bật tư tưởng “mặt trận toàn dân” và “thống nhất dân tộc” để đánh đổ thực dân và phong kiến để rồi phải gánh chịu cái tội: “mang hệ tư tưởng quốc gia cách mạng pha trộn với tư tưởng cải lương và duy tâm chủ nghĩa” vì không quán triệt quan điểm của Staline “giai cấp đấu tranh là quan trọng nhất và ngày càng có tính chất kịch liệt” rất xa lạ với quan điểm của Lênin về vấn đề dân tộc. Chính vì thế “…phải biết khéo lợi dụng kinh nghiệm. Nếu thấy người ta làm thế nào mình cũng một mực bắt chươc làm theo thế ấy. Thí dụ: nghe người ta nói giai cấp đấu tranh, mình cũng ra khẩu hiệu giai cấp đấu tranh, mà không xét hoàn cảnh nước mình như thế nào để làm cho đúng” . Trong thư “Kính cáo đổng bào” viết ngày 6.6.1941, Nguyễn Ái Quốc khẳng định: “Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy…Hiện thời muốn đánh Pháp đuổi Nhật ta chỉ cần một điều: Toàn dân đoàn kết.”
Trong bài “Đại đoàn kết dân tộc, cội nguồn sức mạnh của chúng ta”, viết năm 2005 Võ Văn Kiệt giải thích: “Đoàn kết đồng thời có nghĩa là phải khoan dung. Chính phủ Hồ Chí Minh chủ trương xóa bỏ mọi hận thù và chia rẽ do chế độ cũ để lại, sẵn sàng thu dụng những người có tài, có năng lực, có tâm huyết, mà không kể đến quá khứ…Đến Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II đầu năm 1951, vấn đề đại đoàn kết được đặt ra và nhìn nhận trong những hoàn cảnh khác. Đã có không ít ý kiến xung quanh vấn đề này. Bác kết luận: “Chính vì Đảng Lao động Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cho nên nó phải là Đảng của dân tộc Việt Nam”. Lời giải thích đó của Bác có sức thuyết phục mạnh mẽ trong Đại hội Đảng.
Về phần mình, trải qua bao năm tháng suốt từ trước Cánh mạng Tháng 8 năm 1945 đến ngày nay, từ những phút gian nguy giữa sống và chết, đến những ngày chia ngọt sẻ bùi từng thắng lợi, tôi đã bao lần được đồng bào che chở cưu mang, đã chứng kiến bao tấm gương hy sinh của những người thuộc mọi tầng lớp và lứa tuổi…tôi càng thấm thía những bài học lớn đó của Hồ Chí Minh. Tiếc rằng một số năm sau đó, tư tưởng đại đoàn kết đã bị coi nhẹ, quan điểm giai cấp đã được vận dụng một cách máy móc, một chiều…Tư tưởng thành phần chủ nghĩa đã dẫn tới hai hậu quả: làm mất đi nhiều tài năng của một bộ phận đáng kể trong dân tộc, đồng thời đưa một cách gượng ép những nhân tố tuy rất cơ bản về chính trị nhưng lại không đủ chất lượng vào quản lý và xây dựng ”.
Xin hãy chỉ gợi lên một chuyện mà theo người kể là “ít người biết” trong Mậu Thân 1968: Khi bàn về các mục tiêu phải tiến công, một số anh lãnh đạo không đề ra mục tiêu tòa Đại sứ Mỹ”, với tư cách là Bí thư Khu ủy Sài Gòn – Gia Định, ông Sáu Dân khẳng định: “Không đúng. Đánh vào đô thị là đánh vào đầu não chiến tranh của địch. Đầu não của chế độ Sài Gòn là Dinh Độc Lập và tòa Đại sứ Mỹ. Phải khẳng định đây là hai mục tiêu hàng đầu phải tiến công vì ý nghĩa chính trị của nó… Kháng chiến tức là phải đánh giặc, phải có quân đội, có vũ khí, có ý chí gang thép; nhưng nếu không hiểu khía cạnh chính trị của cuộc chiến đấu thì không thể hiểu gì về cuộc chiến tranh cách mạng của nhân dân ta cả”. Chính con người có ý chí gang thép đó, con người từng thường trực nơi dầu sôi lửa bỏng trong cả hai cuộc kháng chiến, con người đó hiểu rõ ý nghĩa chính trị của sự nghiệp giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước nên từ đỉnh cao của chiến thắng 30 tháng 4 lịch sử đã dám thẳng thắn chỉ ra: “Chiến thắng của chúng ta là vĩ đại, nhưng chúng ta cũng đã phải trả giá cho chiến thắng đó bằng cả nỗi đau và sự mất mát. Lịch sử đã đặt nhiều gia đình người dân miến Nam rơi vào hoàn cảnh có người thân vừa ở phía bên này, vừa ở phía bên kia, ngay cả họ hàng tôi cũng vậy. Vì thế, một sự kiện liên quan đến chiến tranh khi nhắc lại, có hàng triệu người vui, mà cũng có hàng triệu người buồn. Đó là một vết thương chung của dân tộc cần được giữ lành thay vì lại tiếp tục làm cho nó thêm rỉ máu… Chúng ta đang nắm quyền lãnh đạo đất nước, muốn để mọi người Việt cùng chung tay tạo dựng thì chúng ta phải thực tâm khoan dung và hòa hợp.”
Không có một bản lĩnh chính trị vững vàng để hiểu rõ ý nghĩa chính trị cao cả của sự nghiệp chiến đấu với bao hy sinh của nhiều thế hệ Việt Nam, sẽ không thể đưa ra được tư tưởng mà nhất thời có thể chưa là cách nghĩ của số đông. Không có một sự tường minh về mục tiêu cao cả của sự nghiệp cách mạng của Đảng và của dân tộc, sẽ không dám đặt ra những vấn đề gai góc và dễ động chạm trong đời sống tinh thần của cả xã hội như vậy. Phải có một niềm tin mãnh liệt vào lý tưởng vĩ đại mà vì nó dám chấp nhận mọi hy sinh như bản thân mình đã từng trải nghiệm, mới có được bản lĩnh dám chịu trách nhiệm về những ý tưởng mang tính đột phá có ý nghĩa mở đường theo kiểu ấy. Nếu không có bản lĩnh như vậy, sẽ không thể công khai và thẳng thắn đặt ra những vấn đề gai góc và nhạy cảm mà ông hiểu rằng tất yếu sẽ gặp không ít lực cản, mà lực cản ấy sẽ không nhỏ, thậm chí là dai dẳng. Nhưng rồi cuộc sống đã cho thấy, những ý tưởng như vậy của Võ Văn Kiệt đã được đông đảo các tầng lớp nhân dân đón nhận, đặc biệt là đối với những đầu óc ưu thời mẫn thế.
Ấy thế mà cũng có những lúc những đầu óc “ưu thời mẫn thế” cũng bị cuốn theo cơn lốc thời cuộc để đưa ra những thông điệp mà tỉnh táo ngẫm nghĩ lại không khỏi không có những băn khoăn. Xin được dẫn ra vài câu thơ của những tác giả tên tuổi đã từng một thời được đưa vào sách giáo khoa và hiện nay vẫn là những tên tuổi lớn được xã hội trân trọng. Nhằm tụng ca những thành tựu của chế độ, nhà thơ khẳng định: “Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng…Những ngày tôi sống đây là ngày đẹp hơn tất cả” [Chế Lan Viên]. Từ trong sự thăng hoa của cảm xúc đó để nhìn nhận về ông cha mình như sau: “Cha ông xưa từng đấm nát tay trước cửa cuộc đời / Cửa vẫn đóng và đời im ỉm khóa” [Chế Lan Viên].. Bởi vậy, “Một câu hỏi lớn không lời đáp / Cho đến bây giờ mặt vẫn chau”![Huy Cận].
Trong “hội chứng tụng ca” ấy, những bước đi quá đà đã vô tình để lại những hậu quả rất lớn nhưng không dễ nhận ra nếu không thật tỉnh táo nhìn thẳng vào sự thật và không tránh né những vấn đề “nhạy cảm” rất dễ bị quy kết về “lập trường, quan điểm” của lối “độc quyền tư tưởng, áp đặt tư duy, tùy tiện quy kết”. Lối “độc quyền” ấy đẻ ra cái khẩu khí quen thuộc khi bàn về lịch sử “do chưa có được cái này cái nọ soi sáng cho nên…” với sự tự mãn một cách lố bịch rằng chỉ “từ khi có cái này cái nọ” thì lịch sử mới vượt khỏi những hạn chế.
Ở đây gợi nhớ đến một phân tích lạnh lùng, sắc sảo của Gustave le Bon trong “Tâm lý học đám đông”: “Chẳng gì chứng minh rõ hơn sự mê hoặc do một niềm tin chung gây ra, nhưng cũng chẳng gì chỉ ra rõ hơn những giới hạn nhục nhã của trí tuệ con người”! Bởi vậy ngẫm cho kỹ, sẽ nhận ra sự dễ dãi đến bạc bẽo khi đưa ra những phán xét, cho dù bằng những rung động thẩm mỹ có phần cảm tính, về ông cha.
Ông cha ta đâu có “bế tắc”, cái “câu hỏi lớn” mà nhà thơ cho là “không lời đáp” là gì nếu không là vận mệnh của đất nước? Mà nếu thế thì ông cha ta đã từng đưa ra những lời đáp thật thuyết phục với những bằng chứng lịch sử không thể bác bỏ. Nếu không biết cách trả lời những câu hỏi lớn của lịch sử, của thời đại mà các cụ sống thì làm sao đất nước này, dân tộc này có thể hiên ngang trụ vững bên cạnh anh láng giềng chỉ chực có cơ hội là nuốt gọn mình. Chính vì biết cách trả lời những “câu hỏi lớn” của lịch sử mà biết chuyển yếu thành mạnh, lấy ít địch nhiều, biết cách chế ngự cái thế “trứng chọi đá” để có thể ra Tuyên ngôn “Nam quốc sơn hà, nam đế cư, Tiệt nhiên định phận tại thiên thư””.
