NGÔN NGỮ & VĂN HÓA

CHÚC MỪNG NĂM MỚI

Archive for the ‘Việt Nam và thế giới’ Category

“VÒNG TRÒN NHỎ” TRONG “VÒNG TRÒN LỚN”

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Ba 30, 2012

Tương Lai
(Bài phát biểu tại Hội thảo về giáo dục và đào tạo ngày 29.3.2012)

Đứng trước những bậc đàn anh thâm niên trong ngày giáo dục, tôi rất xấu hổ là mình đã chuyển nghề từ dạy học sang Viện nghiên cứu, cho dù thỉnh thoảng có đến giảng bài theo chuyên đề ở một vài trường Đại học, cho nên hôm nay, tôi không dám phát biểu thẳng vào giáo dục mà phải đi đường vòng.
Đúng hơn, là từ cái “vòng tròn lớn” để nói về cái “vòng tròn nhỏ” nằm trong cái “vòng tròn lớn” đó. Bởi lẽ, sẽ không thể nào hiểu, không thể nào tìm giải pháp chiến lược cho hệ thống giáo dục và đào tạo khi không đặt nó vào trong hệ thống lớn hơn mà giáo dục đào tạo là một bộ phận của cái toàn thể ấy.
Vì thế, tôi phải bắt đầu từ xã hội. Nhưng,“Xã hội-cho dù nó có hình thức gì đi nữa- là cái gì? là sản phẩm của sự tác động qua lại giữa những con người. Liệu con người có được tự do trong việc lựa chọn hình thức xã hội này hay hình thức xã hội khác hay không, C.Mác đặt ra câu hỏi để rồi trả lời: Tuyệt đối là không” [C.Mác& PhAngghen Toàn tập, Tập 27, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1995, tr. 657]. Lọt lòng mẹ, con người đã có sẵn một xã hội mà nó không có quyền chọn lựa, cũng giống như đứa trẻ không chọn lựa được nơi nó sinh ra, không thể lựa chọn cha mẹ. Bức tường xã hội đã có trước khi chúng ta sinh ra, chúng ta bị giam hãm trong những bức tường đó bởi chính sự hợp tác tự nguyện hay không tự nguyện của chúng ta, cũng có nghĩa là chúng ta cũng góp phần củng cố những bức tường đó hay đập phá nó đi. “Chúng ta bị giam cầm bởi chính sự hợp tác của chúng ta” [Berger]
Sự tác động qua lại trong mối quan hệ giữa người và người đã xây đắp nên những bức tường xã hội ấy hay làm rạn nứt, sụp đổ cũng những bức tường đó. Bức tường theo ý nghĩa trừu tượng. Nhưng cũng có những bức tường theo nghĩa đen trần trụi của nó: “Bức tường Berlin” chẳng hạn. Đây là “bức tường ý thức hệ”! Muôn hiểu về sự xuống cấp và quá lạc hậu của hệ thống giáo dục đào tạo phải đi sâu vào vấn đề “ý thức hệ” này. Đấy chính là “vấn đề của vấn đề”, nhưng cũng là mấp mé với khả năng quy kết là “phản cách mạng, chống Đảng” đây, nhẹ hơn là mất quan điểm lập trường, và thời thượng là có biểu hiện “diễn biến hóa bình”. Nhưng đây là Hội nghị khoa học, mà khoa học thì phải để cho giới khoa học được “mở miệng ra”. Cho nên tôi xin được “mở miệng” trước anh Vũ Ngọc Hoàng.
Căn bệnh của não trạng và hành vi lấy một lý luận chính trị, xã hội làm chân lý tuyệt đối và duy nhất, loại trừ và thủ tiêu mọi lý luận, mọi tư tưởng chính trị khác đã là một căn bệnh lâu đời của loài người. Từ khoảng đầu thế kỷ XX căn bệnh ấy được gọi là căn bệnh tôn sùng “ý thức hệ”, sống và đấu tranh với nhau vì “ý thức hệ”. Cái tên gọi ấy có xuất xứ từ Tây Âu. Căn bệnh ấy phân chia cả loài người và từng dân tộc, từng quốc gia, cho đến từng gia đình thành phe ý thức hệ này đối lập sống chết vơí phe “ý thức hệ” khác.
Tình hình này rõ nhất là sau Cách mạng tháng Mười 1917 và nhất là sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, trong chiến tranh lạnh. Bệnh ý thức hệ ấy ở Mỹ, Âu không kém gì ở Liên Xô và Trung Quốc thời ấy. “Chủ nghĩa Mắc Cácty” ở Mỹ, một quái thai ghê tởm, là một ví dụ. Sau khi kết thúc chiến tranh lạnh, bệnh “ý thức hệ” vẫn còn rất nặng ở quy mô cả loài người, từng quốc gia, thậm chí từng gia đình chứ không hết và chưa chắc đã nhẹ bớt đi. Ví như cuộc đấu tranh giữa ý thức hệ “tân tự do” với “ý thức hệ”, đúng hơn, với những lợi ích dân tộc và cá nhân, chống lại ý thúc hệ “tân tự do” là rất sâu và không kém phần đối nghịch.
Nêu lên điều này để nói rằng, không phải những người cộng sản khởi xướng ra bệnh “ý thức hệ”, mà là đưa thêm vào trong khái niệm đó những biến thái mới. Ở ta cũng từng có những mong muốn chuyển “ý thức hệ Mác-Lênin thành ý thức hệ của toàn dân! Từ Đại hội VI, với tư duy “Đổi Mới”, chúng ta thấy rõ đó là một sản phẩm duy ý chí, lấy lòng mong muốn thay cho thực tế. Bởi thế mới có được Cương Lĩnh của Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam được biểu quyết thông qua tại Đại hội VI của Mặt Trận năm 2004 với sự khẳng định: “đoàn kết mọi người Việt Nam ở trong và ngoài nước, không phân biệt thành phần xã hội và dân tộc, quá khứ và ý thức hệ, tôn giáo và tín ngưỡng, miễn là tán thành công cuộc đổi mới, nhằm mục tiêu giữ vững độc lập, thống nhất chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đầt nước vì dân giàu nước mạnh xã hội công bằng dân chủ văn minh”.
Xác lập được điều này chính là một bước đột phá quan trọng, đưa nhận thức trở lại đúng với quy luật vận động của cuộc sống, từ đấy mà mở ra một cục diện mới, rất mới. Bởi lẽ, phát triển luôn luôn là tự phát triển trong tiến trình tiến hóa, tạo nên những thuộc tính hợp trội, được thực hiện bằng các cơ chế thích nghi qua sự tương tác của hệ thống. Tiến hóa qua cơ chế thích nghi không chỉ biểu hiện bằng cạnh tranh sinh tồn và chọn lọc tư nhiên, mà còn bằng hợp tác và cùng phát triển. Chính sự đa dạng của tiến hóa như vậy tạo nên sự đa dạng, phong phú, rất phức tạp, song cũng hết sức sinh động của cuộc sống. Cuộc sống nói chung và cuộc sống của con người trong xã hội. Mà xã hội lại là một hệ thích nghi cực kỳ phức tạp, trong đó, các thành phần khác nhau, những yếu tố đối lập, tùy theo sức hút của mục tiêu chung đều có lợi cho tất cả, thì không nhất thiết phải đối đầu theo kiểu tư duy “ai thắng ai”, dẫn đến một kết cục phải thanh toán lẫn nhau để giành quyền thắng, chứ không chịu tìm cách thông qua những tương tác có tính hợp trội để có thể tìm được khả năng cùng thắng.
Nhưng đã một thời, “ai thắng ai” là một nguyên lý có ý nghĩa định hướng cho cách tư duy, không chỉ của một nhóm người, mà là tác động đến toàn xã hội. Mọi sinh hoạt trong đời sống chính trị của đất nước đều nằm trong “vùng phủ sóng” của kiểu tư duy “ai thắng ai” trong cuộc đấu tranh giai cấp vốn được xem là động lực của phát triển xã hội. “Ai thắng ai” ngay khi chính quyền đã thuộc về nhân dân, mọi người dân đều được xác lập vị trí làm chủ đất nước, làm chủ xã hội.
Vậy thì, “ai” đây là “ai”, ai thắng ai trong một đất nước mà nhân dân đã phải trả cái giá cho quyền làm chủ vừa giành được ấy bằng máu và nước mắt trong hy sinh chiến đấu của nhiều thế hệ Việt Nam.. Vì có chuyện “ai thắng ai” đó, mà phải kiên trì mô hình kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp, đối lập với kinh tế thị trường; mới có cải tạo Xã hội Chủ nghĩa đối với thành phần kinh tế mà ngày nay được xác lập là lực lượng xung kích trong hội nhập và phát triển. Giờ đây thì đã có thể nói rõ sai lầm của chuyện “quay lưng lại với biết bao sự thật hàng ngày diễn ra trước mắt mình để lao vào những sai lầm với những cái giá đắt nhất phải trả” ấy mà Phạm Văn Đồng đã nghiêm khắc chỉ ra trong “Văn hóa và Đổi mới” xuất bản năm 1994.
Cái giá đắt nhất chính là kéo lùi đất nước lại cả một thập kỷ, để vuột mất những cơ hội của hội nhập và phát triển. Thậm chí khi đã trở thành thành viên chính thức thứ 150 của WTO, nền kinh tế và các nhà doanh nghiệp của ta vẫn còn phải gánh chịu những bất lợi do vẫn bị xem là “nền kinh tế phi thị trường”, và rồi phải phấn đấu thêm 12 năm nữa, những bất lợi ấy mới được bước đầu xóa bỏ. Chẳng hạn như, khi chưa được xem là nền kinh tế thị trường thực thụ, thì Hiệp định về bán phá giá, Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng của WTO sẽ chưa cho chúng ta cơ hội để cứu vãn tình thế bất lợi. Thế là sẽ còn “mất công mười mấy năm thừa ở đây”! Nhưng dù sao thì cũng chỉ là 12 năm chứ không đến nỗi “đoạn trường cho hết kiếp này mới thôi”!
Quả là, “đoạn trường ai có qua cầu mới hay”, nếu không dứt bỏ kiều tư duy “ai thắng ai” đó, thì không thể nào chân thành đoàn kết và xác định rõ “đồng thuận” chính là động lực của phát triển. Nhưng xem ra không phải là cái di lụy của “ai thắng ai” không còn gây ảnh hưởng chỗ này chỗ kia, lúc này lúc khác khiến cho công cuộc đổi mới không tránh khỏi những trắc trở gập ghềnh, đã có lúc “bước đi một bước, giây giây lại dừng”. Đúng là cất bỏ gánh nặng tư tưởng của một thời quả là không đơn giản.
Không đơn giản, song nếu không sòng phẳng về mặt lý luận để có sự tường minh trong nhận thức thực tiễn, trong việc hoạch định các giải pháp phù hợp với một thời kỳ mới mà vận nước đang thôi thúc mỗi một người Việt Nam muốn góp phần mình vào sự nghiệp chấn hưng đất nước. Nếu không sòng phẳng về lý luận, khẳng định rõ đồng thuận là động lực, đại đoàn kết là động lực chứ không phải đấu tranh giai cấp là động lực như trước đây, thì không thể thúc đây sự nghiệp Đổi Mới một cách triệt để và toàn diện được. Mà trong thực tế, lực cản của Đổi Mới là quá lớn. Không thể tiếp tục Đổi Mới, nếu không chỉ rõ cội nguồn của lực cản ấy.
Xin hãy dừng lại ở một ví dụ sau đây:
Đã từng một thời có những câu thơ bốc lửa giục giã con người đi làm cách mạng “Đi đi em can đảm bước chân lên / Ừ đói khổ phải đâu là tội lỗi!”. Đúng vậy, và rồi “Nuôi đi em cho đến lớn, đến già ? Mầm hận ấy trong lồng xương ống máu / Để thêm nóng mai kia hồn chiến đấu” thì giờ đây ngẫm lại có cái gì không ổn! Mà không ổn từ chính logic của hệ tư tưởng:
Xin giải thích bằng một câu chuyện trong “Thế giới phẳng”, một cuốn sách bán chạy nhất của người đã đoạt giải thưởng Pulizer, và theo nhận xét của J. E. Stiglitz, người đoạt giải Nobel kinh tế: “Đặc điểm của một cuốn sách hay là nó khiến bạn nhìn nhận mọi thứ theo một nhãn quan mới, và xét theo tiêu chí này thì Friedman đã thật sự thành công”. Chuyện rằng: “ Một người bạn Hồi giáo vùng Nam Á của tôi đã có lần kể cho tôi nghe câu chuyện như sau: Gia đình Hồi giáo Ấn Độ của anh ta bị chia ly vào năm 1948, một nửa sang Pakistan và một nửa ở lại Mumbai. Khi lớn lên, anh ta hỏi cha mình tại sao một nửa gia đình ở Ấn Độ lại có vẻ làm ăn tốt hơn nửa gia đình ở Pakistan. Cha anh nói: “Con ạ, khi một người Hồi giáo lớn lên ở Ấn Độ và trông thấy một người sống trong một tòa biệt thự lớn trên quả đồi, anh ta sẽ nói “Bố ơi, rồi sẽ có ngày con sẽ như ông ta”. Còn khi một người Hồi giáo lớn lên ở Pakistan và thấy một người sống trong một biệt thự lớn trên quả đồi, anh ta sẽ nói “Bố ơi, rồi có ngày con sẽ giết ông ta.” …Khi bạn không tìm được lối ra, bạn thường tập trung vào sự phẫn nộ và gắm nhắm ký ức của mình”. Kể câu chuyện này, Thomas L. Friedman nhằm minh họa cho luận điểm “cho con người một môi trường mà trong đó mọi lời than phiền hay ý tưởng đều có thể được đăng tải trên báo chí, cho họ một môi trường mà trong đó mỗi người đều có thể ứng cử vào một chức vụ- và thử đoán xem điều gì sẽ đến? Họ thường không muốn làm nổ tung thế giới này. Họ muốn trở thành một phần của thế giới”.[tr. 798]
Sự bất an trong tâm hồn khiến người ta dễ dàng manh động theo bản năng. Phúc âm viết: “Kẻ nào rút gươm ra, kẻ ấy đã mở lối điạ ngục”. Nhưng trước khi rút gươm, tâm thức của anh ta đã chứa đầy hờn căm và những nghĩ suy hiểm ác. Nhìn nhận một sự kiện văn hoá, đạo đức, có thể thấy những nguyên nhân trực tiếp, song thực ra, phải nhìn lùi vào bề dày của những hệ luỵ do nhiều nguyên nhân đã gây ra. Bề dày đó có khi phải tính bằng độ dài của sự ra đời và trưởng thành của mấy thế hệ.
Cho nên, văn hoá phải đi trước một bước thì mới tạo ra được nền tảng tinh thần của xã hội, và đánh giá một hiện tuợng phản văn hoá lại phải lùi lại phía sau nhiều bước thì mới thấu tỏ được nguyên nhân. Có vậy mới đưa ra được giải pháp đúng. Tạo ra một hoàn cảnh “có tính người”, tức là tạo ra một môi trường xã hội trong đó “người với người là bạn”, “thương người như thể thương thân” chính là sứ mệnh cao cả của văn hóa.
Đương nhiên, một môi trường như vậy không tự trên trời rơi xuống, chúng ta tiến hành cuộc cách mạng chính là để hướng tới một môi trường như vậy. Nhưng nếu nung nấu trong “lồng xương, ống máu” một “mầm hận” cho “đến lớn, đến già” thì rồi cái gì sẽ đến khi cách mạng đã thành công? Và nếu tính bài thơ ra đời tháng 2 năm 1938, thì chỉ 7 năm sau Cách mạng Tháng Tám thành công, cậu bé “len lét, cúi đầu, tay xách gói” chắc đã trở thành một người giữ trọng trách với cái “mầm hận ấy trong lồng xương ống máu” thì khủng khiếp quá cho những việc anh ta sẽ làm!
Thì chẳng phải cái “mầm hận” ấy vẫn còn trong não trạng của không ít người đang giữ những vị thế đòi hỏi một tư tưởng cởi mở để thật sự có thể hòa hợp dân tộc trên một đất nước mà không một gia đình nào là không phải chịu đựng những vết thương chiến tranh. Và chắc là trong đó có không ít người nằm trong số còn “lướng vướng” với việc thúc đẩy sự nghiệp Đổi Mới một cách triệt để với tâm thế “cũng cho khỏi lụy trong vòng bước ra”!
Chúng ta đã có những trải nghiệm đau đớn với “cải cách ruộng đất”. với đấu tranh chống “Nhân văn-Giai phẩm”, với đấu tranh ai thắng ai bằng “cải tạo tư sản” và “công tư hợp doanh” , rồi quá trình “kế hoạch hóa tập trung, bao cấp”, “hợp tác hóa bậc cao” ngăn sông cấm chợ, khước từ kinh tế thị trường …đã đẩy đất nước đến bên bờ vực sụp đổ. Trước và trong Đại hội XI, người ta chiếu bộ phim “Bí thư tỉnh ủy” thật có ý nghĩa và cũng thật bạo gan. Tôi nghĩ, nếu mỗi đại biểu Đại hội mà xem nghĩ, hiểu kỹ và tự vấn lương tâm của người cộng sản chân chính và đích thực, chắc sẽ đưa được vào Đại hội một luồng gió mới. Nếu soi kỹ vào những sai lầm kéo dài hàng thập kỷ ấy sẽ thấy “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt chính là cái “mầm hận” đã thấm sâu vào trong “lồng xương ống máu” nhằm đẩy tới cuộc đấu tranh giai cấp được xem là động lực thúc đẩy sự phát triển xã hội.
Xin hãy nhớ lại hình ảnh ông Đình, thường vụ Tỉnh ủy, ông Bao, phái viên của TƯ, rồi cao nhất là ông Trung Chính. Riêng tôi, tôi cứ nhớ lại nét mắt chân tình của ông Trung Chính khi ông ấy dặn với theo xe cấp cứu đưa ông Kim đi bệnh viện: “cẩn thận, đưa ngay vào bệnh viện Việt Xô, tôi sẽ gọi điện thoại bảo điều ngay những bác sĩ giỏi nhất chữa trị cho anh ấy”. Liệu ông Trung Chính có hiểu rằng chính ông là nguyên nhân trực tiếp đẩy ông Kim bị bục dạ dày? Ông Kim, người đồng chí trung thành và dũng cảm, người dám chống lại cả một thế lực khủng khiếp đang đẩy nông dân Miền Bắc nói riêng và cả dân tộc vào thảm họa, chính là người được ông Trung Chính “giác ngộ” và kết nạp vào Đảng thời kỳ hoạt động gian khổ trong vòng vây của kẻ thù!
Sự chu đáo, nhân từ nhưng lại cực kỳ cứng rắn trong giữ vững “lập trường quan điểm” của ông TC càng được khắc họa sắc nét bao nhiêu thì càng làm nổi rõ hơn sự khủng khiếp của một cơ chế trói buộc đầu óc con người, làm triệt tiêu mọi sáng tạo và sức chiến đấu của những con người đang giẫy dụa trong sự trói buộc của chiếc mũ kim cô giáo điều và “tả khuynh”. Một trong những di lụy đáng sợ là chính chiếc mũ kim cô ấy trói buộc những đầu óc sáng tạo và những nhân cách trung thực nhưng lại dung dưỡng cho sự tác oái tác quái của đám dòi bọ của cách mạng.
Từ “dòi bọ” tôi nói đấy là dùng lại cách nói của C.Mác: “Có thể Các Mác vui lòng nhắc lại một câu nói mà tôi luôn luôn ghi nhớ trong ký ức của mình: “Tôi đã gieo những con rồng và tôi đã gặt được những con bọ”. Thật có đúng như vậy, song cũng có những con rồng…” [Phạm Văn Đồng. “Hồ chí Minh. Quá khứ, Hiện tại và Tương lai”NXB Sự Thật. 1991, tr. 98].
Vậy thì, gọi đúng tên cúng cơm của cơ chế trói buộc đầu óc con người, làm triệt tiêu mọi sáng tạo và sức chiến đấu của những con người đang giẫy dụa trong sự trói buộc đó chính là chủ nghĩa giáo điều Maoít phản Mácxít từng xem “đấu tranh với người là niềm vui lớn” đem áp đặt vào một xã hội mà tinh thần dân tộc là “động lực lớn nhất của đất nước” như Hồ Chí Minh đã chỉ ra từ năm 1924 để khẳng định rằng: “người ta sẽ không thể làm gì được cho người An Nam nếu không dựa trên động lực vĩ đại và duy nhất ” ấy!
Từ những năm 30, Hồ Chí Minh đã từng chỉ ra rằng: “…phải biết khéo lợi dụng kinh nghiệm. Nếu thấy người ta làm thế nào mình cũng một mực bắt chươc làm theo thế ấy. Thí dụ: nghe người ta nói giai cấp đấu tranh, mình cũng ra khẩu hiệu giai cấp đấu tranh, mà không xét hoàn cảnh nước mình như thế nào để làm cho đúng” [Văn kiện Đảng (Từ 10.8.1935 đến 1939) Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng, Hà Nội, 1964, tr.25].
Ngay từ Hội nghị thành lập Đảng năm 1930, Hồ Chí Minh đã khẳng định nếu không giải quyết được vấn đề giải phóng dân tộc, không đòi hỏi được độc lập tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu mà quyền lợi của bộ phận giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được. Đến năm 1937, Người lại nhắc nhở:”Các đồng chí mắc phải cái bệnh thiên về thợ thuyền lao động quá, có khi chỉ biết những người ấy mà quên hết cả quyền lợi của các tầng lớp, các giai cấp khác, quyền lợi chung của dân tộc cần phải bênh vực. Các đồng chí trong Đảng cần phải hiểu rằng: Đảng ta chẳng những là kẻ bênh vực và lãnh đạo cho giai cấp vô sản mà thôi, mà cũng là kẻ bênh vực và lãnh đạo cho toàn thể dân chúng nữa. Đảng phải làm tròn vai trò ấy.” [Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập 4, NSB Sự Thật, Hà Nội, 1984. tr. 491]
Lịch sử cách mạng Việt Nam đã chứng minh một sự thật không thể bác bỏ là: lúc nào lấy dân tộc làm động lực thúc đẩy cuộc đấu tranh cách mạng, lúc ấy cách mạng giành được thắng lợi, còn lúc nào nống đấu tranh giai cấp lên làm động lực, lúc ấy cách mạng gặp khó khăn. Đặt vấn đề ý thức hệ giai cấp lên trên quyền lợi của tổ quốc, lấy vấn đề trung thành với ý thức hệ đó làm điểm quy chiếu cho đường lối tổ chức và đánh giá, tuyển chọn cán bộ, đã đẩy tới những hệ lụy khó lường. Đã đến lúc cần phải nghiêm cẩn và thẳng thắn chỉ ra.
Một trong những vấn đề ấy là vấn đề chuyên chính vô sản.
Xin gơi ra đây những ý kiến của đồng chí Võ Văn Kiệt đề cập tới vấn đề gay cấn này qua đoạn viết về đồng chí Lê Duẩn: “Trong nhiều lần trao đổi, nhận xét và chỉ đạo những công việc chúng tôi đang tiến hành tại thành phố Hồ Chí Minh, Anh Ba nêu rất nhiều gợi ý hết sức mạnh dạn và sáng tạo. Qua những ý kiến chỉ đạo của Anh, tôi hiểu Anh đang trăn trở về mô hình phát triển của đất nước mình không thể rập khuôn theo mô hình của Liên Xô và các nước XHCN Đông Au, mô hình Trung Quốc. Cũng như trước đây trong chỉ đạo cuộc chiến tranh cách mạng, tôi thấm thía lời căn dặn của Anh: chỉ lúc nào chúng ta độc lập và sáng tạo, xuất phát từ thực tiễn của đất nước, từ lợi ích của dân tộc, lúc ấy chúng ta thắng lợi, lúc nào chúng ta lệ thuộc, giáo điều sao chép của người ta, lúc ấy cách mạng phải trả giá nặng nề.
Tôi hiểu, Anh không tán thành mô hình Xô Viết. Qua tìm hiểu thực tế ở các nước anh em trong phe XHCN và suy ngẫm về lý luận, Anh nhận ra có quá nhiều vấn đề bất ổn. Anh không tán thành áp đặt thể chế nhà nước “chuyên chính vô sản” khi mà nhân dân đã giành lại được quyền làm chủ đất nước mình bằng những hy sinh không sao kể xiết, không thể “vô sản” lại chuyên chính với chính mình, với nhân dân. Tư tưởng về “làm chủ tập thể” mà Anh nung nấu chính là sự cố gắng tìm đường bứt phá ra khỏi những công thức giáo điều không phản ánh được sự vận động và biến đổi của cuộc sống, xa rời ý chí và nguyện vọng của nhân dân.
Đáng tiếc là, những lóe sáng trong bộ óc tìm tòi, sáng tạo của Lê Duẩn chưa được giới lý luận suy nghĩ, bàn bạc một cách nghiêm túc để định hình được một hệ thống lý luận hoàn chỉnh từ sự đúc kết thực tiễn thay vì những lời tụng ca xu thời lúc Anh Ba giữ cương vị Tổng Bí thư và những quy kết vô lối đầy ác ý khi Anh Ba qua đời. Giờ đây nhớ lại, Anh Ba đã từng phê phán những tư tưởng hạn hẹp chỉ bó gọn tầm mắt và mối quan hệ trong COMECOM. Đôi lúc trao đổi với chúng tôi, Anh nghĩ đến việc phải học hỏi thêm những thành tựu kinh tế và mở rộng quan hệ với Châu Âu, với Nhật, với Mỹ. Anh Ba cho rằng đó không chỉ là chuyện chính sách và chiến thuật, mà phải ở tầm đường lối cơ bản. Trong suy nghĩ về đường lối phát triển kinh tế, Anh Ba cũng đã từng nói đến kinh tế hộ, kinh tế hợp tác và kinh tế tư nhân chứ không phải chỉ nhấn mạnh quốc doanh là ưu việt nhất một cách tràn lan mọi ngành, mọi lúc. Ngay cả vấn đề “khoán hộ” của đồng chí Kim Ngọc ở Vĩnh Phú, mặc dầu lúc ấy đã có kết luận chính thức, song Anh Ba vẫn động viên cần tiếp tục tìm tòi cái mới trong quản lý sản xuất nông nghiệp..
Chính tôi đã nhiều lần nghe Anh Ba phê phán những khuyết tật cơ bản của kế hoạch hóa tập trung quan liêu, và đòi hỏi phải dám mạnh dạn tìm tòi cơ chế mới phù hợp với từng bước phát triển của đất nước mình. Anh Ba đã có lần gợi ý với chúng tôi những vấn đề cần suy nghĩ về vai trò của giá, của tài chính tiền tệ, những công cụ và đòn bẩy chính của kinh tế thị trường mà ta nói hiện nay. Rõ ràng là, từ rất sớm, bộ óc lớn ấy đã từng lóe sáng những suy tư về đổi mới như tôi đã nói ở trên.