Những rung động thẩm mỹ có phần cảm tính, về ông cha dẫn ra ở trên, xét cho cùng, là bị chi phối bởi lối tư duy và lập luận rất cực đoan rằng chỉ từ 1930, dân tộc mới thật sự biết ngẩng cao đầu! Cho nên, chỉ những gì được ra đời từ cột mốc ấy mới có một giá trị được xếp trên tất cả, hơn tất cả.“Ta nhất quyết đồng hồ Liên Xô tốt hơn đồng hồ Thụy sĩ…Mường tượng rằng trăng Trung Quốc tròn hơn trăng nước Mỹ”* . Mà không thấy được “Những vết bùn trên tận đỉnh chín tầng cao”* [Việt Phương] để có sự thấu đáo và tỉnh táo trong giáo dục và đào tạo con người.
Sai lầm nguy hại nhất là chỉ tập trung vào giáo dục lý tưởng mà lơ là xây đắp cái nền tảng nhân văn trong định hình nhân cách cho thế hệ trẻ để từ đó mà giáo dục lý tưởng. Lý tưởng đương nhiên là quan trọng, song không nên cho rằng lý tưởng của Lý Tử Trọng của thế kỷ XX là cao hơn lý tưởng của Trần Quốc Toản thế kỷ XIII. Và lại càng phải thấy cho rõ phạm trù lý tưởng gắn liền với mục đích và ý nghĩa của cuộc sống con người. Tùy thuộc vào sự nhận thức về mục đích và ý nghĩa cuộc sống của từng người, từng nhóm xã hội mà có sự định hình lý tưởng . Khi Trần Quốc Toản ghi trên lá cờ của mình sáu chữ “Phá cường địch, báo Hoàng ân” thì đó là sự thể hiện lý tưởng trung quân ái quốc của chàng tuổi trẻ quý tộc đời nhà Trần. Đừng nghĩ rằng lý tưởng “trung quân ái quốc” là thấp hơn lý tưởng “trung với nước, hiếu với dân” mà không thấy mỗi giai đoạn lịch sử có những đòi hỏi mang tính đặc thù. Người ta quên rằng “mỗi thời kỳ lịch sử đều có những quy luật riêng của nó…Một khi cuộc sống đã vuợt qua một thời kỳ phát triển nhất định, đã từ giai đoạn này bước sang giai đoạn khác, thì nó cũng bắt đầu bị những quy luật khác chi phối”. Đây là sự phân tích của Các Mác [C.Mác và Ph.Angghen toàn tập. NXBCTQG Tập 23.1993. tr. 34].
Quả thật chân lý vốn đơn giản, nhưng nhận thức cho được sự đơn giản đó hóa ra không đơn giản chút nào. Ông Võ Văn Kiệt đã có lần lập luận về những vấn đề hết sức gay cấn một cách rất dung dị: “Cách mạng tháng 8 năm 45 đánh đổ thực dân phong kiến là chuyện tất yếu phải làm để giành lại độc lập cho đất nước và tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Nhưng rồi theo trớn đó mà chửi phong kiến tùm lum thì vô tình đã chửi cha ông mình chứ còn gì nữa! Thử hỏi các vua Trần cùng Trần Hưng Đạo ba lần đánh tan quân Nguyên, Lê Lợi cùng Nguyễn Trãi diệt quân Minh xâm lược và lên ngôi vua thì đều là “phong kiến” cả chứ gì? Liệu có ai dung túng cho chuyện xúc phạm đến ông cha? Thế mà cứ thoải mái chửi phong kiến thì khoa học cái nỗi gì?”. Chẳng phải chỉ đối với chuyện của tiền nhân, ngay cả chuyện đang diễn ra cũng vậy thôi.
Sẽ quá dài dòng để phải nhắc lại một thời mà chủ nghĩa nhân văn bị phê phán do chịu ảnh hưởng của giáo điều Maoít, chỉ coi trọng “giai cấp tính”, phải đặt vấn đề “nhân tính” trong cái lăng kính giai cấp để chịu sự chi phối của “giai cấp tính”. Hệ lụy của nó thì chắc không phải kể ra đây nữa.
Khi chỉ chuyên chú giáo dục lý tưởng theo định hướng ấy, người ta dễ dàng bỏ qua những phẩm chất “người” trong quan hệ giữa người và người từ trong gia đình, cộng đồng xã hội nhỏ nhất, đến nhà trường, một cộng đồng lớn hơn của tuổi trẻ , và hàng xóm láng giềng “tối lửa tắt đèn có nhau” cho đến cộng đồng lớn là xã hội. Đặc biệt nguy hiểm là khi thần tượng của lý tưởng bị sụp đổ, nếu thiếu một nền tảng nhân văn vững chắc được hun đúc từ tấm bé, niềm tin của con người bị chao đảo, định hướng của hành vi do vậy cũng bị nhiễu loạn, bị xáo trộn.
Sự suy thoái đạo lý xã hội cần tìm về sự chao đảo, xáo trộn này. Những “siêu đám cưới”, “hội chứng lấy chồng ngoại”, những cảnh bạo lực học đường, các clip quay nữ sinh đánh nhau một cách dã man giữa đường phố dưới con mắt bình thản của người chứng kiến, thậm chí còn cổ vũ và tranh thủ quay video…được mọc lên từ môi trường xã hội ấy.
Nhà văn hóa Nguyễn Khắc Viện đã có một khuyến cáo thật đáng suy ngẫm khi bàn về giáo dục và đào tạo con người: “Để cho trẻ sống hoàn toàn đầy đủ thời thơ ấu của nó, sau lớn lên nó sẽ sống đời người lớn một cách hoàn toàn đầy đủ” . “Sống hoàn toàn đầy đủ thời thơ ấu” trên nền tảng của chủ nghĩa nhân văn. Đó sẽ là đảm bảo cho việc “sống đời người lớn một cách hoàn toàn đầy đủ”. Chủ nghĩa nhân văn ấy đang được nâng lên trong bối cảnh của nền văn minh mới, nền văn minh trí tuệ và nền kinh tế tri thức của thế kỷ XXI. Trong nền văn minh đó,“sự thay đổi vĩ đại nhất sẽ là sự thay đổi về tri thức-về hình thức và nội dung, về ý nghĩa của tri thức, về trách nhiệm của tri thức và về những đặc điểm của con người có giáo dục”.
Vậy thì hiện nay, môi trường giáo dục của chúng ta đang như thế nào? Liệu chúng ta có thể “để trẻ sống hoàn toàn đầy đủ thời thơ ấu của nó” trong môi trường chúng ta đang sống không? Nếu xét đến cùng, lý tưởng phải được hình thành, củng cố và phát huy sức mạnh của nó trên nền tảng của chủ nghĩa nhân văn thì chúng ta đang thiếu hụt chính cái nền tảng đó. Thiếu cái nền tảng đó, lý tưởng sẽ thiếu mất tính bền vững và và chiều sâu nhân bản. Sẽ quá dài dòng để phải nhắc lại một thời mà chủ nghĩa nhân văn bị phê phán do chịu ảnh hưởng của giáo điều Maoít, chỉ coi trọng “giai cấp tính”, đặt vấn đề “nhân tính” trong cái lăng kính giai cấp để chịu sự chi phối của “giai cấp tính”. Hệ lụy của nó thì chắc không phải kể ra đây nữa.
Khi chỉ chuyên chú giáo dục lý tưởng, người ta dễ dàng bỏ qua những phẩm chất “người” trong quan hệ giữa người và người từ trong gia đình, cộng đồng xã hội nhỏ nhất, đến nhà trường, một cộng đồng lớn hơn của tuổi trẻ, và hàng xóm láng giềng “tối lửa tắt đèn có nhau” cho đến cộng đồng lớn là xã hội. Đặc biệt nguy hiểm là khi thần tượng của lý tưởng bị sụp đổ, nếu thiếu một nền tảng nhân văn vững chắc được hun đúc từ tấm bé, niềm tin của con người bị chao đảo, định hướng của hành vi do vậy cũng bị nhiễu loạn, bị xáo trộn. Sự suy thoái đạo lý xã hội cần tìm về sự chao đảo, xáo trộn này.
Chỉ xin gợi ra đây đôi dòng về sự xáo trộn đó do thiếu một tầm nhìn văn hóa trong quản lý kinh tế và quản lý xã hội. Chắc nhiều người không để ý đến hai chữ “đại gia” đang là ngôn từ thời thượng. Tệ hại hơn nữa, gắn liền với “đại gia” , là tiền, thật nhiều tiền, nhất là đô la. Đến nỗi báo chí rất hào phóng cho việc lăng xê tên tuổi của một chàng trai vô công rồi nghề sống trên đống tiền của mẹ để có thể thay đổi xoành xoạch kiểu xe ô tô đời mới nhất, xịn nhất có biệt hiệu là “Đô La”. Mùi mẩn hơn nữa là chàng ‘Đô La” lại “đôi lứa xứng đôi” với một nàng “siêu sao” ca nhạc, rồi đứa con của “đôi lứa xứng đôi” ấy cũng được các cây bút có nghề xưng tụng nửa kín nửa hở trên nhiều trang báo!
Và các nhà quản lý văn hóa quên mất rằng, đây là cách cổ vũ cho một lối sốngchạy theo đồng tiền, treo một “tấm gương sống động”, thúc đẩy một thị hiếu dung tục nếu chưa muốn nói là thấp hèn cho giới trẻ. Trong lúc đó, lại ra sức chê trách, dè bỉu, đe dọa, đàn áp và bắt bỏ tù, bị đạp vào mặt những thanh niên, sinh viên có bản lĩnh dám xuống đường biểu thị lòng yêu nước và tinh thần bất khuất quyết không chịu cúi đầu trước những hành động ăn cướp và xâm lược của bọn bành trướng Bắc Kinh. Một nghịch lý đang được đóng dấu và tuyên truyền rộng khắp!
Và rồi, từ cực đoan này lại nhảy sang một cực đoan khác, những biểu tượng “phong kiến” từng bị đào sâu chôn chặc nay hình như lại có sức hấp dẫn nên người ta đua nhau đắt tên bằng những “tước hiệu” tưởng đã vĩnh viễn chôn dưới đất đen: cho sang thì khách sạn phải mang tên là “Hotel Hoàng Đế,” cho quý thì công ty phải là “Công ty Hoàng Gia”, cho oai thì quán ăn thời thượng phải là “Quán Ngự Thiện”, cho giàu sức vẫy gọi thì khu nghỉ mát phải là “Resort Quý Tộc”….
Có thể là nhà quản lý có tầm nhìn bao dung và cởi mở nhằm cất cánh cho những ý tưởng sáng tạo, nhưng cũng có thể người ta bận cho việc kiểm tra tầm soát chặt chẽ những “biểu hiện nguy hiểm” khác như thủ đoạn “diễn biến hòa bình” chẳng hạn, mà tạm buông cho những cực đoan xô bồ kia. Và rồi người ta cũng quên luôn những điều vừa kể là hết sức đối nghịch với những chuẩn mực trong “ý thức hệ” mà họ có sứ mệnh thiêng liêng” là phải giữ vững. Thế đó!
Gợi lên những điều không lấy gì thoải mái, ngược lại, hình như gọi dậy một cảm giác xấu hổ về những hiện tượng đang dày vò lương tâm của chúng ta. C.Mác có nói “Hãy làm cho sự nhục nhã càng thêm nhục nhã bằng cách công bố nó lên”, xin được thay từ nhục nhã bằng từ “xấu hổ” để bớt đi sự gay gắt. Đừng quên rằng chính sự xấu hổ làm cho chúng ta có thêm dũng khí để vượt lên chính mình. Trong “Sáng thế ký ” có chuyện Adam và Eve sau khi ăn trái cấm thì bỗng nhiên phát hiện ra sự trần truồng của mình.Cảm giác xấu hổ xuất hiện. Và cả hai đều bứt chiếc lá vả để che đi bộ phận sinh dục. Chiếc lá vả ấy, theo Franz Werfel, một nhà văn Đức, là “tài liệu văn hóa đầu tiên của loài người! Không là chiếc lá vả đang nằm trên cây, mà là chiếc lá vả được con người sử dụng để biểu thị nhận thức và cảm xúc của mình, là biểu tượng của con người tự ý thức được về mình. Cái cảm giác “biết xấu hổ” là một thuộc tính người.
Chính vì biết xấu hổ khiến chúng ta trở thành người trí thức, mà cũng do vậy khiến cho tâm hồn chúng ta bất an. Thì chính Nguyễn Trãi đã từng đúc kết điều này đấy thôi: “Nhân sinh thức tự đa ưu hoạn”. Nhưng cũng chính vì vậy mà ông trở thành anh hùng dân tộc và là danh nhân văn hóa thế giới. Đôi lúc tôi thầm nghĩ “So với ưu tư và hoạn nạn của con người vĩ đại ấy thì những ưu tư và hoạn nạn chúng ta có thể gặp phải nào có ý nghĩa gì”!
Ông cha ta thật là vĩ đại, không chỉ một Nguyễn Trãi, cách nay cả nghìn năm mà thiền sư Vạn Hạnh đã từng chỉ ra: Thân như điện ảnh hữu toàn vô. Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô. Nhậm vận thịnh suy vô bố úy. Thịnh suy như lộ thảo đầu phô.[Thân người như bóng chớp, có rồi lại không/ Như muôn cây cỏ mùa xuân tươi tốt đến mùa thu khô héo/ Ngẫm và hiểu cái lý của thịnh suy, lòng không sợ hãi/ Vì thịnh suy nối tiếp nhau như khoảng thời gian hạt sương móc trên đầu ngọn cỏ].
Một cái nhìn vượt lên không gian và thời gian. Chẳng những thế, bản lĩnh của ông cha mình thật là kỳ diệu. Cũng một nhà sư khác, thiền sư Quảng Nghiêm cách đây ngót vẫnmột thiên niên kỷ đã dám viết: “Nam nhi tự hữu xung thiên chí . Hưu hướng Như Lai hành xứ hành” [Làm trai phải có chí xung trời thẳm, Việc gì cứ phải lẽo đẽo theo bước chân Như Lai]. Xuất gia đi tu mà lại nói không phải lẽo đẽo lần theo bước chân Phật tổ, hàm ý triết lý “Phật tại tâm”, mỗi người có cách tiếp cận chân lý theo cách riêng của mình, không nhất nhất làm theo người khác thì quả là đã chống giáo điều từ gốc.
Vậy thì, nêu lên những bức xúc đang làm chậm bước phát triển của đất nước, và do đó, trong cái “vòng tròn” lớn đó mà cái “vòng tròn nhỏ” là hệ thống giáo dục và đào tạo của ta đang suy thoái, đang lạc hậu, không hề làm nhụt ý chí của chúng ta. Ngược lại, chúng ta hiểu rằng và tin rằng “Lịch sử cổ xưa và hiện đại cho thấy khả năng kỳ lạ của đất nước này trong việc tìm ra những giải pháp độc đáo cho những vấn đề gặp phải”. Đây là một học giả Pháp nói với chúng ta , ông Eduard De Penguilly.[Kỷ yếu Hội thảo về “Nhà ở, Kiến trúc đô thị và môi trường truyền thống và hiện đại”.] Vấn đề đặt ra là phải dám đối diện với sự thật và sòng phẳng nói lên sự thật đó bất chấp những quy kết tùy tiện và có khi khá tai ác.
Nói lên sự thật vì chúng ta tin vào “khả năng kỳ lạ của đất nước này trong việc tìm ra những giải pháp độc đáo cho những vấn đề gặp phải”. Khả năng đó đang tiềm ẩn trong lòng xã hội, trong sự vận động tự thân của khối quần chúng đang còn câm lặng để giấu kín những khát vọng kiểu Đoàn Văn Vươn.
Và vì chúng ta đều thuộc lớp người xưa nay hiếm cả rồi, nên cũng đừng gay gắt quá, có khi gây tai biến mạch máu não hay nhồi máu cơ tim thì gay nên để kết thúc một cách có hậu, tôi xin kể lại một Câu chuyện thật của thế kỷ 21 để suy nghĩ thêm về cảm xúc con người trong xã hội.
Tại trại xe điện ngầm Thủ Đô Hoa Thịnh Đốn vào buổi sáng tháng giêng lạnh lẽo năm 2007, một người đàn ông đàn liên tục 6 tấu khúc của Bach trên cây đàn vĩ cầm trong 45 phút . Ước chừng hơn 2000 người qua lại trạm xe điện ngầm trong khoảng thời gian đó và hầu hết những người ấy đều trên đường đi làm.
Sau ba phút, một người đàn ông trung niên nhận ra là có người đang chơi nhạc. Ông ta chậm bước và ngừng chân trong vài giây rồi lại hối hả theo thời khắc biểu đã định sẵn. Bốn phút sau, người đàn vĩ cầm nhận được đồng tiền đầu tiên: một phụ nữ vừa đi vừa liệng tiền vô cái nón mà không hề ngừng lại.
Phút thứ sáu: một thanh niên trẻ dựa vào tường và lắng nghe tiếng đàn, sau đó liếc nhìn đồng hồ đeo nơi tay và bước đi. Phút thứ mười: một bé trai khoảng 3 tuổi đứng lại nhưng bị mẹ lôi đi vội vã. Cậu bé trì lại và nhìn người chơi đàn lần nữa. Dù bị mẹ kéo đi, cậu bé vẫn luôn ngoái đầu nhìn. Nhiều đứa bé khác cũng quay đầu nhìn như thế và không cha mẹ nào lại không nhanh chóng kéo con mình đi cả.
Bốn mươi lăm phút đàn không ngừng, chỉ có 6 người thật sự dừng hẳn lại và lắng nghe trong một lúc. Khoảng 20 người cho tiền mà vẫn tiếp tục bước đi. Người chơi đàn nhận được tất cà là 32 đô la.
Sau một giờ, người đàn ông chấm dứt, thôi đàn và không gian trở nên im vắng. Không ai để ý. Không ai vỗ tay khen và cũng chẳng có ai lưu tâm. Nhưng không một ai biết điều này, người chơi đàn vĩ cầm đó là Joshua Bell, một cầm thủ lẫy lừng trên thế giới. Với cây đàn vĩ cầm trị giá trên 3 triệu rưỡi đô la, Joshua Bell đã trình diễn những tấu khúc tuyệt vời mà không ai có thể viết hay hơn đưọc nữa, đàn hay hơn được nữa. Hai ngày trước đây, Joshua Bell đã trình diễn ở Boston, nơi mà giá trung bình là 100 đô la một vé và nhạc viện bán sạch không còn dư một vé nào.
Đây là một câu truyện thật: việc Joshua Bell lặng lẽ chơi đàn tại trạm xe điện ngầm được báo Washington Post sắp xếp để xem cảm xúc con người trong xã hội như thế nào, họ nhận thức và lựa chọn ra sao…
Câu hỏi được đặt ra là tại nơi chốn thông thường trong giờ giấc không thuận lợi cho lắm, liệu chúng ta có nhìn ra được tài năng với bối cảnh không ngờ, và liệu chúng ta có nhận thức được cái đẹp và ngưng lại để thưởng thức nó hay không ?
Có thể kết luận về chuyện này như sau: Nếu chúng ta không có thì giờ ngừng lại một chút để lắng nghe người nghệ sĩ lừng danh trên thế giới đàn những tấu khúc mà không ai có thể viết hay hơn được nữa trên một cây đàn có những âm thanh tuyệt vời nhất thì chúng ta sẽ còn mất mát và bỏ qua bao nhiêu thứ tốt đẹp khác nữa trên cõi đời này.