Chỉ có điều, từ những trăn trở trong suy nghĩ nhằm định hình những vấn đề thuộc về đường lối, đến việc vận dụng vào thực tế, có cả một khoảng cách rất xa. Ở cương vị cao nhất của Đảng, gánh vác những công việc lớn lao của đất nước sau khi Bác Hồ qua đời, đồng chí Lê Duẩn không thể không chịu trách nhiệm về những sai lầm của Đảng, làm chậm sự phát triển của đất nước mà Đại hội VI của Đảng đã chỉ ra. Cho đến hôm nay, tôi vẫn băn khoăn suy nghĩ về một số vấn đề lớn được Đại hội IV quyết định. Đành rằng trong bối cảnh lịch sử lúc bấy giờ, thoát ra khỏi những lối mòn đã định hình quá lâu trong đầu óc của những nhà lãnh đạo có trách nhiệm hoạch định đường lối không hề là chuyện đơn giản. Nhưng ở cương vị Tổng Bí thư, đồng chí Lê Duẩn phải chịu trách nhiệm những gì và như thế nào. Để làm rõ những vấn đề có ý nghĩa lớn ấy trong lịch sử Đảng nhằm đúc kết những bài học cho những thế hệ hôm nay và mai sau, không thể là những phát biểu tùy tiện, mà phải là những nghiên cứu nghiêm túc với tinh thần trung thực và khách quan.
Năm tháng đã trôi qua, khi viết những dòng này, lòng tôi vẫn bồi hồi xúc động nghĩ đến một hình ảnh đang chiếm giữ trong tim óc tôi một vị trí thật thiêng liêng và gần gũi. Sau Bác Hồ vĩ đại và kính yêu, hình ảnh thân thiết nhất, cảm phục nhất, có sức động viên và nâng tôi lên chính là hình ảnh của đồng chí Lê Duẩn, Anh Ba Duẩn kính mến.”
Thế nhưng sau khi bài này vừa đăng lên thì 2 hôm sau trên báo Sài Gòn Giải phóng của một người từng nắm công tác lý luận đã lên tiếng bác bỏ. Trong lập luận, bài viết ấy vẫn khẳng định nhà nước của ta hiện nay, về thực chất vẫn thực hiện nội dung chuyên chính vô sản! Tôi vẫn giữ lại tờ báo có đăng bài ấy nhưng xin miễn nêu ra ở đây.
Vì sao vậy?
Đây là vấn đề cực kỳ phức tạp và nhạy cảm. Sự định hình của nguồn mạch tư duy, nhất là đối với những người đã cao tuổi, vốn sống với hào quang của quá khứ, thật khó mà dứt bỏ khỏi đầu óc mình những cái vốn đã ăn vào máu thịt và là niềm kiêu hãnh lớn , một giá trị được xây đắp vun quén trong cả một đời. Những người từng gánh vác trách nhiệm cao, từng vào tù ra tội, từng chịu đựng mưa bom bão đạn sẽ lại càng khó dứt bỏ những ngộ nhận và sai lầm. Tự vượt lên chính mình là thử thách khó nhất đối với bản lĩnh một con người. Đấy là chưa nói sự lạc hậu với tình hình, không kịp thời nắm bắt thong tin, chỉ quen sống với những giá trị đã định hình cho dù những giá trị bị ngộ nhận hoặc đã “quá đát” trở thành vật cản cho tư duy.
Phải chăng ở đây có thể mượn ý Nguyễn Du qua lời của bóng ma Đạm Tiên nói với nàng Kiều “Rỉ rằng nhân quả dở dang. Đã toan trốn nợ đoạn trường được sao” cho dù là “Ma đưa lối, quỷ dẫn đường, Lại tìm những chốn đoạn trường mà đi”. Thật ra, một khi mà “Một giây một buộc ai giằng cho ra” thì “đố ai gỡ mối tơ mành cho xong” nếu không tự mình giải phóng cho chính mình mà ngay đến khi đã có thể “Đoạn trường sổ rút tên ra” thì vẫn cứ “Cuộc vui gãy khúc đoạn trường” [ấy chi ]! Mà có chuyện đó vì nó có nguồn mạch từ trong quá trình vận động cách mạng.
Xin gợi lại vài tư liệu lịch sử để thấy rằng chính Hồ Chí Minh cũng đã từng là nạn nhân của sự “độc quyền chân lý, áp đặt tư duy, tùy tiện quy kết” từ những cấp rất cao khi kiên định quan điểm về dân tộc, không tán thành thổi phồng vấn đề giai cấp. Chẳng hạn, vì lý do ấy mà Staline không tiếp Hồ Chí Minh, chưa chịu công nhận nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà cho mãi đến năm 1950 sau cuộc gặp ở Matxcơva.
Một tài liệu cho biết cuối cùng Staline cũng nhận tiếp Hồ Chí Minh, ngay tại phòng làm việc của mình, với sự có mặt đông đủ các nhà lãnh đạo chủ chốt của Liên Xô, phía Trung Quốc có Đại sứ Trung Quốc Vương Gia Tường, phía Việt Nam có Trần Đăng Ninh. Staline mở đầu: Chúng ta là những người bạn, người anh em thân thiết, gặp đồng chí hơi muộn một chút, xin thứ lỗi! Hồ Chí Minh báo cáo tóm tắt tình hình cơ bản về Đảng Cộng sản Đông Dương, về cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Việt Nam và đề nghị Liên Xô giúp đỡ…Staline phát biểu chậm rãi nhưng rành rọt, đại ý:
– Tại sao các đồng chí tự ý giải tán Đảng? Đồng chí tưởng lừa được chủ nghĩa đế quốc à, chính là đồng chí lừa chúng tôi, vì ở xa, không biết thực hư thế nào (có ý trách là không xin ý kiến).
– Chính phủ các đồng chí là cái chính quyền gì, sao mà lắm nhân sĩ, trí thức, địa chủ, quan lại thế? (ý nói không phải chính quyền công nông).
– Tại sao đến nay các đồng chí không tiến hành cải cách ruộng đất? Để đánh thắng đế quốc Pháp, sự chi viện của quốc tế là cần thiết, nhưng phải phát động quần chúng, động viên quần chúng, đem lại lợi ích thiết thân cho họ, đó mới là điểm mấu chốt làm nên thắng lợi. Staline tỏ ý không hài lòng lắm, hỏi: trong 2 cái ghế dân tộc và giai cấp, đồng chí ngồi trên cái ghế nào? (có ý phê bình lập trường giai cấp còn mơ hồ ).
– Về vấn đề viện trợ cho cuộc kháng chiến của Việt Nam, Staline nói: Cách mạng Trung Quốc nay đã thành công, Trung Quốc đã trở thành trung tâm của cách mạng châu Á, từ nay chi viện cho Việt Nam sẽ do Trung Quốc đảm nhiệm, vì sát với Việt Nam. Liên Xô có nhiệm vụ giúp Trung Quốc xây dựng kinh tế, những vũ khí chúng tôi giúp Trung Quốc, nay kết thúc chiến tranh, cái gì không dùng nữa, hợp với Việt Nam, thì có thể chuyển cho Việt Nam (như một sự phân công quốc tế); đồng thời Staline cũng nhắc nhở Việt Nam phải ra sức học tập kinh nghiệm của Trung Quốc.
Tóm lại, Liên Xô không muốn dính vào vấn đề Việt Nam ở thời điểm này. Cuộc đón tiếp được coi là hờ hững. Trong cuộc tiếp, nhân trên bàn có cuốn họa báo “Liên Xô trên công trường”, có ảnh Staline, Hồ Chí Minh bèn xin Staline một chữ ký để làm kỷ niệm. Staline ký tặng rồi sau đó sai KGB bí mật lấy lại. Điều này làm cho Hồ Chí Minh rất bức xúc: “Làm sao lại có thể có chuyện đó giữa những đồng chí cộng sản với nhau”?.
[Theo Trương Quảng Hoa: “Ghi chép bí mật về quyết sách giúp Việt Nam chống Pháp”, đăng trên Tạp chí Viêm hoàng xuân thu, số 10 năm 1995.]
Hiểu sự kiện này có ý nghĩa như thế nào mới thấy ra được bản lĩnh của Hồ Chí Minh, những khó khăn mà Hồ Chí Minh phải vượt qua như thế nào. Gay gắt nhất là khó khăn do các đồng chí của mình gây ra. Trần Phú, Ngô Đức Trì là những học viên lớp đầu của trường Phương Đông trong khoảng thời gian từ 1927 đến 1930, đã được đào luyện rất kỹ theo tinh thần “giai cấp chống giai cấp” của Đại hội VI, trở thành những người cộng sản ‘cứng rắn”, được cử về để “uốn nắn” lại những “sai lầm” của Nguyễn Ái Quốc!
Người phê phán gay gắt nhất Nguyễn Ái Quốc là Trần Phú. Tại Hội nghị TƯ tháng 10-1930, Trần Phú đã phê phán những sai lầm về chính trị và tổ chức của Hội nghị hợp nhất là “chỉ lo đến việc phản đế mà quên mất lợi ích giai cấp đấu tranh, ấy là một sự rất nguy hiểm”, về “chia địa chủ làm đại, trung và tiểu địa chủ”, về “nóí phải lợi dụng bọn tư bản mà chưa rõ mặt phản cách mạng”, cùng một số sai lầm khác, sau đó ra nghị quyết ‘thủ tiêu Chính cương, Sách lược và Điều lệ cũ của Đảng” [Văn kiện Đảng Toàn Tập, NXB Chính trị Quốc gia, 1998, t. 2, tr. 110-112]. Sau Hội nghị TƯ 10-1930, trong thư gửi Quốc tế Cộng sản ngày 17-4-1931, ông còn phê phán nội dung Hội nghị hợp nhất “mang nặng dấu ấn các tổ chức cách mạng cũ, các vấn đề cơ bản đều mâu thuẫn với đường lối Quốc tế Cộng sản (do thiếu một chính sách giai cấp),…mang dấu ấn nhất định của thời kỳ Quốc -Cộng hợp tác 1925-1927” [Tài liệu lưu trữ tại Phòng QTCS, nay là Trung tâm bảo tồn và nghiên cứu các tài liệu lịch sử hiện đại Nga, viết tắt là R.C. ký hiệu 495.154.462.]
Thời gian này, Hà Huy Tập đã trở về Trung Quốc, đứng đầu Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng. Ngày 31-3-1935, trong thư gửi Quốc tế Cộng sản, ngoài nội dung chính là báo cáo kết quả của Đại hội Ma Cao, trong 10 điểm nói thêm, có 2 điểm báo cáo về Nguyễn Ái Quốc, ở điểm thứ mười, ông đã viết: “Ở Xiêm và Đông Dương, các tổ chức cộng sản đã tiến hành một cuộc đấu tranh công khai chống lại những tàn dư của tư tưởng dân tộc cách mạng pha trộn với chủ nghĩa cải lương của đảng Thanh niên và của đ/c Nguyễn Ái Quốc, những tàn dư ấy rất mạnh và tạo thành một chướng ngại nghiêm trọng cho sự phát triển chủ nghĩa cộng sản…Chúng tôi đề nghị đ/c Lin viết một quyển sách để tự phê bình những khuyết điểm đã qua”. [Văn kiện Đảng TT, t. 5, tr. 204]
Ngay cả khi được tin Nguyễn Ái Quốc đã lâm bệnh, qua đời ở Hồng Kông, trong bài viết như để truy điệu, Hà Huy Tập cũng không quên nhắc đến những “sai lầm” của Nguyễn Ái Quốc: “Công lao mà ông đã đóng góp cho Đảng chúng ta thật là lớn. Song các đồng chí chúng ta trong lúc này không được quên những tàn dư dân tộc chủ nghĩa của Nguyễn Ái Quốc, các chỉ thị sai lầm của ông về những vấn đề cơ bản của phong trào cách mạng…Ông đã không đưa ra bàn luận trước về những sách lược mà Quốc tế Cộng sản đòi hỏi phải áp dụng để loại bỏ những phần tử cơ hội trong Đảng. Ngoài ra, ông còn khuyến dụ một sách lược cải lương và hợp tác sai lầm: trung lập hóa tư sản và phú nông, liên minh với trung và tiểu địa chủ”. [Bài đăng trên Tạp chí Bônsêvích (Cahier du Bolchévisme) số 8, tháng 12-1934. Dẫn lại theo Daniel Hemery: Ho Chi Minh, De l’Indochine au Viet Nam , p. 73].
Cái logic của định hướng tư tưởng ấy sẽ đẩy cuộc sống đi tới theo chiều hướng cực tả. Mà vì vậy, muốn là người cách mạng kiên định thì phải đi theo hướng ấy. Đây chính là điểm quy chiếu của lập trường quan điểm và chỉ đạo đường lối chính sách cũng như hành động thực tiễn. Từ trước Đổi Mới, đây là điểm tựa cơ bản. Hiểu điều này, mới hiểu được bản lĩnh của Hồ Chí Minh vào năm 1951, khi Đảng có điều kiện để ra công khai đã đổi tên Đảng là Đảng Lao Động Việt Nam: “Chính vì Đảng Lao động Việt Nam là đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cho nên nó phải là Đảng của dân tộc Việt Nam” 1. Chỉ rõ “Đảng phải là Đảng của dân tộc Việt Nam”, khẳng định dân tộc, lợi ích của dân tộc là mục tiêu chiến đấu, quan điểm ấy, ý chí ấy nhất quán trong tư tưởng Hồ Chí Minh từ đầu chí cuối. Ngay từ 1924, Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: “Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn nhất của đất nước … Người ta sẽ không thể làm gì được cho người An Nam nếu không dựa trên các động lực vĩ đại, và duy nhất của đời sống xã hội của họ”. Chính vì vậy, “Chính cương và Sách lược” do Nguyễn Ái Quốc nêu nổi bật tư tưởng “mặt trận toàn dân” và “thống nhất dân tộc” để đánh đổ thực dân và phong kiến để rồi phải gánh chịu cái tội: “mang hệ tư tưởng quốc gia cách mạng pha trộn với tư tưởng cải lương và duy tâm chủ nghĩa” vì không quán triệt quan điểm của Staline “giai cấp đấu tranh là quan trọng nhất và ngày càng có tính chất kịch liệt” rất xa lạ với quan điểm của Lênin về vấn đề dân tộc. Chính vì thế “…phải biết khéo lợi dụng kinh nghiệm. Nếu thấy người ta làm thế nào mình cũng một mực bắt chươc làm theo thế ấy. Thí dụ: nghe người ta nói giai cấp đấu tranh, mình cũng ra khẩu hiệu giai cấp đấu tranh, mà không xét hoàn cảnh nước mình như thế nào để làm cho đúng” . Trong thư “Kính cáo đổng bào” viết ngày 6.6.1941, Nguyễn Ái Quốc khẳng định: “Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy…Hiện thời muốn đánh Pháp đuổi Nhật ta chỉ cần một điều: Toàn dân đoàn kết.”