_________________________________________________________

Posted in Chính trị Việt Nam, Chuyện đất nước, Giáo dục Việt Nam, Việt Nam và thế giới | Tagged: , , | Leave a Comment »

Có nên bỏ… thi đua?

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Ba 30, 2012

Đinh Việt Bình

Tại nhiều quốc gia trên thế giới, không hề thấy phong trào thi đua, không hề thấy khẩu hiệu “Ra sức…”, “Quyết tâm phấn đấu…” nhưng cái gì của họ cũng tốt, trong đó có sản phẩm đại học. Riêng về giáo dục đại học thì ngay cả các nước trong khối ASEAN cũng đã bỏ xa Việt Nam.

Từ lâu, người Việt mình đâu đâu cũng nghe: “Người người thi đua, ngành ngành thi đua”. Và luôn được quán triệt: ” Thi đua là yêu nước, yêu nước phải thi đua”. Phải, muốn có thành tích, thành tựu thì không thể không thi đua. Nhưng mà….

Có thực chất không, là chuyện khác!

Chỉ trong ngành giáo dục, nơi tôi gắn cả cuộc đời, được chứng kiến nhiều phong trào thi đua, như phong trào thi đua Hai tốt – Dạy tốt, Học tốt… Rồi bỗng dưng một ngày đẹp trời cách đây không xa lại được quán triệt: ” Nói không với bệnh thành tích”. Bệnh, đã là bệnh thì…nguy rồi. Nói không là điều rất nên. Nhưng mà đâu lại vào đấy.
Thi đua trong thực tế có thực chất không? Hầu như là không. Sau mỗi năm làm việc, hầu như ai cũng đạt danh hiệu Lao động tiên tiến (trừ mấy người nghỉ ốm, nghỉ đẻ).
Trong số Lao động tiên tiến, người ta chọn ra 10, 15% (chỉ tiêu do cấp trên định) để bầu (giơ tay) Lao động tiên tiến xuất sắc. Thôi thì “bó đũa chọn đũa cái”.
Trong bộ môn, người ta nghiễm nhiên thay nhau làm LĐTTXS. Nhiều thầy, cô không chịu nhận, chỉ xin là LĐTT cho nó…lành. Thế là mấy vị Trưởng, Phó Bộ môn cũng nghiễm nhiên nhận danh hiệu LĐTTXS. Mà có xuất sắc thực chất không, lại là chuyện khác.
Rồi trong số LĐTTXS, lại chọn ra vài phần trăm để tôn vinh, nói cách khác là “dán” danh hiệu Chiến sĩ thi đua.
Không ai bảo ai, mấy cái danh ấy phải để dành cho mấy thầy ban chủ nhiệm khoa vì các vị ấy, ngoài giảng dạy như mình còn phải họp hành nhiều. Khổ thế!
Danh hiệu thi đua, đại thể diễn ra như thế. Rồi tiếp đến mấy danh hiệu cao quí “Nhà giáo Ưu tú”, ” Nhà giáo Nhân dân” cũng rứa. Giới sân khấu nhiều ưu tú, nhiều nhân dân thế, tại sao ta lại chặt chẽ với nhau?

“Chạy” huân chương

Cách nay 10 năm, Khoa X. nơi tôi làm việc chuẩn bị kỷ niệm 40 năm thành lập khoa (2002). Được hỏi, mọi người mới ngớ ra là khoa chưa từng được cái huân chương nào.
Thành tích thì nhiều, 40 năm đào tạo nhiều nghìn cử nhân, nhiều trăm thạc sĩ, nhiều chục tiến sĩ, thế mà… Tại các bậc tiền nhiệm không để ý (?). Thế là…phải xúc tiến.
Hôm kỷ niệm, rình rang rước cái Huân chương Lao động hạng Ba.
Đến lần kỷ niệm 45 năm (2007) có ý kiến phải làm tiếp để có cái Huân chương Lao đông hạng Hai. Đem ra chi bộ, ra khoa bàn, đa số ý kiến nói mệt lắm…, có “cái ấy” để làm gì? Thế là thôi. Ai cũng vui.
Và năm nay, tháng 11 này sẽ kỷ niệm 50 năm. Chưa thấy ai nói làm gì để có huân chương. Một khoa có tuổi nửa thế kỷ, chắc không nhiều trong làng đại học Việt Nam. Thế nhưng ở đây, hình như người ta không mấy thích những thứ mà nhiều người bảo là… hão.

Không thi đua, không danh hiệu liệu có làm sao?

Tôi nhớ tại một hội nghị của nhà trường, có mặt nhiều lãnh đạo cấp trên, thời điểm ấy chưa có phát động nói không với bệnh thành tích. Nhiều tham luận tại hội nghị đề nghị bỏ thi đua, rằng thi đua quá hình thức, hiệu quả thấp. Nếu không nói là cũng có phần…giả dối.
Nhiều tham luận dẫn ra tại nhiều quốc gia trên thế giới, không hề thấy phong trào thi đua, không hề thấy khẩu hiệu “Ra sức…”, “Quyết tâm phấn đấu…” nhưng cái gì của họ cũng tốt, trong đó có sản phẩm đại học. Riêng về giáo dục đại học thì ngay cả các nước trong khối ASEAN cũng đã bỏ xa Việt Nam.
Có lẽ đã đến lúc phải thay đổi. Chất lượng đào tạo của một nhà trường do xã hội đánh giá, đâu phải dựa vào những tấm huân chương. Thầy giỏi phải được đánh giá bởi người học, bởi đa số đồng nghiệp chứ không thể dựa vào vài giờ dự giờ, thao giảng như lâu nay.
Những kiểu làm trên chủ yếu là diễn, không thật, nếu không muốn nói là không ít yếu tố giả dối.

___________________________________________________

Posted in Chính trị Việt Nam, Chuyện xã hội, Chuyện đất nước, Giáo dục Việt Nam, Kinh tế | Tagged: , , | Leave a Comment »

Tranh chấp Biển Đông báo trước thay đổi chiến lược khu vực?

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Mười 5, 2011

Tranh chấp ở Biển Đông giữa Trung Quốc và các nước duyên hải khác đang ngày càng có ý nghĩa chiến lược quan trọng với toàn bộ khu vực châu Á – Thái Bình Dương và xa hơn nữa. Nhật Bản không thể coi vấn đề này như một hiện tượng riêng biệt ở một khu vực xa xôi nào, vì nó phản ánh chiến lược khu vực của Trung Quốc, trên cơ sở sự tự tin quốc gia và sức mạnh kinh tế không ngừng gia tăng.

Thách thức cơ bản hơn là các nước trong khu vực, gồm cả Nhật Bản nên đối phó thế nào với sự mẫu thuẫn chiến lược đang nổi lên, bởi sự phụ thuộc kinh tế ngày một lớn với Trung Quốc và việc tiếp tục trông chờ vào Mỹ để duy trì trật tự an ninh khu vực.

Các tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông dường như đã đạt tới một trạng thái cân bằng nào đó tại hội nghị bộ trưởng ASEAN – Trung Quốc và tiếp theo là Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF) hồi tháng 7 ở Bali, Indonesia. 10 nước thành viên ASEAN và Trung Quốc đã nhất trí về những hướng dẫn mới, mở đường cho việc thực thi Tuyên bố Hành xử (DOC) cho giải pháphoà bình với tranh chấp ở Biển Đông.

Ngoại trưởng Nhật khi ấy, Takeaki Matsumoto, người đã tham dự các cuộc họp liên quan tới ASEAN, đã hoan nghênh tiến triển đạt được. Ông nói trước quốc hội nước này rằng: “Tôi coi đó là một bước tiến về phía trước”. Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton cũng nhấn mạnh, đó là “một bước đi quan trọng”, đồng thời thúc giục ASEAN và Trung Quốc nhanh chóng đạt được bước tiếp theo: thiết lập bộ quy tắc hành xử có tính ràng buộc để ngăn chặn xung đột. Bà Clinton khẳng định: “Tất cả các bên tuyên bố chủ quyền cần công khai tuyên bố chủ quyền và đặc biệt cần hiểu rằng, chúng tôi biết nơi có tranh chấp”.

Tuy nhiên, sự cân bằng ấy dường như đã sụp đổ nhanh chóng. Chưa đầy hai tuần sau hội nghị ở Bali, Nhân dân Nhật báo – tờ báo chính thống của Trung Quốc, đã xuất bản trên trang nhất bài bình luận cáo buộc Philippines vi phạm chủ quyền lãnh thổ Trung Quốc bằng việc xây dựng một cơ sở quân sự trên hòn đảo thuộc quần đảo Trường Sa đang tranh chấp. Bài báo kết thúc với lời cảnh báo cứng rắn: “Bất cứ ai có những hiểu lầm chiến lược nghiêm trọng về vấn đề này sẽ phải trả giá thích đáng”.

Tân Hoa xã lập tức có bản tóm tắt tiếng Anh câu chuyện này. Họ nói rõ thêm rằng, đảng và chính phủ Trung Quốc muốn gửi bức thông điệp tới tất cả các bên liên quan. Và, trên thực tế, thông điệp ấy đã khuấy động khu vực.

Chính phủ Nhật Bản và Mỹ vẫn coi các hội nghị bộ trưởng ASEAN liên quan là một thành công vì nó bao gồm vấn đề “an ninh hàng hải” trong chương trình nghị sự chuẩn bị cho Hội nghị thượng đỉnh Đông Á (EAS)tháng 11 tới. Như vậy, Biển Đông có thể sẽ được thảo luận kỹ hơn ở bối cảnh đa phương lớn hơn tại EAS. Nó cũng mang lại cơ hội cho các bên không đưa ra tuyên bố chủ quyền, nhưng có sử dụng Biển Đông, như Nhật Bản và Mỹ được tham gia thương thảo.

Trên một mặt trận nhạy cảm hơn, nó cũng còn được coi là thành công vì có thoả thuận ngầm đã hìnhthành giữa các nước tuyên bố chủ quyền và các quốc gia chính sử dụng Biển Đông trong nỗ lực đặt vấn đề với tính hợp pháp của việc Trung Quốc tuyên bố chủ quyền bằng bản đồ 9 đoạn bao trùm hầu hết Biển Đông. Chiến lược ngầm dường như hướng Trung Quốc vào một thoả thuận đa phương mới, bộ quy tắc hành xử để giải quyết các tranh chấp một cách hoà bình bằng cách tập hợp áp lực thông qua việc liên tục thách thức tính hợp pháp của tuyên bố 9 đoạn.

Trung Quốc sử dụng bản đồ 9 đoạn còn gọi là bản đồ hình chữ U bao trùm đường bờ biển và chuỗi đảo ở Biển Đông làm cơ sở cho tuyên bố chủ quyền của mình. Bản đồ này bao trùm hầu như toàn bộ Biển Đông. Theo một tài liệu chính thức mà chính phủ Trung Quốc đệ trình lên LHQ năm 2009 cùng với một tờ bản đồ, Bắc Kinh khẳng định “có chủ quyền không thể tranh cãi với các đảo ở Biển Đông và những vùng nước lân cận”. Tuy nhiên, chưa rõ là, Trung Quốc tuyên bố chủ quyền với hầu hết Biển Đông bên trong đường 9 đoạn như lãnh hải của họ hay tuyên bố chủ quyền này chỉ kéo dài tới các đảo và vùng nước lân cận.