Trong bài “Đại đoàn kết dân tộc, cội nguồn sức mạnh của chúng ta”, viết năm 2005 Võ Văn Kiệt giải thích: “Đoàn kết đồng thời có nghĩa là phải khoan dung. Chính phủ Hồ Chí Minh chủ trương xóa bỏ mọi hận thù và chia rẽ do chế độ cũ để lại, sẵn sàng thu dụng những người có tài, có năng lực, có tâm huyết, mà không kể đến quá khứ…Đến Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II đầu năm 1951, vấn đề đại đoàn kết được đặt ra và nhìn nhận trong những hoàn cảnh khác. Đã có không ít ý kiến xung quanh vấn đề này. Bác kết luận: “Chính vì Đảng Lao động Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cho nên nó phải là Đảng của dân tộc Việt Nam”. Lời giải thích đó của Bác có sức thuyết phục mạnh mẽ trong Đại hội Đảng.
Về phần mình, trải qua bao năm tháng suốt từ trước Cánh mạng Tháng 8 năm 1945 đến ngày nay, từ những phút gian nguy giữa sống và chết, đến những ngày chia ngọt sẻ bùi từng thắng lợi, tôi đã bao lần được đồng bào che chở cưu mang, đã chứng kiến bao tấm gương hy sinh của những người thuộc mọi tầng lớp và lứa tuổi…tôi càng thấm thía những bài học lớn đó của Hồ Chí Minh. Tiếc rằng một số năm sau đó, tư tưởng đại đoàn kết đã bị coi nhẹ, quan điểm giai cấp đã được vận dụng một cách máy móc, một chiều…Tư tưởng thành phần chủ nghĩa đã dẫn tới hai hậu quả: làm mất đi nhiều tài năng của một bộ phận đáng kể trong dân tộc, đồng thời đưa một cách gượng ép những nhân tố tuy rất cơ bản về chính trị nhưng lại không đủ chất lượng vào quản lý và xây dựng ”.
Xin hãy chỉ gợi lên một chuyện mà theo người kể là “ít người biết” trong Mậu Thân 1968: Khi bàn về các mục tiêu phải tiến công, một số anh lãnh đạo không đề ra mục tiêu tòa Đại sứ Mỹ”, với tư cách là Bí thư Khu ủy Sài Gòn – Gia Định, ông Sáu Dân khẳng định: “Không đúng. Đánh vào đô thị là đánh vào đầu não chiến tranh của địch. Đầu não của chế độ Sài Gòn là Dinh Độc Lập và tòa Đại sứ Mỹ. Phải khẳng định đây là hai mục tiêu hàng đầu phải tiến công vì ý nghĩa chính trị của nó… Kháng chiến tức là phải đánh giặc, phải có quân đội, có vũ khí, có ý chí gang thép; nhưng nếu không hiểu khía cạnh chính trị của cuộc chiến đấu thì không thể hiểu gì về cuộc chiến tranh cách mạng của nhân dân ta cả”. Chính con người có ý chí gang thép đó, con người từng thường trực nơi dầu sôi lửa bỏng trong cả hai cuộc kháng chiến, con người đó hiểu rõ ý nghĩa chính trị của sự nghiệp giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước nên từ đỉnh cao của chiến thắng 30 tháng 4 lịch sử đã dám thẳng thắn chỉ ra: “Chiến thắng của chúng ta là vĩ đại, nhưng chúng ta cũng đã phải trả giá cho chiến thắng đó bằng cả nỗi đau và sự mất mát. Lịch sử đã đặt nhiều gia đình người dân miến Nam rơi vào hoàn cảnh có người thân vừa ở phía bên này, vừa ở phía bên kia, ngay cả họ hàng tôi cũng vậy. Vì thế, một sự kiện liên quan đến chiến tranh khi nhắc lại, có hàng triệu người vui, mà cũng có hàng triệu người buồn. Đó là một vết thương chung của dân tộc cần được giữ lành thay vì lại tiếp tục làm cho nó thêm rỉ máu… Chúng ta đang nắm quyền lãnh đạo đất nước, muốn để mọi người Việt cùng chung tay tạo dựng thì chúng ta phải thực tâm khoan dung và hòa hợp.”
Không có một bản lĩnh chính trị vững vàng để hiểu rõ ý nghĩa chính trị cao cả của sự nghiệp chiến đấu với bao hy sinh của nhiều thế hệ Việt Nam, sẽ không thể đưa ra được tư tưởng mà nhất thời có thể chưa là cách nghĩ của số đông. Không có một sự tường minh về mục tiêu cao cả của sự nghiệp cách mạng của Đảng và của dân tộc, sẽ không dám đặt ra những vấn đề gai góc và dễ động chạm trong đời sống tinh thần của cả xã hội như vậy. Phải có một niềm tin mãnh liệt vào lý tưởng vĩ đại mà vì nó dám chấp nhận mọi hy sinh như bản thân mình đã từng trải nghiệm, mới có được bản lĩnh dám chịu trách nhiệm về những ý tưởng mang tính đột phá có ý nghĩa mở đường theo kiểu ấy. Nếu không có bản lĩnh như vậy, sẽ không thể công khai và thẳng thắn đặt ra những vấn đề gai góc và nhạy cảm mà ông hiểu rằng tất yếu sẽ gặp không ít lực cản, mà lực cản ấy sẽ không nhỏ, thậm chí là dai dẳng. Nhưng rồi cuộc sống đã cho thấy, những ý tưởng như vậy của Võ Văn Kiệt đã được đông đảo các tầng lớp nhân dân đón nhận, đặc biệt là đối với những đầu óc ưu thời mẫn thế.
Ấy thế mà cũng có những lúc những đầu óc “ưu thời mẫn thế” cũng bị cuốn theo cơn lốc thời cuộc để đưa ra những thông điệp mà tỉnh táo ngẫm nghĩ lại không khỏi không có những băn khoăn. Xin được dẫn ra vài câu thơ của những tác giả tên tuổi đã từng một thời được đưa vào sách giáo khoa và hiện nay vẫn là những tên tuổi lớn được xã hội trân trọng. Nhằm tụng ca những thành tựu của chế độ, nhà thơ khẳng định: “Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng…Những ngày tôi sống đây là ngày đẹp hơn tất cả” [Chế Lan Viên]. Từ trong sự thăng hoa của cảm xúc đó để nhìn nhận về ông cha mình như sau: “Cha ông xưa từng đấm nát tay trước cửa cuộc đời / Cửa vẫn đóng và đời im ỉm khóa” [Chế Lan Viên].. Bởi vậy, “Một câu hỏi lớn không lời đáp / Cho đến bây giờ mặt vẫn chau”![Huy Cận].
Trong “hội chứng tụng ca” ấy, những bước đi quá đà đã vô tình để lại những hậu quả rất lớn nhưng không dễ nhận ra nếu không thật tỉnh táo nhìn thẳng vào sự thật và không tránh né những vấn đề “nhạy cảm” rất dễ bị quy kết về “lập trường, quan điểm” của lối “độc quyền tư tưởng, áp đặt tư duy, tùy tiện quy kết”. Lối “độc quyền” ấy đẻ ra cái khẩu khí quen thuộc khi bàn về lịch sử “do chưa có được cái này cái nọ soi sáng cho nên…” với sự tự mãn một cách lố bịch rằng chỉ “từ khi có cái này cái nọ” thì lịch sử mới vượt khỏi những hạn chế.
Ở đây gợi nhớ đến một phân tích lạnh lùng, sắc sảo của Gustave le Bon trong “Tâm lý học đám đông”: “Chẳng gì chứng minh rõ hơn sự mê hoặc do một niềm tin chung gây ra, nhưng cũng chẳng gì chỉ ra rõ hơn những giới hạn nhục nhã của trí tuệ con người”! Bởi vậy ngẫm cho kỹ, sẽ nhận ra sự dễ dãi đến bạc bẽo khi đưa ra những phán xét, cho dù bằng những rung động thẩm mỹ có phần cảm tính, về ông cha.
Ông cha ta đâu có “bế tắc”, cái “câu hỏi lớn” mà nhà thơ cho là “không lời đáp” là gì nếu không là vận mệnh của đất nước? Mà nếu thế thì ông cha ta đã từng đưa ra những lời đáp thật thuyết phục với những bằng chứng lịch sử không thể bác bỏ. Nếu không biết cách trả lời những câu hỏi lớn của lịch sử, của thời đại mà các cụ sống thì làm sao đất nước này, dân tộc này có thể hiên ngang trụ vững bên cạnh anh láng giềng chỉ chực có cơ hội là nuốt gọn mình. Chính vì biết cách trả lời những “câu hỏi lớn” của lịch sử mà biết chuyển yếu thành mạnh, lấy ít địch nhiều, biết cách chế ngự cái thế “trứng chọi đá” để có thể ra Tuyên ngôn “Nam quốc sơn hà, nam đế cư, Tiệt nhiên định phận tại thiên thư””.
Những rung động thẩm mỹ có phần cảm tính, về ông cha dẫn ra ở trên, xét cho cùng, là bị chi phối bởi lối tư duy và lập luận rất cực đoan rằng chỉ từ 1930, dân tộc mới thật sự biết ngẩng cao đầu! Cho nên, chỉ những gì được ra đời từ cột mốc ấy mới có một giá trị được xếp trên tất cả, hơn tất cả.“Ta nhất quyết đồng hồ Liên Xô tốt hơn đồng hồ Thụy sĩ…Mường tượng rằng trăng Trung Quốc tròn hơn trăng nước Mỹ”* . Mà không thấy được “Những vết bùn trên tận đỉnh chín tầng cao”* [Việt Phương] để có sự thấu đáo và tỉnh táo trong giáo dục và đào tạo con người.
Sai lầm nguy hại nhất là chỉ tập trung vào giáo dục lý tưởng mà lơ là xây đắp cái nền tảng nhân văn trong định hình nhân cách cho thế hệ trẻ để từ đó mà giáo dục lý tưởng. Lý tưởng đương nhiên là quan trọng, song không nên cho rằng lý tưởng của Lý Tử Trọng của thế kỷ XX là cao hơn lý tưởng của Trần Quốc Toản thế kỷ XIII. Và lại càng phải thấy cho rõ phạm trù lý tưởng gắn liền với mục đích và ý nghĩa của cuộc sống con người. Tùy thuộc vào sự nhận thức về mục đích và ý nghĩa cuộc sống của từng người, từng nhóm xã hội mà có sự định hình lý tưởng . Khi Trần Quốc Toản ghi trên lá cờ của mình sáu chữ “Phá cường địch, báo Hoàng ân” thì đó là sự thể hiện lý tưởng trung quân ái quốc của chàng tuổi trẻ quý tộc đời nhà Trần. Đừng nghĩ rằng lý tưởng “trung quân ái quốc” là thấp hơn lý tưởng “trung với nước, hiếu với dân” mà không thấy mỗi giai đoạn lịch sử có những đòi hỏi mang tính đặc thù. Người ta quên rằng “mỗi thời kỳ lịch sử đều có những quy luật riêng của nó…Một khi cuộc sống đã vuợt qua một thời kỳ phát triển nhất định, đã từ giai đoạn này bước sang giai đoạn khác, thì nó cũng bắt đầu bị những quy luật khác chi phối”. Đây là sự phân tích của Các Mác [C.Mác và Ph.Angghen toàn tập. NXBCTQG Tập 23.1993. tr. 34].
Quả thật chân lý vốn đơn giản, nhưng nhận thức cho được sự đơn giản đó hóa ra không đơn giản chút nào. Ông Võ Văn Kiệt đã có lần lập luận về những vấn đề hết sức gay cấn một cách rất dung dị: “Cách mạng tháng 8 năm 45 đánh đổ thực dân phong kiến là chuyện tất yếu phải làm để giành lại độc lập cho đất nước và tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Nhưng rồi theo trớn đó mà chửi phong kiến tùm lum thì vô tình đã chửi cha ông mình chứ còn gì nữa! Thử hỏi các vua Trần cùng Trần Hưng Đạo ba lần đánh tan quân Nguyên, Lê Lợi cùng Nguyễn Trãi diệt quân Minh xâm lược và lên ngôi vua thì đều là “phong kiến” cả chứ gì? Liệu có ai dung túng cho chuyện xúc phạm đến ông cha? Thế mà cứ thoải mái chửi phong kiến thì khoa học cái nỗi gì?”. Chẳng phải chỉ đối với chuyện của tiền nhân, ngay cả chuyện đang diễn ra cũng vậy thôi.
Sẽ quá dài dòng để phải nhắc lại một thời mà chủ nghĩa nhân văn bị phê phán do chịu ảnh hưởng của giáo điều Maoít, chỉ coi trọng “giai cấp tính”, phải đặt vấn đề “nhân tính” trong cái lăng kính giai cấp để chịu sự chi phối của “giai cấp tính”. Hệ lụy của nó thì chắc không phải kể ra đây nữa.
Khi chỉ chuyên chú giáo dục lý tưởng theo định hướng ấy, người ta dễ dàng bỏ qua những phẩm chất “người” trong quan hệ giữa người và người từ trong gia đình, cộng đồng xã hội nhỏ nhất, đến nhà trường, một cộng đồng lớn hơn của tuổi trẻ , và hàng xóm láng giềng “tối lửa tắt đèn có nhau” cho đến cộng đồng lớn là xã hội. Đặc biệt nguy hiểm là khi thần tượng của lý tưởng bị sụp đổ, nếu thiếu một nền tảng nhân văn vững chắc được hun đúc từ tấm bé, niềm tin của con người bị chao đảo, định hướng của hành vi do vậy cũng bị nhiễu loạn, bị xáo trộn.
Sự suy thoái đạo lý xã hội cần tìm về sự chao đảo, xáo trộn này. Những “siêu đám cưới”, “hội chứng lấy chồng ngoại”, những cảnh bạo lực học đường, các clip quay nữ sinh đánh nhau một cách dã man giữa đường phố dưới con mắt bình thản của người chứng kiến, thậm chí còn cổ vũ và tranh thủ quay video…được mọc lên từ môi trường xã hội ấy.
Nhà văn hóa Nguyễn Khắc Viện đã có một khuyến cáo thật đáng suy ngẫm khi bàn về giáo dục và đào tạo con người: “Để cho trẻ sống hoàn toàn đầy đủ thời thơ ấu của nó, sau lớn lên nó sẽ sống đời người lớn một cách hoàn toàn đầy đủ” . “Sống hoàn toàn đầy đủ thời thơ ấu” trên nền tảng của chủ nghĩa nhân văn. Đó sẽ là đảm bảo cho việc “sống đời người lớn một cách hoàn toàn đầy đủ”. Chủ nghĩa nhân văn ấy đang được nâng lên trong bối cảnh của nền văn minh mới, nền văn minh trí tuệ và nền kinh tế tri thức của thế kỷ XXI. Trong nền văn minh đó,“sự thay đổi vĩ đại nhất sẽ là sự thay đổi về tri thức-về hình thức và nội dung, về ý nghĩa của tri thức, về trách nhiệm của tri thức và về những đặc điểm của con người có giáo dục”.
Vậy thì hiện nay, môi trường giáo dục của chúng ta đang như thế nào? Liệu chúng ta có thể “để trẻ sống hoàn toàn đầy đủ thời thơ ấu của nó” trong môi trường chúng ta đang sống không? Nếu xét đến cùng, lý tưởng phải được hình thành, củng cố và phát huy sức mạnh của nó trên nền tảng của chủ nghĩa nhân văn thì chúng ta đang thiếu hụt chính cái nền tảng đó. Thiếu cái nền tảng đó, lý tưởng sẽ thiếu mất tính bền vững và và chiều sâu nhân bản. Sẽ quá dài dòng để phải nhắc lại một thời mà chủ nghĩa nhân văn bị phê phán do chịu ảnh hưởng của giáo điều Maoít, chỉ coi trọng “giai cấp tính”, đặt vấn đề “nhân tính” trong cái lăng kính giai cấp để chịu sự chi phối của “giai cấp tính”. Hệ lụy của nó thì chắc không phải kể ra đây nữa.
Khi chỉ chuyên chú giáo dục lý tưởng, người ta dễ dàng bỏ qua những phẩm chất “người” trong quan hệ giữa người và người từ trong gia đình, cộng đồng xã hội nhỏ nhất, đến nhà trường, một cộng đồng lớn hơn của tuổi trẻ, và hàng xóm láng giềng “tối lửa tắt đèn có nhau” cho đến cộng đồng lớn là xã hội. Đặc biệt nguy hiểm là khi thần tượng của lý tưởng bị sụp đổ, nếu thiếu một nền tảng nhân văn vững chắc được hun đúc từ tấm bé, niềm tin của con người bị chao đảo, định hướng của hành vi do vậy cũng bị nhiễu loạn, bị xáo trộn. Sự suy thoái đạo lý xã hội cần tìm về sự chao đảo, xáo trộn này.
Chỉ xin gợi ra đây đôi dòng về sự xáo trộn đó do thiếu một tầm nhìn văn hóa trong quản lý kinh tế và quản lý xã hội. Chắc nhiều người không để ý đến hai chữ “đại gia” đang là ngôn từ thời thượng. Tệ hại hơn nữa, gắn liền với “đại gia” , là tiền, thật nhiều tiền, nhất là đô la. Đến nỗi báo chí rất hào phóng cho việc lăng xê tên tuổi của một chàng trai vô công rồi nghề sống trên đống tiền của mẹ để có thể thay đổi xoành xoạch kiểu xe ô tô đời mới nhất, xịn nhất có biệt hiệu là “Đô La”. Mùi mẩn hơn nữa là chàng ‘Đô La” lại “đôi lứa xứng đôi” với một nàng “siêu sao” ca nhạc, rồi đứa con của “đôi lứa xứng đôi” ấy cũng được các cây bút có nghề xưng tụng nửa kín nửa hở trên nhiều trang báo!
Và các nhà quản lý văn hóa quên mất rằng, đây là cách cổ vũ cho một lối sốngchạy theo đồng tiền, treo một “tấm gương sống động”, thúc đẩy một thị hiếu dung tục nếu chưa muốn nói là thấp hèn cho giới trẻ. Trong lúc đó, lại ra sức chê trách, dè bỉu, đe dọa, đàn áp và bắt bỏ tù, bị đạp vào mặt những thanh niên, sinh viên có bản lĩnh dám xuống đường biểu thị lòng yêu nước và tinh thần bất khuất quyết không chịu cúi đầu trước những hành động ăn cướp và xâm lược của bọn bành trướng Bắc Kinh. Một nghịch lý đang được đóng dấu và tuyên truyền rộng khắp!
Và rồi, từ cực đoan này lại nhảy sang một cực đoan khác, những biểu tượng “phong kiến” từng bị đào sâu chôn chặc nay hình như lại có sức hấp dẫn nên người ta đua nhau đắt tên bằng những “tước hiệu” tưởng đã vĩnh viễn chôn dưới đất đen: cho sang thì khách sạn phải mang tên là “Hotel Hoàng Đế,” cho quý thì công ty phải là “Công ty Hoàng Gia”, cho oai thì quán ăn thời thượng phải là “Quán Ngự Thiện”, cho giàu sức vẫy gọi thì khu nghỉ mát phải là “Resort Quý Tộc”….
Có thể là nhà quản lý có tầm nhìn bao dung và cởi mở nhằm cất cánh cho những ý tưởng sáng tạo, nhưng cũng có thể người ta bận cho việc kiểm tra tầm soát chặt chẽ những “biểu hiện nguy hiểm” khác như thủ đoạn “diễn biến hòa bình” chẳng hạn, mà tạm buông cho những cực đoan xô bồ kia. Và rồi người ta cũng quên luôn những điều vừa kể là hết sức đối nghịch với những chuẩn mực trong “ý thức hệ” mà họ có sứ mệnh thiêng liêng” là phải giữ vững. Thế đó!
Gợi lên những điều không lấy gì thoải mái, ngược lại, hình như gọi dậy một cảm giác xấu hổ về những hiện tượng đang dày vò lương tâm của chúng ta. C.Mác có nói “Hãy làm cho sự nhục nhã càng thêm nhục nhã bằng cách công bố nó lên”, xin được thay từ nhục nhã bằng từ “xấu hổ” để bớt đi sự gay gắt. Đừng quên rằng chính sự xấu hổ làm cho chúng ta có thêm dũng khí để vượt lên chính mình. Trong “Sáng thế ký ” có chuyện Adam và Eve sau khi ăn trái cấm thì bỗng nhiên phát hiện ra sự trần truồng của mình.Cảm giác xấu hổ xuất hiện. Và cả hai đều bứt chiếc lá vả để che đi bộ phận sinh dục. Chiếc lá vả ấy, theo Franz Werfel, một nhà văn Đức, là “tài liệu văn hóa đầu tiên của loài người! Không là chiếc lá vả đang nằm trên cây, mà là chiếc lá vả được con người sử dụng để biểu thị nhận thức và cảm xúc của mình, là biểu tượng của con người tự ý thức được về mình. Cái cảm giác “biết xấu hổ” là một thuộc tính người.
Chính vì biết xấu hổ khiến chúng ta trở thành người trí thức, mà cũng do vậy khiến cho tâm hồn chúng ta bất an. Thì chính Nguyễn Trãi đã từng đúc kết điều này đấy thôi: “Nhân sinh thức tự đa ưu hoạn”. Nhưng cũng chính vì vậy mà ông trở thành anh hùng dân tộc và là danh nhân văn hóa thế giới. Đôi lúc tôi thầm nghĩ “So với ưu tư và hoạn nạn của con người vĩ đại ấy thì những ưu tư và hoạn nạn chúng ta có thể gặp phải nào có ý nghĩa gì”!
Ông cha ta thật là vĩ đại, không chỉ một Nguyễn Trãi, cách nay cả nghìn năm mà thiền sư Vạn Hạnh đã từng chỉ ra: Thân như điện ảnh hữu toàn vô. Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô. Nhậm vận thịnh suy vô bố úy. Thịnh suy như lộ thảo đầu phô.[Thân người như bóng chớp, có rồi lại không/ Như muôn cây cỏ mùa xuân tươi tốt đến mùa thu khô héo/ Ngẫm và hiểu cái lý của thịnh suy, lòng không sợ hãi/ Vì thịnh suy nối tiếp nhau như khoảng thời gian hạt sương móc trên đầu ngọn cỏ].
Một cái nhìn vượt lên không gian và thời gian. Chẳng những thế, bản lĩnh của ông cha mình thật là kỳ diệu. Cũng một nhà sư khác, thiền sư Quảng Nghiêm cách đây ngót vẫnmột thiên niên kỷ đã dám viết: “Nam nhi tự hữu xung thiên chí . Hưu hướng Như Lai hành xứ hành” [Làm trai phải có chí xung trời thẳm, Việc gì cứ phải lẽo đẽo theo bước chân Như Lai]. Xuất gia đi tu mà lại nói không phải lẽo đẽo lần theo bước chân Phật tổ, hàm ý triết lý “Phật tại tâm”, mỗi người có cách tiếp cận chân lý theo cách riêng của mình, không nhất nhất làm theo người khác thì quả là đã chống giáo điều từ gốc.
Vậy thì, nêu lên những bức xúc đang làm chậm bước phát triển của đất nước, và do đó, trong cái “vòng tròn” lớn đó mà cái “vòng tròn nhỏ” là hệ thống giáo dục và đào tạo của ta đang suy thoái, đang lạc hậu, không hề làm nhụt ý chí của chúng ta. Ngược lại, chúng ta hiểu rằng và tin rằng “Lịch sử cổ xưa và hiện đại cho thấy khả năng kỳ lạ của đất nước này trong việc tìm ra những giải pháp độc đáo cho những vấn đề gặp phải”. Đây là một học giả Pháp nói với chúng ta , ông Eduard De Penguilly.[Kỷ yếu Hội thảo về “Nhà ở, Kiến trúc đô thị và môi trường truyền thống và hiện đại”.] Vấn đề đặt ra là phải dám đối diện với sự thật và sòng phẳng nói lên sự thật đó bất chấp những quy kết tùy tiện và có khi khá tai ác.
Nói lên sự thật vì chúng ta tin vào “khả năng kỳ lạ của đất nước này trong việc tìm ra những giải pháp độc đáo cho những vấn đề gặp phải”. Khả năng đó đang tiềm ẩn trong lòng xã hội, trong sự vận động tự thân của khối quần chúng đang còn câm lặng để giấu kín những khát vọng kiểu Đoàn Văn Vươn.
Và vì chúng ta đều thuộc lớp người xưa nay hiếm cả rồi, nên cũng đừng gay gắt quá, có khi gây tai biến mạch máu não hay nhồi máu cơ tim thì gay nên để kết thúc một cách có hậu, tôi xin kể lại một Câu chuyện thật của thế kỷ 21 để suy nghĩ thêm về cảm xúc con người trong xã hội.
Tại trại xe điện ngầm Thủ Đô Hoa Thịnh Đốn vào buổi sáng tháng giêng lạnh lẽo năm 2007, một người đàn ông đàn liên tục 6 tấu khúc của Bach trên cây đàn vĩ cầm trong 45 phút . Ước chừng hơn 2000 người qua lại trạm xe điện ngầm trong khoảng thời gian đó và hầu hết những người ấy đều trên đường đi làm.
Sau ba phút, một người đàn ông trung niên nhận ra là có người đang chơi nhạc. Ông ta chậm bước và ngừng chân trong vài giây rồi lại hối hả theo thời khắc biểu đã định sẵn. Bốn phút sau, người đàn vĩ cầm nhận được đồng tiền đầu tiên: một phụ nữ vừa đi vừa liệng tiền vô cái nón mà không hề ngừng lại.
Phút thứ sáu: một thanh niên trẻ dựa vào tường và lắng nghe tiếng đàn, sau đó liếc nhìn đồng hồ đeo nơi tay và bước đi. Phút thứ mười: một bé trai khoảng 3 tuổi đứng lại nhưng bị mẹ lôi đi vội vã. Cậu bé trì lại và nhìn người chơi đàn lần nữa. Dù bị mẹ kéo đi, cậu bé vẫn luôn ngoái đầu nhìn. Nhiều đứa bé khác cũng quay đầu nhìn như thế và không cha mẹ nào lại không nhanh chóng kéo con mình đi cả.
Bốn mươi lăm phút đàn không ngừng, chỉ có 6 người thật sự dừng hẳn lại và lắng nghe trong một lúc. Khoảng 20 người cho tiền mà vẫn tiếp tục bước đi. Người chơi đàn nhận được tất cà là 32 đô la.
Sau một giờ, người đàn ông chấm dứt, thôi đàn và không gian trở nên im vắng. Không ai để ý. Không ai vỗ tay khen và cũng chẳng có ai lưu tâm. Nhưng không một ai biết điều này, người chơi đàn vĩ cầm đó là Joshua Bell, một cầm thủ lẫy lừng trên thế giới. Với cây đàn vĩ cầm trị giá trên 3 triệu rưỡi đô la, Joshua Bell đã trình diễn những tấu khúc tuyệt vời mà không ai có thể viết hay hơn đưọc nữa, đàn hay hơn được nữa. Hai ngày trước đây, Joshua Bell đã trình diễn ở Boston, nơi mà giá trung bình là 100 đô la một vé và nhạc viện bán sạch không còn dư một vé nào.
Đây là một câu truyện thật: việc Joshua Bell lặng lẽ chơi đàn tại trạm xe điện ngầm được báo Washington Post sắp xếp để xem cảm xúc con người trong xã hội như thế nào, họ nhận thức và lựa chọn ra sao…
Câu hỏi được đặt ra là tại nơi chốn thông thường trong giờ giấc không thuận lợi cho lắm, liệu chúng ta có nhìn ra được tài năng với bối cảnh không ngờ, và liệu chúng ta có nhận thức được cái đẹp và ngưng lại để thưởng thức nó hay không ?
Có thể kết luận về chuyện này như sau: Nếu chúng ta không có thì giờ ngừng lại một chút để lắng nghe người nghệ sĩ lừng danh trên thế giới đàn những tấu khúc mà không ai có thể viết hay hơn được nữa trên một cây đàn có những âm thanh tuyệt vời nhất thì chúng ta sẽ còn mất mát và bỏ qua bao nhiêu thứ tốt đẹp khác nữa trên cõi đời này.