Ngày 24/8, khoảng một tháng sau hội nghị ARF, hai tàu tuần tra của Ngư chính Trung Quốc đã tién vào lãnh hải Nhật Bản gần một đảo của Quần đảo Senkaku ở biển Hoa Đông. Đây là lần đầu tiên, tàu của chính phủ Trung Quốc vi phạm lãnh hải Nhật quanh Senkakus kể từ năm 2008, khi hai tàu Hải giám Trung Quốc (CMS) tiến vào và ở lại trên lãnh hải Nhật hơn 9 giờ đồng hồ. Lần này thời gian vi phạm ngắn hơn nhiều, nhưng chính phủ Nhật coi vụ việc rất nghiêm trọng vì thậm chí khi một tàu cá Trung Quốc va chạm với tàu phòng vệ bờ biển Nhật Bản tháng 9 năm ngoái gần Senkakus, thì tất cả các tàu chính phủ Trung Quốc gồm Ngư chính và Hải giám đã rõ ràng ở lại trên lãnh hải Nhật.

Hồi đáp về sự phản đối chính thức từ chính phủ Nhật, một phát ngôn viên bộ Ngoại giao Trung Quốc nói: “Quần đảo Điếu Ngư (Senkaku) và các đảo liên quan là lãnh thổ vốn có của Trung Quốc từ thời cổ đại. Các tàu Ngư chính đã tuần tra vùng biển để đảm bảo trật tự thông thường trong hoạt động ngư nghiệp”.

Quan điểm này không có gì mới mẻ, nhưng điều đáng nói là hành động gia tăng của một trong những cơ quan thực thi pháp luật hàng hải Trung Quốc. Một trong những suy đoán của chính phủ Nhật là, dụng ý của Trung Quốc có thể nhằm kiểm tra lập trường cứng rắn của chính phủ Nhật trong các tuyên bố chủ quyền lãnh thổ sau hội nghị ARF và đặc biệt là khi Nhật Bản trải qua sự chuyển giao quyền lực từ chính phủ của ông Kan sang chính phủ tiếp theo.

Quan điểm phổ biến trong chính phủ Nhật Bản là, những gì đang xảy ra ở biển Hoa Đông có liên quan chặt chẽ tới tranh chấp ở Biển Đông. Ngoại trưởng Matsumoto nói trước quốc hội rằng: “Nhật Bản có mối quan tâm lớn đến tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông vì chúng có thể ảnh hưởng tới hoà bình và an ninh của khu vực châu Á – Thái Bình Dương, cũng như liên quan chặt chẽ tới việc bảo vệ an ninh giao thông hàng hải”.

Các tranh chấp lãnh thổ không giới hạn trong lĩnh vực hàng hải. Có một số dấu hiệu gia tăng trong khu vực biên giới đất liền Trung Quốc – Ấn Độ. Có quan điểm tồn tại trong giới học giả Ấn Độ là, Trung Quốc đang tái xác lập biên giới trên đất liền cũng như trên biển trong quá trình theo đuổi vị thế siêu cường. Và hàng loạt hành động tái xác lập ấy đã được thực hiện trên cái giá toàn vẹn lãnh thổ và an ninh của những nước láng giềng. Ấn Độ dõi theo sát sao tình hình Biển Đông vì họ coi nó như một dấu hiệu cho những gì có thể xảy ra trong tranh chấp biên giới giữa nước này và Trung Quốc.

Thách thức cơ bản hơn là, toàn bộ khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương có lẽ đang phải đối mặt với sự mẫu thuẫn chiến lược đang trỗi dậy. Phần lớn các nước trong khu vực đều coi Trung Quốc là đối tác thương mại chính, nếu không phải là lớn nhất. Trong khi đó, họ lại trông chờ vào Mỹ để duy trì trật tự an ninh khu vực, bao gồm cả tự do hàng hải. Tính nước đôi ấy đã khiến cho các nước trong khu vực khó khăn hơn khi quyết định hành xử thế nào cho phù hợp, nếu và khi Trung Quốc thách thức ưu thế Mỹ. Điều này dường như là những gì giờ đây đang xảy ra ở Biển Đông.

Năm ngoái, Hugh White, nguyên thứ trưởng quốc phòng Australia đã có bài viết tiêu đề “Chuyển giao quyền lực – Tương lai của Australia giữa Washington và Bắc Kinh”. Trong đó, ông chỉ ra rằng, thời đại của một kỷ nguyên của “ưu thế vô địch Mỹ” đã qua và rằng, một trật tự hoà bình mới tại châu Á để phù hợp với sức mạnh đang trỗi dậy của Trung Quốc có thể được xây dựng “nếu Mỹ sẵn sàng cho phép Trung Quốc một không gian chính trị và chiến lược”.

Cốt lõi trong lập luận của ông là, Mỹ nên kiềm chế khỏi việc cạnh tranh giành ưu thế với Trung Quốc mà thay vào đó là nên chia sẻ quyền lực. Ông cũng cho rằng, đã tới lúc cần xem xét lại chiến lược “rào giậu”. Đó có lẽ là câu trả lời để đối phó với tình thế tiến thoái lưỡng nan của “sự phụ thuộc kép”.

Những gì đang nổi lên qua vấn đề tranh chấp Biển Đông là sự công nhận rằng, tranh chấp lãnh thổ là cuộc cạnh tranh tự nhiên giành lấy ảnh hưởng giữa Mỹ và Trung Quốc, và rằng Mỹ không thể một mình chiếm ưu thế trong khu vực cho dù có các khả năng quân sự khổng lồ. Quan điểm chung trong các nước ASEAN có thể không rõ ràng và cực đoan như của White. Nhưng nếu thực tế “sự gia tăng Trung Quốc và sự sụt giảm tương đối của Mỹ” tiếp tục diễn ra, thì sự chuyển đổi từ “Mỹ chiếm ưu thế” sang “chia sẻ quyền lực Trung – Mỹ” có thể phù hợp hơn với các nước trong khu vực. Đó là thách thức lớn với Nhật, với chiến lược an ninh xây dựng trên cơ sở lập luận rằng, ưu thế Mỹ là không gì lay chuyển nổi.

Những gì đang xảy ra ở Biển Đông có thể là “điềm báo” cho khả năng thay đổi tư duy chiến lược với các quốc gia trong khu vực và cuối cùng là chính bản thân trật tự chiến lược khu vực.

Theo YOICHI KATO – Vietnamnet
_____________________________________________________________

Posted in Quốc phòng các nước, Việt Nam và thế giới | Tagged: , , | Leave a Comment »

Trung Quốc mất cơ hội lợi dụng khoa học

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Mười 4, 2011

TT – Tạp chí Khoa Học (Science Journal) số ra ngày 30-9 thông báo sẽ xem xét lại quy trình đăng bản đồ sau khi nhận được những ý kiến phản đối của các học giả Việt Nam liên quan tới bài viết của các học giả Trung Quốc, trong đó có in kèm bản đồ có “đường lưỡi bò”.
Từ Phần Lan, TS Lê Văn Út, hiện đang giảng dạy tại khoa toán Đại học Oulu, email cho Tuổi Trẻ biết sau khi nhận được sự phản đối quyết liệt của các học giả Việt Nam về “đường lưỡi bò” phi pháp mà tác giả Trung Quốc đã sử dụng trong bài viết Lịch sử dân số Trung Quốc và những thách thức trong tương lai (China’s demographic history and future challenges) ngày 29-7-2011, có trích dẫn tại [X. Peng, Science 333, 581 (2011)], tạp chí Science đăng tải ý kiến của mình trên mục Ghi chú của ban biên tập. Nội dung như sau:

Trung Quốc mất cơ hội lợi dụng khoa học

“Bài viết Lịch sử dân số Trung Quốc và những thách thức trong tương lai trong số ra ngày 29-7, hình ảnh 1, phần Dân số đã có bản đồ của Nam Hải (biển Đông). Chúng tôi được biết một số độc giả đã diễn giải việc đăng tải bản đồ này là một tuyên bố của Science về đường biên giới lãnh hải được vẽ trên hình. Điều này là không đúng.
Quan điểm của Science, được ghi trên đầu trang của mỗi ấn bản, nêu rõ: “Tất cả các bài viết được đăng tải trên Science – kể cả bình luận, tin tức, xã luận, điểm sách – được ký tên và thể hiện quan điểm cá nhân của tác giả, và không phải là quan điểm chính thức của Hiệp hội Khoa học tiên tiến của Mỹ (AAAS) hay của các cơ quan nghiên cứu của các tác giả liên quan. Science không đưa ra quan điểm liên quan đến đòi hỏi về quyền tài phán tại khu vực lãnh hải trong bản đồ. Chúng tôi đang kiểm tra lại quy trình nhận đăng các bài báo liên quan đến bản đồ để bảo đảm trong tương lai tạp chí Science không tỏ ra ủng hộ hay có quan điểm trong các vụ tranh chấp chủ quyền lãnh thổ/tài phán”.
TS Út nhận định: “Như vậy sắp tới Trung Quốc sẽ không thể lợi dụng các tạp chí khoa học để tuyên truyền với quốc tế về đường lưỡi bò phi pháp, vi phạm chủ quyền biển đảo của Việt Nam nữa. Bởi lẽ khi một tạp chí hàng đầu như Science tuyên bố một cách khoa học và đúng đắn như thế thì các tạp chí khác cũng khó lòng mà làm khác (tức phản khoa học)”.

“Một trả lời không thỏa đáng”

Tuy nhiên, từ Úc, GS.TS Nguyễn Văn Tuấn thuộc Viện Garvan cũng cho Tuổi Trẻ biết ông và nhiều đồng nghiệp khác trong và ngoài Việt Nam đã thông tin cho tạp chí Science về việc làm sai trái của nhà khoa học Trung Quốc. Nhưng sau khi nhận được những ý kiến phản đối này, việc tạp chí Science thông tin lại với độc giả như vậy “là một cách trả lời không thỏa đáng”.
Ông nhấn mạnh: “Chúng tôi nêu vấn đề khoa học, sai sót của bài báo, chứ không hỏi quan điểm của tạp chí Science là ủng hộ hay không ủng hộ đối với quan điểm của các bên về vấn đề trên biển Đông. Chúng tôi đã chỉ ra đây là một bản đồ vi phạm khoa học, không được tổ chức nào công nhận. Do đó, nếu một tạp chí khoa học đăng tải vấn đề như vậy là vi phạm đạo đức khoa học”.
Ông Tuấn cho rằng việc quan trọng tiếp theo là các nhà khoa học cần ngăn chặn những hiện tượng xuất bản sai trái tương tự trên các ấn phẩm quốc tế.
Trước đó, tháng 6-2011, tạp chí khoa học quốc tế Quản lý chất thải (Journal of Waste Management) đã tỏ ra sòng phẳng với độc giả hơn khi thông báo đính chính về việc đã đăng tải bài viết có kèm hình bản đồ đường lưỡi bò phi pháp của Trung Quốc trên biển Đông.
Đích thân tổng biên tập, GS.TS Raffaello Cossu, khoa công nghệ môi trường Đại học Padova (Ý), đã thừa nhận sai sót của tạp chí sau khi các nhà khoa học Việt Nam cùng lên tiếng phản đối tấm bản đồ có đường lưỡi bò minh họa cho bài viết Thu gom phân loại chất thải rắn đô thị tại nguồn: một phân tích so sánh của các tác giả Trung Quốc trong số ra ngày 19-4-2011.

theo KHỔNG LOAN
__________________________________________________________

Posted in Chuyện pháp luật, Khoa học & Công nghệ, Việt Nam và thế giới | Tagged: , , | Leave a Comment »

TP Hà Nội yêu cầu chấm dứt mọi hoạt động tụ tập, biểu tình, tuần hành tự phát

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Tám 18, 2011

(HNMO) – Ngày 18/8/2011, Ủy ban Nhân dân Thành phố Hà Nội đã có Thông báo về công tác bảo đảm an ninh trật tự trên địa bàn Thành phố Hà Nội.

Toàn văn Thông báo nêu rõ: trong các ngày Chủ nhật từ đầu tháng 6 năm 2011 đến nay, trên địa bàn thành phố Hà Nội liên tiếp diễn ra các cuộc tụ tập, biểu tình, tuần hành tự phát phản đối Trung Quốc xâm phạm chủ quyền biển, đảo của Việt Nam. Những ngày đầu, các cuộc tụ tập, biểu tình, tuần hành tự phát xuất phát từ tinh thần yêu nước và tâm lý bức xúc của quần chúng nhân dân. Những ngày gần đây lợi dụng tình cảm yêu nước của nhân dân, các thế lực chống phá nhà nước Việt Nam trong và ngoài nước đã và đang kêu gọi, kích động, hướng dẫn quần chúng biểu tình, tuần hành gây mất an ninh trật tự ở Thủ đô.

Những cuộc tụ tập, biểu tình, tuần hành tự phát đã gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội, đến hình ảnh Thủ đô Hà Nội – Thành phố vì hoà bình; tiềm ẩn các yếu tố gây mất ổn định chính trị; tác động tiêu cực tới việc thực hiện đường lối, quan hệ đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta. Một bộ phận quần chúng do thiếu thông tin, ngộ nhận tham gia biểu tình tự phát là thể hiện tinh thần yêu nước; trong khi đó số đối tượng chống đối trong và ngoài nước đang ráo riết lợi dụng vấn đề trên để tiến hành các hoạt động chống Đảng, Nhà nước. Âm mưu, ý đồ của họ là chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân, kích động hằn thù dân tộc chia rẽ quan hệ Việt – Trung; kích động, tập hợp lực lượng gây mất an ninh trật tự và ổn định chính trị đất nước.

Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước là kiên quyết đấu tranh bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, đồng thời đảm bảo giữ vững môi trường hoà bình, hữu nghị để xây dựng và phát triển đất nước; để duy trì ổn định an ninh trật tự ở Thủ đô, Uỷ ban Nhân dân thành phố Hà Nội yêu cầu chấm dứt mọi hoạt động tụ tập, biểu tình, tuần hành tự phát trên địa bàn Thành phố. Giao lực lượng Công an Thành phố chủ trì, phối hợp với chính quyền các cấp, các Sở, Ban, Ngành, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội, đoàn thể làm tốt công tác tuyên truyền, vận động quần chúng nhân dân tự giác chấp hành, ủng hộ và tích cực tham gia cùng lực lượng chức năng giữ gìn an ninh trật tự.

Đối với những người cố tình không chấp hành, tụ tập đông người trái pháp luật, gây rối trật tự công cộng, chống người thi hành công vụ, lực lượng làm nhiệm vụ áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo vệ trật tự công cộng theo quy định tại Điều 9, Nghị định số 38/2005/NĐ-CP ngày 18/3/2005 của Chính phủ quy định một số biện pháp đảm bảo trật tự công cộng và xử lý theo quy định của pháp luật.

Thành phố khuyến khích mọi công dân bằng những hoạt động thiết thực trong khuôn khổ tổ chức và pháp luật, hăng hái tham gia phong trào thi đua yêu nước, bảo đảm quốc phòng, an ninh, góp phần bảo vệ chủ quyền, biên cương của Tổ quốc.

theo Hànộimới
__________________________________________________________________

Posted in Chính trị Việt Nam, Chuyện pháp luật, Chuyện đất nước, Tin tức nổi bật | Tagged: , , | Leave a Comment »

Tuổi trẻ nước Anh nổi giận

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Tám 10, 2011

Khi tội ác bị làm ngơ

Nguyên nhân trực tiếp dẫn đến làn sóng bạo loạn tại Anh là từ cái chết của một người lái taxi da màu 29 tuổi có tên Mark Duggan, hôm 4/8 tại Tottenham, Luân Đôn. Sau cuộc điều tra ban đầu, cảnh sát xác nhận Duggan không nổ súng trước và bị cảnh sát bắn chết tại chỗ. Các nhân chứng cho biết, nạn nhân bị cảnh sát tạm giữ và dù đã phục tùng yêu cầu của cảnh sát nhưng vẫn bị bắn chết.
Đây chính là nguyên nhân khiến người nhà của người đàn ông có 4 con nhỏ này nổi giận và đi đòi công lý. Thân nhân của Duggan cùng nhiều người địa phương đã kéo đến đồn cảnh sát ở Tottenham đòi có câu trả lời về cái chết. Trước sự im lặng của cảnh sát, đám đông bắt đầu trút cơn giận bằng cách đốt phá xe cảnh sát, châm ngòi cho đợt bạo động tồi tệ trên khắp nước Anh.
Sau Luân Đôn, làn sóng đập phá hôi của hôm qua lan đến các thành phố khác như Manchester, Nottingham, Liverpool… đẩy nước Anh chìm vào vụ bạo loạn tồi tệ nhất nhiều năm qua trên quy mô toàn quốc.
Sự hiện diện của 16.000 nhân viên an ninh trên đường phố khiến thủ đô nước Anh có dấu hiệu đã được kiểm soát. Cảnh sát Luân Đôn đã bắt giữ tổng cộng 685 người làm loạn, nhưng máu vẫn đổ khi một thanh niên 26 tuổi bị bắn chết trong xe ở khu Croydon hôm qua.
Tuy nhiên, bất ổn lại đang lan sang các thành phố lớn khác như Manchester, Salford, Liverpool, Wolverhampton, Nottingham, Leicester và Birmingham với các cửa hiệu bị đốt phá và hôi của. Có 47 người bị bắt tại Manchester và Salford, nơi đám đông thanh niên đốt phá nhà cửa và xe cộ, trong khi tại Liverpool, cảnh sát đã bắt giữ 35 người. Tại Birmingham, lực lượng chống bạo động bao vây khu mua sắm Mailbox sau vụ đập phá tại đây hôm thứ hai.
Thủ tướng Anh David Cameron phải cắt ngắn kỳ nghỉ tại Italy để về nước họp khẩn cùng nội các và gặp chỉ huy cảnh sát đô thành Luân Đôn bàn về tình hình bất ổn. BBC dẫn lời ông tuyên bố với những người nổi loạn đa phần là thanh niên: “Các anh sẽ thấy được sự nghiêm minh của pháp luật. Và nếu các anh đã đủ lớn để gây ra những tội ác này thì các anh cũng đủ lớn để đối mặt với sự trừng phạt”.
Hiệp hội các nhà bảo hiểm Anh cho biết, thiệt hại từ làn sóng bạo loạn nổ ra từ đêm thứ bảy tuần trước sẽ khiến các hãng bảo hiểm mất “hàng chục triệu bảng” chỉ riêng tại Luân Đôn. Cảnh tan hoang của các cửa hàng và xe cộ bị đốt cháy trên phố không chỉ có ở Tottenham mà còn xuất hiện tại các khu vực khác của Luân Đôn như Hackney, Croydon, Clapham, Peckham, Lewisham và Ealing.

Vết nhơ của cảnh sát hay vấn đề xã hội?