_________________________________________________________

Advertisements

Posted in Chính trị Việt Nam, Chuyện đất nước, Giáo dục Việt Nam, Việt Nam và thế giới | Tagged: , , | Leave a Comment »

Tranh chấp Biển Đông báo trước thay đổi chiến lược khu vực?

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Mười 5, 2011

Tranh chấp ở Biển Đông giữa Trung Quốc và các nước duyên hải khác đang ngày càng có ý nghĩa chiến lược quan trọng với toàn bộ khu vực châu Á – Thái Bình Dương và xa hơn nữa. Nhật Bản không thể coi vấn đề này như một hiện tượng riêng biệt ở một khu vực xa xôi nào, vì nó phản ánh chiến lược khu vực của Trung Quốc, trên cơ sở sự tự tin quốc gia và sức mạnh kinh tế không ngừng gia tăng.

Thách thức cơ bản hơn là các nước trong khu vực, gồm cả Nhật Bản nên đối phó thế nào với sự mẫu thuẫn chiến lược đang nổi lên, bởi sự phụ thuộc kinh tế ngày một lớn với Trung Quốc và việc tiếp tục trông chờ vào Mỹ để duy trì trật tự an ninh khu vực.

Các tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông dường như đã đạt tới một trạng thái cân bằng nào đó tại hội nghị bộ trưởng ASEAN – Trung Quốc và tiếp theo là Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF) hồi tháng 7 ở Bali, Indonesia. 10 nước thành viên ASEAN và Trung Quốc đã nhất trí về những hướng dẫn mới, mở đường cho việc thực thi Tuyên bố Hành xử (DOC) cho giải pháphoà bình với tranh chấp ở Biển Đông.

Ngoại trưởng Nhật khi ấy, Takeaki Matsumoto, người đã tham dự các cuộc họp liên quan tới ASEAN, đã hoan nghênh tiến triển đạt được. Ông nói trước quốc hội nước này rằng: “Tôi coi đó là một bước tiến về phía trước”. Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton cũng nhấn mạnh, đó là “một bước đi quan trọng”, đồng thời thúc giục ASEAN và Trung Quốc nhanh chóng đạt được bước tiếp theo: thiết lập bộ quy tắc hành xử có tính ràng buộc để ngăn chặn xung đột. Bà Clinton khẳng định: “Tất cả các bên tuyên bố chủ quyền cần công khai tuyên bố chủ quyền và đặc biệt cần hiểu rằng, chúng tôi biết nơi có tranh chấp”.

Tuy nhiên, sự cân bằng ấy dường như đã sụp đổ nhanh chóng. Chưa đầy hai tuần sau hội nghị ở Bali, Nhân dân Nhật báo – tờ báo chính thống của Trung Quốc, đã xuất bản trên trang nhất bài bình luận cáo buộc Philippines vi phạm chủ quyền lãnh thổ Trung Quốc bằng việc xây dựng một cơ sở quân sự trên hòn đảo thuộc quần đảo Trường Sa đang tranh chấp. Bài báo kết thúc với lời cảnh báo cứng rắn: “Bất cứ ai có những hiểu lầm chiến lược nghiêm trọng về vấn đề này sẽ phải trả giá thích đáng”.

Tân Hoa xã lập tức có bản tóm tắt tiếng Anh câu chuyện này. Họ nói rõ thêm rằng, đảng và chính phủ Trung Quốc muốn gửi bức thông điệp tới tất cả các bên liên quan. Và, trên thực tế, thông điệp ấy đã khuấy động khu vực.

Chính phủ Nhật Bản và Mỹ vẫn coi các hội nghị bộ trưởng ASEAN liên quan là một thành công vì nó bao gồm vấn đề “an ninh hàng hải” trong chương trình nghị sự chuẩn bị cho Hội nghị thượng đỉnh Đông Á (EAS)tháng 11 tới. Như vậy, Biển Đông có thể sẽ được thảo luận kỹ hơn ở bối cảnh đa phương lớn hơn tại EAS. Nó cũng mang lại cơ hội cho các bên không đưa ra tuyên bố chủ quyền, nhưng có sử dụng Biển Đông, như Nhật Bản và Mỹ được tham gia thương thảo.

Trên một mặt trận nhạy cảm hơn, nó cũng còn được coi là thành công vì có thoả thuận ngầm đã hìnhthành giữa các nước tuyên bố chủ quyền và các quốc gia chính sử dụng Biển Đông trong nỗ lực đặt vấn đề với tính hợp pháp của việc Trung Quốc tuyên bố chủ quyền bằng bản đồ 9 đoạn bao trùm hầu hết Biển Đông. Chiến lược ngầm dường như hướng Trung Quốc vào một thoả thuận đa phương mới, bộ quy tắc hành xử để giải quyết các tranh chấp một cách hoà bình bằng cách tập hợp áp lực thông qua việc liên tục thách thức tính hợp pháp của tuyên bố 9 đoạn.

Trung Quốc sử dụng bản đồ 9 đoạn còn gọi là bản đồ hình chữ U bao trùm đường bờ biển và chuỗi đảo ở Biển Đông làm cơ sở cho tuyên bố chủ quyền của mình. Bản đồ này bao trùm hầu như toàn bộ Biển Đông. Theo một tài liệu chính thức mà chính phủ Trung Quốc đệ trình lên LHQ năm 2009 cùng với một tờ bản đồ, Bắc Kinh khẳng định “có chủ quyền không thể tranh cãi với các đảo ở Biển Đông và những vùng nước lân cận”. Tuy nhiên, chưa rõ là, Trung Quốc tuyên bố chủ quyền với hầu hết Biển Đông bên trong đường 9 đoạn như lãnh hải của họ hay tuyên bố chủ quyền này chỉ kéo dài tới các đảo và vùng nước lân cận.

Ngày 24/8, khoảng một tháng sau hội nghị ARF, hai tàu tuần tra của Ngư chính Trung Quốc đã tién vào lãnh hải Nhật Bản gần một đảo của Quần đảo Senkaku ở biển Hoa Đông. Đây là lần đầu tiên, tàu của chính phủ Trung Quốc vi phạm lãnh hải Nhật quanh Senkakus kể từ năm 2008, khi hai tàu Hải giám Trung Quốc (CMS) tiến vào và ở lại trên lãnh hải Nhật hơn 9 giờ đồng hồ. Lần này thời gian vi phạm ngắn hơn nhiều, nhưng chính phủ Nhật coi vụ việc rất nghiêm trọng vì thậm chí khi một tàu cá Trung Quốc va chạm với tàu phòng vệ bờ biển Nhật Bản tháng 9 năm ngoái gần Senkakus, thì tất cả các tàu chính phủ Trung Quốc gồm Ngư chính và Hải giám đã rõ ràng ở lại trên lãnh hải Nhật.