Vụ điều tra về cái chết của Duggan chưa có kết luận cuối cùng, nhưng đây chắc cũng dính tới một số vụ làm chết người vô tội, nổi bật là vụ bắn chết người thợ điện gốc Brazil Charles de Menezes năm 2005, khiến dư luận nổi giận và tư lệnh cảnh sát Luân Đôn bị mất chức.
Báo chí Anh mô tả những ngày qua là cuộc khủng hoảng nghiêm trọng nhất trong vòng một phần tư thế kỷ ở nước này. Nguyên nhân sâu xa cho sự bất ổn ở Anh là các vấn đề xã hội và cộng đồng vốn âm ỉ từ lâu. Các nhà xã hội học cho rằng một bộ phận giới trẻ các thành phố Anh bị tách khỏi sinh hoạt của cộng đồng chung và có quá nhiều thời gian thừa thãi. Bên cạnh đó là nạn thất nghiệp cao và tình trạng các gia đình không kiểm soát được con cái đã khiến bất ổn phát sinh “từ nhà ra phố”.
Đại đa số những người tham gia bạo loạn ở Luân Đôn và các thành phố khác là thanh thiếu niên và hầu hết số bị bắt cũng nằm trong lứa tuổi này. Nhiều trẻ em từ 12 đến 13 tuổi cũng tham gia các vụ hôi của trên đường phố. Các thiếu niên này còn sử dụng điện thoại di động và các trang xã hội trên Internet để hô hào nhau đi làm loạn và khoe những thứ cướp được như chiến lợi phẩm.
Trong khi đó, các chuyên gia kinh tế nhìn nhận nguyên nhân của bạo loạn ở Anh bắt nguồn từ chính sách “thắt lưng buộc bụng” của chính phủ dẫn đến khó khăn trong cuộc sống của một bộ phận người dân. Một trong những người có quan điểm này là cựu thị trưởng Luân Đôn Ken Livingstone. Hầu hết những người tham gia bạo loạn đến từ các khu vực nghèo tại những đô thị lớn, nơi có tỷ lệ thất nghiệp cao và dịch vụ xã hội bị cắt giảm khiến cuộc sống ngày càng bi đát.
Luân Đôn đã dịu xuống sau những đêm bạo loạn, nhưng đây vẫn là thách thức lớn nhất đối với sự nghiệp của thủ tướng thuộc đảng Bảo thủ Anh David Cameron kể từ khi lên cầm quyền năm ngoái. Triển khai cảnh sát dày đặc để dẹp yên bất ổn sẽ sớm có kết quả, nhưng giải quyết những vấn đề xã hội, cộng đồng và kinh tế, nguyên nhân sâu xa của bạo loạn là thách thức dài hạn đối với chính phủ Anh.

(tổng hợp)
________________________________________________

Posted in Chính trị thế giới, Chuyện pháp luật, Chuyện xã hội, Tin tức nổi bật | Tagged: , , | Leave a Comment »

Phiên toà xét xử cựu giảng viên về tội ‘lật đổ chính quyền’

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Tám 10, 2011

8h sáng nay (10/8), tòa án TP HCM đã mở phiên xét xử ông Phạm Minh Hoàng (56 tuổi, quốc tịch Pháp và Việt Nam) bị truy tố về tội “hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”.

An ninh đã được tăng cường tại khu vực xung quanh tòa án và phòng xử. Chỉ những người tham gia tố tụng mới được tham dự phiên xét xử, trong đó có 2 người được xác định có tư cách là “người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan” và 2 nhân chứng.
Phóng viên trong và ngoài nước được bố trí một phòng tác nghiệp riêng, theo dõi phiên xử được truyền trực tiếp qua 2 màn hình cỡ lớn.
HĐXX gồm 3 thành viên do thẩm phán Vũ Phi Long (Phó chánh Tòa Hình sự TAND TP HCM) ngồi ghế chủ tọa. Luật sư Trần Vũ Hải (Đoàn luật sư Hà Nội) bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Hoàng tại phiên xử.
Theo cáo buộc của VKS, năm 1998, ông Hoàng được Nguyễn Thị Thanh Vân và Nguyễn Ngọc Đức lôi kéo tham gia vào tổ chức Việt Tân tại Pháp. Đến năm 2000, thực hiện kế hoạch của tổ chức này, ông Hoàng hồi hương về Việt Nam, xin làm giảng viên hợp đồng cho Đại học Bách khoa TP HCM.
Từ tháng 7/2002 đến tháng 5/2010, ông Hoàng bị cho là đã lấy bút danh Phan Kiến Quốc viết 29 bài có nội dung “xuyên tạc đường lối, chính sách của Nhà nước” để phát tán trên Internet.
Tài liệu của cơ quan chức năng cho hay, tháng 11/2009, ông Hoàng cùng vợ là bà Lê Thị Kiều Oanh và Nguyễn Thanh Hùng đã tham dự khóa học tại Malaysia do Việt Tân tổ chức với nội dung hướng dẫn kỹ năng, cách sử dụng các phần mềm để bảo mật thông tin, tài liệu khi trao đổi qua Internet. Ngoài ra, trong khóa học này, ông Hoàng cũng tham gia thảo luận, và được xem một số phim về phương pháp “đấu tranh bất bạo động” để vận dụng vào thực tế ở Việt Nam nhằm “thay đổi thể chế chính trị hiện nay”.
Cũng theo cơ quan công tố, thời gian ở Việt Nam, ông Hoàng đã tìm chọn, tập hợp, xây dựng lực lượng nòng cốt cho tổ chức Việt Tân ở trong nước. Người này đã lôi kéo vợ, em ruột cùng tham gia tổ chức.
Từ tháng 1 đến tháng 5, vị giảng viên đại học trên bị cáo buộc đã cùng 3 thành viên của tổ chức Việt Tân là Phạm Duy Khánh (em ruột, hoạt động tại Pháp), Jolie Trang Huỳnh (Việt kiều Mỹ), Huỳnh Châu (Việt kiều Australia) tổ chức 2 khóa gồm 4 lớp học về “kỹ năng mềm” để tuyên truyền, xây dựng lực lượng nòng cốt cho Việt Tân. Mỗi lớp học 10-12 người, đa phần là thanh niên, sinh viên, trong đó có 3 nữ tu Thiên chúa giáo.
Viện kiểm sát công bố tài liệu cho rằng, tại nhà riêng trên đường Nguyễn Tri Phương (quận 10, TP HCM), ông Hoàng đã cùng một số thành viên cốt cán trong tổ chức, nhiều lần nhóm họp, bàn về việc phát triển lực lượng và bộ máy lãnh đạo của tổ chức ở TP HCM.
Phiên tòa xét xử đã diễn ra trong một buổi sáng và tòa án TP HCM tuyên mức án dành cho ông Phạm Minh Hoàng là 3 năm tù giam vì tội Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân.
Có mặt trong phiên tòa chỉ có vợ của ông – bà Lê Thị Kiều Oanh, và luật sư bào chữa Trần Vũ Hải. sau khi phiên tòa kết thúc, bà Lê Thị Kiều Oanh nói: “Đây là bản án quá nặng, thiếu công bằng với chồng tôi. Tôi không đồng ý với phán quyết cuối cùng của tòa án.” Đồng thời bà Oanh cho hay bà đã báo với luật sư là bà mình đã quyết định kháng cáo.
Tuy nhiên, bà còn muốn hỏi lại chồng để biết về quyết định của ông ấy.

Trước đó, ông Trần Anh Kim (Thái Bình); các ông Lê Công Định, Trần Huỳnh Duy Thức, Lê Thăng Long, Nguyễn Tiến Trung (TP HCM) cũng bị khép tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền với mức án cao nhất 16 năm, thấp nhất 3 năm 6 tháng tù.

(Tổng hợp)
___________________________________________________________

Posted in Chính trị Việt Nam, Chuyện pháp luật | Tagged: , , | Leave a Comment »

Có hay không việc CA trấn áp người biểu tình?

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Tám 9, 2011

Trung tướng Nguyễn Đức Nhanh (Giám đốc Công an Hà Nội) thừa nhận, hình ảnh cảnh sát “khiêng một người đàn ông biểu tình tự phát” lên xe buýt hôm 17/7 là “phản cảm”, nhưng ông cho rằng không đủ căn cứ xác định “cảnh sát đánh, đạp” anh này.

Theo Giám đốc Công an Hà Nội kiêm Tổng cục phó Tổng cục An ninh 2 Nguyễn Đức Nhanh tại cuộc họp chiều 2/8, công an thành phố nhận được thư của một số cá nhân đề nghị làm rõ việc có những người “tập trung biểu tình tự phát phản đối Trung Quốc gây hấn ở Biển Đông” bị công an “đàn áp thô bạo”.

Tướng Nhanh cho hay, đến ngày 24/7 đã có 8 cuộc biểu tình tự phát. Người tham gia chủ yếu là học sinh, sinh viên, giới trí thức, văn nghệ sĩ… “Đây là những cuộc biểu tình bày tỏ tinh thần yêu nước… Chủ trương của Công an thành phố là tuyên truyền, giải thích, vận động để giải tán người biểu tình; không có việc đàn áp hay bắt bớ”, người đứng đầu Công an Hà Nội nói.

Nhà chức trách cho hay, người biểu tình thường tập trung khoảng 8h30 sáng và giải tán sau chừng 3 tiếng. Cuộc đầu tiên có khoảng 300 người tham gia nhưng sau giảm dần còn khoảng 50-60 người.

Theo ông Nhanh, trong cuộc biểu tình ngày 17/7 tại khu vực phố Điện Biên Phủ – Trần Phú, nhằm tránh “ảnh hưởng giao thông”, công an Hà Nội đã đề nghị đám đông giải tán. Trong số này có anh Nguyễn Chí Đức (35 tuổi, nhân viên một trung tâm dịch vụ viễn thông Hà Nội) “không chấp hành”.

“Anh Đức ngồi bệt xuống đất, khiến 4 Công an quận Hoàn Kiếm phải khiêng lên xe buýt, đưa về đồn công an số 1 Mỹ Đình (Từ Liêm, Hà Nội)”, ông Nhanh nói.

Trả lời báo chí về clip được phát tán trên mạng có hình ảnh người đàn ông mặc thường phục “đạp vào mặt anh Đức” khi anh bị khiêng vào trong xe buýt, Giám đốc Công an Hà Nội cho biết, người này là đại úy Phạm Hải Minh.

Theo lời ông Nhanh, đại uý Minh tường trình anh bước từ trên xe buýt xuống để “đỡ Đức lên chứ không đạp vào mặt anh này”. Tài liệu công an cung cấp trong cuộc họp cho hay, làm việc với cơ quan công an “anh Đức khẳng định không bị đánh và chỉ có sự xô đẩy khi đưa lên xe buýt”. Kết quả khám tại Bệnh viện E – Hà Nội ghi nhận “không phát hiện thương tích hay tổn thương trên người anh Đức”.

“Chúng tôi điều tra phải có nguồn rõ ràng, căn cứ từ nhiều tài liệu khác nhau như nhân chứng, bị hại… chứ không thể dựa vào riêng hình ảnh clip”, thượng tá Đào Thanh Hải (Trưởng phòng cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội) trình bày bổ sung.
Đại diện Công an Hà Nội cũng cho hay, clip phát tán từ nguồn ở nước ngoài nên hiện chưa xác định được người đưa hình ảnh lên mạng. “Chúng tôi cũng không thể xác định được clip có bị cắt ghép chỉnh sửa gì hay không”, vị này nói.