Hồi đáp về sự phản đối chính thức từ chính phủ Nhật, một phát ngôn viên bộ Ngoại giao Trung Quốc nói: “Quần đảo Điếu Ngư (Senkaku) và các đảo liên quan là lãnh thổ vốn có của Trung Quốc từ thời cổ đại. Các tàu Ngư chính đã tuần tra vùng biển để đảm bảo trật tự thông thường trong hoạt động ngư nghiệp”.

Quan điểm này không có gì mới mẻ, nhưng điều đáng nói là hành động gia tăng của một trong những cơ quan thực thi pháp luật hàng hải Trung Quốc. Một trong những suy đoán của chính phủ Nhật là, dụng ý của Trung Quốc có thể nhằm kiểm tra lập trường cứng rắn của chính phủ Nhật trong các tuyên bố chủ quyền lãnh thổ sau hội nghị ARF và đặc biệt là khi Nhật Bản trải qua sự chuyển giao quyền lực từ chính phủ của ông Kan sang chính phủ tiếp theo.

Quan điểm phổ biến trong chính phủ Nhật Bản là, những gì đang xảy ra ở biển Hoa Đông có liên quan chặt chẽ tới tranh chấp ở Biển Đông. Ngoại trưởng Matsumoto nói trước quốc hội rằng: “Nhật Bản có mối quan tâm lớn đến tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông vì chúng có thể ảnh hưởng tới hoà bình và an ninh của khu vực châu Á – Thái Bình Dương, cũng như liên quan chặt chẽ tới việc bảo vệ an ninh giao thông hàng hải”.

Các tranh chấp lãnh thổ không giới hạn trong lĩnh vực hàng hải. Có một số dấu hiệu gia tăng trong khu vực biên giới đất liền Trung Quốc – Ấn Độ. Có quan điểm tồn tại trong giới học giả Ấn Độ là, Trung Quốc đang tái xác lập biên giới trên đất liền cũng như trên biển trong quá trình theo đuổi vị thế siêu cường. Và hàng loạt hành động tái xác lập ấy đã được thực hiện trên cái giá toàn vẹn lãnh thổ và an ninh của những nước láng giềng. Ấn Độ dõi theo sát sao tình hình Biển Đông vì họ coi nó như một dấu hiệu cho những gì có thể xảy ra trong tranh chấp biên giới giữa nước này và Trung Quốc.

Thách thức cơ bản hơn là, toàn bộ khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương có lẽ đang phải đối mặt với sự mẫu thuẫn chiến lược đang trỗi dậy. Phần lớn các nước trong khu vực đều coi Trung Quốc là đối tác thương mại chính, nếu không phải là lớn nhất. Trong khi đó, họ lại trông chờ vào Mỹ để duy trì trật tự an ninh khu vực, bao gồm cả tự do hàng hải. Tính nước đôi ấy đã khiến cho các nước trong khu vực khó khăn hơn khi quyết định hành xử thế nào cho phù hợp, nếu và khi Trung Quốc thách thức ưu thế Mỹ. Điều này dường như là những gì giờ đây đang xảy ra ở Biển Đông.

Năm ngoái, Hugh White, nguyên thứ trưởng quốc phòng Australia đã có bài viết tiêu đề “Chuyển giao quyền lực – Tương lai của Australia giữa Washington và Bắc Kinh”. Trong đó, ông chỉ ra rằng, thời đại của một kỷ nguyên của “ưu thế vô địch Mỹ” đã qua và rằng, một trật tự hoà bình mới tại châu Á để phù hợp với sức mạnh đang trỗi dậy của Trung Quốc có thể được xây dựng “nếu Mỹ sẵn sàng cho phép Trung Quốc một không gian chính trị và chiến lược”.

Cốt lõi trong lập luận của ông là, Mỹ nên kiềm chế khỏi việc cạnh tranh giành ưu thế với Trung Quốc mà thay vào đó là nên chia sẻ quyền lực. Ông cũng cho rằng, đã tới lúc cần xem xét lại chiến lược “rào giậu”. Đó có lẽ là câu trả lời để đối phó với tình thế tiến thoái lưỡng nan của “sự phụ thuộc kép”.

Những gì đang nổi lên qua vấn đề tranh chấp Biển Đông là sự công nhận rằng, tranh chấp lãnh thổ là cuộc cạnh tranh tự nhiên giành lấy ảnh hưởng giữa Mỹ và Trung Quốc, và rằng Mỹ không thể một mình chiếm ưu thế trong khu vực cho dù có các khả năng quân sự khổng lồ. Quan điểm chung trong các nước ASEAN có thể không rõ ràng và cực đoan như của White. Nhưng nếu thực tế “sự gia tăng Trung Quốc và sự sụt giảm tương đối của Mỹ” tiếp tục diễn ra, thì sự chuyển đổi từ “Mỹ chiếm ưu thế” sang “chia sẻ quyền lực Trung – Mỹ” có thể phù hợp hơn với các nước trong khu vực. Đó là thách thức lớn với Nhật, với chiến lược an ninh xây dựng trên cơ sở lập luận rằng, ưu thế Mỹ là không gì lay chuyển nổi.

Những gì đang xảy ra ở Biển Đông có thể là “điềm báo” cho khả năng thay đổi tư duy chiến lược với các quốc gia trong khu vực và cuối cùng là chính bản thân trật tự chiến lược khu vực.

Theo YOICHI KATO – Vietnamnet
_____________________________________________________________

Posted in Quốc phòng các nước, Việt Nam và thế giới | Tagged: , , | Leave a Comment »

Trung Quốc mất cơ hội lợi dụng khoa học

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Mười 4, 2011

TT – Tạp chí Khoa Học (Science Journal) số ra ngày 30-9 thông báo sẽ xem xét lại quy trình đăng bản đồ sau khi nhận được những ý kiến phản đối của các học giả Việt Nam liên quan tới bài viết của các học giả Trung Quốc, trong đó có in kèm bản đồ có “đường lưỡi bò”.
Từ Phần Lan, TS Lê Văn Út, hiện đang giảng dạy tại khoa toán Đại học Oulu, email cho Tuổi Trẻ biết sau khi nhận được sự phản đối quyết liệt của các học giả Việt Nam về “đường lưỡi bò” phi pháp mà tác giả Trung Quốc đã sử dụng trong bài viết Lịch sử dân số Trung Quốc và những thách thức trong tương lai (China’s demographic history and future challenges) ngày 29-7-2011, có trích dẫn tại [X. Peng, Science 333, 581 (2011)], tạp chí Science đăng tải ý kiến của mình trên mục Ghi chú của ban biên tập. Nội dung như sau:

Trung Quốc mất cơ hội lợi dụng khoa học

“Bài viết Lịch sử dân số Trung Quốc và những thách thức trong tương lai trong số ra ngày 29-7, hình ảnh 1, phần Dân số đã có bản đồ của Nam Hải (biển Đông). Chúng tôi được biết một số độc giả đã diễn giải việc đăng tải bản đồ này là một tuyên bố của Science về đường biên giới lãnh hải được vẽ trên hình. Điều này là không đúng.
Quan điểm của Science, được ghi trên đầu trang của mỗi ấn bản, nêu rõ: “Tất cả các bài viết được đăng tải trên Science – kể cả bình luận, tin tức, xã luận, điểm sách – được ký tên và thể hiện quan điểm cá nhân của tác giả, và không phải là quan điểm chính thức của Hiệp hội Khoa học tiên tiến của Mỹ (AAAS) hay của các cơ quan nghiên cứu của các tác giả liên quan. Science không đưa ra quan điểm liên quan đến đòi hỏi về quyền tài phán tại khu vực lãnh hải trong bản đồ. Chúng tôi đang kiểm tra lại quy trình nhận đăng các bài báo liên quan đến bản đồ để bảo đảm trong tương lai tạp chí Science không tỏ ra ủng hộ hay có quan điểm trong các vụ tranh chấp chủ quyền lãnh thổ/tài phán”.
TS Út nhận định: “Như vậy sắp tới Trung Quốc sẽ không thể lợi dụng các tạp chí khoa học để tuyên truyền với quốc tế về đường lưỡi bò phi pháp, vi phạm chủ quyền biển đảo của Việt Nam nữa. Bởi lẽ khi một tạp chí hàng đầu như Science tuyên bố một cách khoa học và đúng đắn như thế thì các tạp chí khác cũng khó lòng mà làm khác (tức phản khoa học)”.

“Một trả lời không thỏa đáng”

Tuy nhiên, từ Úc, GS.TS Nguyễn Văn Tuấn thuộc Viện Garvan cũng cho Tuổi Trẻ biết ông và nhiều đồng nghiệp khác trong và ngoài Việt Nam đã thông tin cho tạp chí Science về việc làm sai trái của nhà khoa học Trung Quốc. Nhưng sau khi nhận được những ý kiến phản đối này, việc tạp chí Science thông tin lại với độc giả như vậy “là một cách trả lời không thỏa đáng”.
Ông nhấn mạnh: “Chúng tôi nêu vấn đề khoa học, sai sót của bài báo, chứ không hỏi quan điểm của tạp chí Science là ủng hộ hay không ủng hộ đối với quan điểm của các bên về vấn đề trên biển Đông. Chúng tôi đã chỉ ra đây là một bản đồ vi phạm khoa học, không được tổ chức nào công nhận. Do đó, nếu một tạp chí khoa học đăng tải vấn đề như vậy là vi phạm đạo đức khoa học”.
Ông Tuấn cho rằng việc quan trọng tiếp theo là các nhà khoa học cần ngăn chặn những hiện tượng xuất bản sai trái tương tự trên các ấn phẩm quốc tế.
Trước đó, tháng 6-2011, tạp chí khoa học quốc tế Quản lý chất thải (Journal of Waste Management) đã tỏ ra sòng phẳng với độc giả hơn khi thông báo đính chính về việc đã đăng tải bài viết có kèm hình bản đồ đường lưỡi bò phi pháp của Trung Quốc trên biển Đông.
Đích thân tổng biên tập, GS.TS Raffaello Cossu, khoa công nghệ môi trường Đại học Padova (Ý), đã thừa nhận sai sót của tạp chí sau khi các nhà khoa học Việt Nam cùng lên tiếng phản đối tấm bản đồ có đường lưỡi bò minh họa cho bài viết Thu gom phân loại chất thải rắn đô thị tại nguồn: một phân tích so sánh của các tác giả Trung Quốc trong số ra ngày 19-4-2011.

theo KHỔNG LOAN
__________________________________________________________

Posted in Chuyện pháp luật, Khoa học & Công nghệ, Việt Nam và thế giới | Tagged: , , | Leave a Comment »

Trung Quốc cảnh cáo Philippin phải trả giá đắt

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Tám 5, 2011

Một tờ báo Trung Quốc hôm nay cảnh báo Philippin về việc tăng cường hiện diện quân sự ở Biển Đông, giữa lúc căng thẳng hai nước lên cao.

China Daily đăng một bài xã luận với giọng gay gắt, nói rằng Manila xâm phạm “toàn vẹn lãnh thổ của Trung Quốc”, đồng thời cảnh báo Philippin có thể phải trả “giá đắt” nếu đánh giá sai tình hình. Bài xã luận cũng cáo buộc Philippin không coi trọng một thỏa thuận mà Bắc Kinh và hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á vừa đạt được ở Indonesia tháng trước nhằm giải quyết mâu thuẫn trên biển một cách hòa bình.

“Những việc mà Manila làm không chỉ vi phạm toàn vẹn lãnh thổ của Trung Quốc mà còn đi ngược lại lập trường của ASEAN cũng như tinh thần của văn bản hướng dẫn” thực thi Tuyên bố về Ứng xử giữa các bên ở Biển Đông (DOC). “Philippin sẽ phải trả giá đắt nếu tính toán sai” về vấn đề Biển Đông, Inquirer dẫn bài xã luận trên China Daily cho biết.

Bài xã luận được đưa ra sau khi tờ Philippine Star đưa tin hải quân Philippin sẽ sớm hoàn thành một nơi trú ẩn để “bảo vệ các binh sĩ đang canh gác và bảo vệ chủ quyền đất nước” trên một hòn đảo ở Trường Sa mà cả hai nước đều tuyên bố sở hữu.
Khối kiến trúc giống vỏ sò mà hải quân Philippin bắt đầu khởi công từ hồi tháng 5 hiện diện trên đảo mà Philippin gọi là Patag, Trung Quốc gọi là Feixin và Việt Nam gọi là Bình Nguyên. Nó thuộc quần đảo Trường Sa do Việt Nam tuyên bố chủ quyền. Các bên khác cũng đưa ra tuyên bố gồm Trung Quốc và Philippin.

Căng thẳng về chủ quyền biển đảo lên cao trong năm nay khi Việt Nam và Philippin tố cáo Trung Quốc ngày càng tỏ ra hung hăng tại đây. Manila cáo buộc lực lượng Trung Quốc quấy nhiễu tàu khai thác dầu và bắn ngư dân của họ. Trong tháng 5, tàu Trung Quốc cũng hai lần cắt cáp tàu thăm dò địa chấn của Việt Nam ở khu vực thuộc chủ quyền của Việt Nam.