Với những căn cứ trên, Giám đốc Công an Hà Nội cho rằng không có cơ sở xác định anh Đức bị “đánh, đạp trong cuộc biểu tình phản đối Trung Quốc gây hấn ở Biển Đông ngày 17/7”.

Tuy nhiên, ông Nhanh cũng thừa nhận, tổ công tác làm nhiệm vụ hôm đó có “sai sót”, cần nghiêm khắc phê bình.

“Người ta ngồi ra đường có nhất thiết phải khiêng lên xe buýt hay không, khi họ không phải là tội phạm hay người bị truy nã. Hình ảnh trên đúng là phản cảm”, tướng Nhanh nói.

Hiện, cảnh sát Minh đã bị tạm đình chỉ công tác để “phục vụ việc điều tra”.

theo Thái Thịnh
_________________________________________________

Posted in Chính trị Việt Nam, Chuyện pháp luật, Chuyện xã hội, Chuyện đất nước, Tin tức nổi bật | Tagged: , | Leave a Comment »

Vì sao ‘từ chối’ tố cáo tham nhũng?

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Tám 9, 2011

1/3 số thanh niên được hỏi cho biết đã gặp hiện tượng tham nhũng trong lĩnh vực y tế, cảnh sát giao thông và kinh doanh. Tuy nhiên, 40% số thanh niên được hỏi không tố cáo hành vi tham nhũng.

Ngày 8/8, Tổ chức Hướng tới Minh bạch (TT) – cơ quan đầu mối quốc gia của Tổ chức Minh bạch Quốc tế (TI) tại Việt Nam phối hợp cùng Trung tâm nghiên cứu và hỗ trợ phát triển cộng đồng (CECODES) tổ chức hội thảo chia sẻ kết quả khảo sát liêm chính trong thanh niên Việt Nam.

Nghiên cứu này được tiến hành cuối năm 2010 thông qua phỏng vấn hơn 1.000 thanh niên được lựa chọn ngẫu nhiên trong độ tuổi 15-30 tại 11 tỉnh, thành và nhóm đối chứng gồm hơn 500 người ở độ tuổi trên 30. Khảo sát nghiên cứu các giá trị và thái độ của thanh niên đối với tính liêm chính cũng như những trải nghiệm và hành vi của họ liên quan đến tham nhũng.

Kết quả cho thấy, trong khi 95% thanh niên cho rằng trung thực quan trọng hơn giàu có, và thiếu liêm chính (gồm cả tham nhũng) sẽ có hại cho thế hệ trẻ và sự phát triển của đất nước nhưng vẫn có tới 1/3 thanh niên sẵn sàng “nới lỏng” định nghĩa về liêm chính nếu điều đó mang lại lợi ích kinh tế, giải quyết được công việc.

1/3 số thanh niên được hỏi cho biết đã gặp hiện tượng tham nhũng trong các tình huống có liên quan đến lĩnh vực y tế, cảnh sát giao thông và kinh doanh, trong khi chỉ 1/4 người lớn tuổi gặp hiện tượng này.

Có tới 40% trong số được hỏi trả lời là không chắc sẽ tố cáo hoặc chắc chắn sẽ không tố cáo hành vi tham nhũng. Lý do chính vì họ thờ ơ hoặc bi quan. 41% thanh niên có trình độ học vấn thấp cho rằng tố cáo tham nhũng không phải việc của họ, trong khi 41% thanh niên có trình độ cao lại cho rằng tố cáo chẳng giải quyết được gì.

“Có thể thấy giáo dục về phòng, chống tham nhũng vẫn chưa thành công trong việc phát triển một thế hệ thanh niên sẵn sàng và được trang bị đủ kiến thức để đấu tranh chống tham nhũng”, Giám đốc điều hành Tổ chức Hướng tới Minh bạch Nguyễn Thị Kiều Viễn nhìn nhận.

Ông Đặng Cảnh Khanh, nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu Thanh niên cho hay, hiểu biết của thế hệ trẻ về trung thực không còn như xưa bởi nhiều người nghĩ trung thực gắn với thiệt thòi, người trung thực bị coi là “khờ”.

“Kết quả nghiên cứu đặt ra vấn đề, tại sao thanh niên ghét giả dối nhưng lại chấp nhận thỏa hiệp với giả dối? Lỗi ở chính xã hội. Chúng ta không thể kêu gọi thanh niên trung thực khi xã hội đầy rẫy sự thiếu trung thực, tham ô, tham nhũng”, ông Khanh nhấn mạnh.

Cho rằng những số liệu này đặc biệt thú vị và gần với thực tế, GS Nguyễn Minh Thuyết, nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban văn hoá giáo dục thanh thiếu niên và nhi đồng nhìn nhận đây là vấn đề lớn của xã hội.

“Khảo sát cho thấy nhiều thanh niên không tố cáo tham nhũng vì thấy không tác dụng, nhưng nếu không có tố cáo thì nhiều vụ việc lớn không bị vạch trần. Song quả thật, đấu tranh chống tham nhũng chưa đạt hiệu quả và người tham nhũng thường có chức có quyền”, giáo sư Thuyết nói.

Theo Tiến Dũng
_________________________________________________________________

Posted in Chính trị Việt Nam, Chuyện pháp luật, Chuyện đất nước | Tagged: , , | Leave a Comment »

kế hoạch sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Tám 5, 2011

Nhất trí với việc cần sửa đổi Hiến pháp 1992, Phó chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Quốc hội Nguyễn Đình Quyền cho rằng, cần thiết nhất chính là sửa đổi những quy định về bộ máy Nhà nước và Quốc hội.

Chiều 4/8, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Quốc hội Phan Trung Lý đọc tờ trình Quốc hội về việc triển khai thực hiện chủ trương nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992, và việc thành lập Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp.

Theo ông Lý, Hiến pháp 1992 là Hiến pháp của thời kỳ đầu đổi mới đất nước. Đến nay, đất nước đã có nhiều thay đổi trong bối cảnh quốc tế đang có những diễn biến to lớn, phức tạp và sâu sắc. Việc sửa đổi, bổ sung tập trung vào các vấn đề lớn như kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học công nghệ, bảo vệ Tổ quốc, quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân, tổ chức bộ máy nhà nước… Hiến pháp chỉ quy định các vấn đề lớn, còn các vấn đề cơ bản nên để luật quy định.

Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 có 27 thành viên, trong đó có Chủ tịch Quốc hội, một Phó chủ tịch Quốc hội, Thường trực Ban bí thư Trung ương Đảng, Phó chủ tịch nước, Phó thủ tướng, Bộ trưởng Quốc phòng, Công an…

Nhất trí với việc cần thiết phải sửa đổi Hiến pháp 1992, đại biểu Nguyễn Đình Quyền cho rằng, cần thiết nhất chính là sửa đổi những quy định về bộ máy Nhà nước và Quốc hội.
“Hội đồng nhân dân có phải là cơ quan quyền lực ở địa phương hay là cơ quan đại diện? Câu hỏi này tồn tại hàng thập kỷ nay. Định hướng sửa đổi lớn nhất là bộ máy nhà nước, còn thể chế kinh tế, chế độ xã hội, quyền và nghĩa vụ của công dân không có vướng mắc nhiều”, tân Phó chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp nói thêm.

Đồng quan điểm, đại biểu Trần Du Lịch (TP HCM) cho hay, trong quan điểm sửa đổi cần nói rõ quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. “Hiến pháp 1946 quy định quyền phúc quyết của dân ở một số vấn đề. Cần làm rõ, ở Hiến pháp lần nay, vấn đề nào dân được quyền phúc quyết. Chúng ta đang vướng cơ chế kiểm soát quyền lực. Đề nghị tổ chức bộ máy cơ quan trung ương có cơ chế kiểm soát quyền lực, để không phân quyền, nhưng cũng không lạm quyền”, ông Lịch nhấn mạnh.

Cho rằng nhược điểm của Hiến pháp 1992 là quy định quá cụ thể khiến việc thực hiện gặp nhiều vướng mắc, đại biểu Nguyễn Mạnh Cường (Quảng Bình) đề nghị, Hiến pháp chỉ nên quy định chung, không nên quá cụ thể, chỉ khẳng định nguyên tắc lớn, đảm bảo quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân…

Còn đại biểu Phùng Khắc Đăng (Sơn La) mong mỏi, Hiến pháp sửa phải có tầm cỡ, tuổi thọ lâu dài. “Về cơ chế bảo vệ Hiến pháp, đề nghị nên chăng thành lập cơ quan chuyên trách, ví dụ Tòa án Hiến pháp, thanh tra của Quốc hội để xử lý nếu có vi phạm Hiến pháp”, đại biểu Đăng nói thêm.

Sau khi nghe 15 ý kiến đóng góp của đại biểu, Phó chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu cho hay, Hiến pháp là đạo luật cơ bản của nhà nước, thể hiện sự dân chủ, tiến bộ của nhà nước. Bốn bản Hiến pháp trước đây cũng chỉ quy định những vấn đề có tính nền tảng chứ không đi vào quy định cụ thể. Vấn đề liên quan đến chính sách để cho luật và văn bản pháp luật quy định.

Cũng theo Phó chủ tịch Uông Chu Lưu, đây mới chỉ là định hướng sửa đổi chứ chưa bàn đến nội dung. Quốc hội sẽ có 8 tháng tổng kết việc thi hành Hiến pháp 1992, sau đó mới xác định việc sửa đổi như thế nào. Quốc hội sẽ có bản thuyết minh, giải trình báo cáo đại biểu trong phiên bế mạc kỳ họp thứ nhất.

Theo kế hoạch, tháng 4/2012, Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp sẽ báo cáo Bộ Chính trị lần thứ nhất về nội dung sửa đổi Hiến pháp. Tháng 10/2012, bản dự thảo lần thứ nhất sẽ được trình Quốc hội. Sau khi hoàn thiện, Ủy ban dự thảo sẽ công bố lấy ý kiến nhân dân về bản dự thảo (lần 2) sửa đổi Hiến pháp. Dự kiến, tháng 10/2013 sẽ trình Quốc hội thông qua Dự thảo Hiến pháp.

theo Tiến Dũng – Như Trang
___________________________________________________

Posted in Chính trị Việt Nam, Chuyện pháp luật, Chuyện đất nước | Tagged: , , | Leave a Comment »