Theo Mai Trang
____________________________________________________

Posted in Chính trị thế giới, Chuyện pháp luật, Quốc phòng các nước, Việt Nam và thế giới | Tagged: , , | Leave a Comment »

Hai mũi nhọn trong chiến lược đại dương của Trung Quốc

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Tám 5, 2011

Trong suốt một thập kỷ qua, khi phương Tây đang bận rộn chiến đấu với những phần tử Hồi giáo cực đoan ở Trung Đông và Trung Á, Trung Quốc đã bắt tay vào một nỗ lực khổng lồ và nhanh chóng, nhằm đưa quốc gia này trở thành một cường quốc hải dương ở Tây Thái bình dương và Ấn Độ dương. Đó là nhận xét của Robert C. O’Brien, luật gia nổi tiếng và từng là đại diện của Mỹ phát biểu tại Đại hội đồng LHQ khóa 60. Ông viết về chiến lược đại dương của Trung Quốc trên tờ The Diplomat, tạp chí chuyên sâu về châu Á Thái Bình dương xuất bản online tại Nhật.
Trung Quốc nhiều năm qua tập trung chi tiêu cho lực lượng lục quân của Quân đội Giải phóng nhân dân, còn không quân và hải quân không được chú trọng bằng. Tuy nhiên, với việc trình làng tàu sân bay đầu tiên – dự kiến vào tháng 8 – thì cả thế giới, đặc biệt là Mỹ và các đồng minh, đều nhận thấy rõ ràng rằng mọi sự đã thay đổi lớn. Trung Quốc có tham vọng đại dương, và tham vọng đó được hậu thuẫn bởi công cuộc xây dựng lực lượng hải dương lớn chưa từng thấy trên thế giới kể từ đầu thế kỷ trước, khi Hoàng đế Wilhelm II (trị vì Đức và Phổ từ 1888 đến 1918) quyết định thách thức sức mạnh hải quân của Anh với việc xây dựng một hạm đội đại dương.
Theo O’Brien, sự lớn mạnh của lực lượng hải dương Trung Quốc dựa trên một chiến lược gồm hai mũi nhọn. Thứ nhất, Trung Quốc tìm cách ngăn chặn Mỹ và các cường quốc trên biển khác tiếp cận vùng nước lân cận quốc gia, gồm Hoàng Hải, Hoa Đông và Hoa Nam (Việt Nam gọi là Biển Đông).
Điều này (1) tương tự như Mỹ từng làm với vùng biển Caribbea trong thế kỷ 20, và từ đó hải quân Mỹ có thể tung hoành khắp thế giới; (2) kiểm soát các nguồn tài nguyên và quần đảo tranh chấp như Trường Sa và Điếu Ngư/Senkaku trong khu vực lân cận; và (3) tạo cho Trung Quốc khả năng tái thống nhất Đài Loan về đại lục mà không bị vướng sự can thiệp của Mỹ, nếu có. Những cuộc va chạm hoặc quấy rối của các tàu Trung Quốc với tàu của các nước khác như Mỹ, Việt Nam và Philippines trong thập kỷ qua là bằng chứng cho thấy một quyết tâm ngày càng cao trên mặt trận này.
Thứ hai, Trung Quốc tìm kiếm danh tiếng cũng như khả năng triển khai lực lượng trên các tuyến hàng hải ở Thái Bình dương và Ấn Độ dương, bằng cách đưa vào sử dụng các tàu sân bay và máy bay tiêm/cường kích thế hệ thứ 5. Nền kinh tế phát triển vũ bão của Trung Quốc đòi hỏi nguyên nhiên liệu từ châu Phi và Trung Đông, và vì thế việc bảo vệ các tuyến hàng hải quan trọng ở Ấn Độ Dương và eo Malacca là trọng trách mà Bắc Kinh tất nhiên không muốn nhường cho những cường quốc khác.
Ngân sách chính thức dành cho quân sự của Trung Quốc năm 2011 là 91,5 tỷ USD, lớn gấp nhiều lần so với con số của năm 2000 là 14,6 tỷ. Trung Quốc thừa nhận rằng hiện nay một phần ba ngân sách quốc phòng là để chi cho hải quân. (Những con số này vẫn bị phương Tây nghi ngại cho là dưới mức thực tế nhiều). Trong khi đó, tiền chi cho binh sĩ, thủy thủ và phi công ở Trung Quốc thấp hơn nhiều so với các nước phương tây – nơi mà tiền dành cho quân nhân chiếm một miếng lớn trong cái bánh ngân sách. Điều này cho phép Trung Quốc chi phần lớn ngân sách quốc phòng vào việc mua sắm và phát triển các hệ thống vũ khí. Trong khi các nước phương tây giảm thì Trung Quốc tăng chi cho quốc phòng và sẽ còn tiếp tục tăng trong những năm tới.
Một trong những mục tiêu quan trọng của chương trình hiện đại hóa lực lượng hải dương của Trung Quốc là ngăn chặn. Chiến lược ngăn chặn sẽ dựa trên hai phương tiện đóng vai trò xương sống, thứ nhất là tên lửa đạn đạo chống hạm DF-21 Đông Phong (ASBM), thường được mệnh danh là “sát thủ chống hàng không mẫu hạm”‘; thứ hai là hạm đội tàu ngầm đang được mở rộng hơn bao giờ hết.
Tư lệnh hải quân Mỹ ở Thái Bình dương, đô đốc Robert F. Willard từng đánh giá rằng tên lửa Đông Phong đã đạt đến giai đoạn có thể triển khai, nhưng chưa nhất thiết được triển khai. Các nguồn tin Đài Loan thì cho hay Trung Quốc đại lục đã triển khai tới 20 tên lửa đạn đạo chống hạm như thế. Cho dù các tên lửa này đã hay sẽ được triển khai trong tương lai gần, thì Mỹ đều tin rằng Trung Quốc đã xây dựng được khả năng thu thập tin tức, theo dõi và trinh sát, điều khiển và chỉ huy trên không, cũng như trên mặt đất liên quan đến Đông Phong. Trung Quốc cũng đã sử dụng một loạt các thiết bị cảm biến và giám sát mặt đất và trên biển nhằm thu thập và cung cấp thông tin về mục tiêu cho tên lửa Đông Phong. Tầm bắn 2.600 km của tên lửa này, theo các tin tức có được gần đây, sẽ là điều khiến các nhà hoạch định chiến lược hải quân các nước đau đầu khi tính đến chuyện hoạt động gần bờ biển của Trung Hoa.
Chương trình tàu ngầm của Trung Quốc rất mạnh. Trong suốt thời chiến tranh lạnh, nước này hầu hết sử dụng các tàu ngầm hoạt động gần bờ do Liên Xô chế tạo. Những năm 1990, Trung Quốc bắt đầu mua tàu ngầm tấn công diesel-điện lớp Kilo do Nga sản xuất, và sau đó bắt tay vào phát triển hai chiếc tàu ngầm cùng loại lớp Song, mỗi năm chế tạo hai chiếc trong suốt hai thập niên qua. Nước này cũng nghiên cứu chế tạo cả tàu tấn công diesel-điện lớp Yuan, có hệ thống cánh quạt chạy cực êm. Các chuyên gia quân sự cho rằng trong những năm tới đây Trung Quốc sẽ cho ra mắt các tàu ngầm tấn công chạy bằng năng lượng hạt nhân lớp Shang, củng cố cho hạm đội tàu ngầm vốn đã mạnh của họ. Chắc chắn Trung Quốc hiểu rằng khả năng chiến đấu của hải đội tàu ngầm Mỹ đã tăng tiến kể từ sau Chiến tranh Lạnh.
Tuy nhiên năng lực của hải quân Trung Quốc còn vươn xa hơn nhiều so với yêu cầu ngăn chặn, nó còn để thể hiện sức mạnh. Điều đang gây chú ý đối với cộng đồng quốc tế là chiếc tàu sân bay đầu tiên sắp thử nghiệm cũng như các phi cơ chiến đấu/ném bom thế hệ thứ 5 của Trung Quốc. Ngoài ra, Trung Quốc cũng vừa công khai việc đóng hàng không mẫu hạm thứ hai, lớn hơn chiếc Varyag, và dự kiến sẽ xong trong năm 2015. Cường quốc mới nổi này đang lập kế hoạch đóng tàu sân bay thứ ba, và sau đó có thể là các tàu chạy bằng năng lượng hạt nhân nữa, vào 2020.
Đóng vai trò quan trọng ngang với các tàu chiến là các máy bay chiến đấu triển khai trên hàng không mẫu hạm. Lực lượng chủ yếu của hải quân PLA là các tiêm kích J-15 Flying Shark (Cá mập bay), tương đương chiến đấu cơ F-14 Con ma của Mỹ đã nghỉ hưu. Phi cơ J-15 chỉ có tầm hoạt động hạn chế do phụ thuộc yếu tố tải trọng khi cất cánh trên đường băng.
Tuy nhiên nhiều người tin rằng với những tiến bộ vượt bậc của công nghệ hàng không cũng như hệ thống phóng trên các tàu sân bay tương lai của Trung Quốc, thì tính năng của J-15 cũng sẽ có thể sánh ngang với F-18 Super Hornet của hải quân Mỹ. Trung Quốc cũng có thể sẽ phát triển máy bay trinh sát và cảnh báo sớm (AWACS) và đây sẽ là một tiến bộ đáng kể. Một tấm ảnh trên Internet xuất hiện hồi tháng 5 cho thấy một góc của mô hình giống hệt như máy bay trinh sát và cảnh báo sớm Yak-44 do Liên Xô đề ra ý tưởng, có thiết kế tương đồng với E-2 Hawkeye của Mỹ.
Báo chí thế giới tập trung chú ý vào chuyến bay thử nghiệm đầu tiên của chiến đấu cơ tàng hình thế hệ 5, chiếc J-20, tại Thành Đô, Tứ Xuyên, đúng vào thời điểm Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ khi đó là Robert Gates đang ở thăm Bắc Kinh và hội đàm với Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào. Tin tức về J-20 xuất hiện trên bản tin tối của các đài truyền hình toàn thế giới.
Sự phát triển nhanh chóng và thành tựu công nghệ hiện đại của Trung Quốc đã khiến nhiều nhà quan sát bất ngờ và thừa nhận rằng họ đã đánh giá thấp khả năng quân sự cũng như chương trình hiện đại hóa của Trung Quốc. Rõ ràng là giờ đây thế giới đang chứng kiến một cường quốc hải quân mới, sau gần 200 năm thống trị của sức mạnh hải quân Anh – Mỹ.

Theo Thanh Mai
_______________________________________________________

Posted in Quốc phòng các nước, Việt Nam và thế giới | Tagged: , , | Leave a Comment »

TQ chạy đua chinh phục đáy đại dương?

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Bảy 28, 2011

Ngày 25/7, Trung Quốc đã thử nghiệm thành công tàu lặn Giao Long ở độ sâu 5.057m dưới đáy Thái Bình Dương, đưa nước này trở thành quốc gia thứ năm thế giới sau Nga, Pháp, Mỹ, Nhật Bản chiếm lĩnh công nghệ lặn sâu trên 3.500m.

Trung Quốc sẽ tiếp tục thử nghiệm tàu lặn Giao Long với độ sâu 7.000m vào năm 2012 trong khi xuất hiện nhiều phán đoán xung quanh câu hỏi: Bắc Kinh sẽ làm gì dưới đáy đại dương?

Được thiết kế với khả năng lặn sâu 7.000m, tàu lặn Giao Long – tên một loài rồng biển thần thoại của Trung Quốc – đã thực hiện 17 lần lặn sâu dưới đáy Biển Đông trong khoảng thời gian từ 31/5 đến 13/7 năm ngoái, đạt chiều sâu tối đa 3.759m.

Ngày 21/7 trong lần thử nghiệm đầu tiên năm 2011, Giao Long đã mang theo 3 thủy thủ lặn xuống độ sâu 4.027m trên vùng biển quốc tế ở Thái Bình Dương. 4 ngày sau đó, ngày 25/7 Giao Long lại chinh phục độ sâu 5.057m ở Đông Bắc Thái Bình Dương tại vùng biển giữa Hawaii và đại lục Bắc Mỹ. Thành công này đã đưa Trung Quốc vượt qua các khả năng hiện tại của Mỹ và đặt một dấu mốc trong cuộc chạy đua khám phá nguồn tài nguyên to lớn còn tiềm ẩn ở những vùng sâu nhất của các đại dương trên thế giới.

Tìm kiếm tài nguyên?

Nhiều chuyên gia của cả quốc tế và Trung Quốc đã lên tiếng ca ngợi sứ mệnh của Giao Long như dấu mốc quan trọng trong chương trình khám phá biển sâu của Trung Quốc.

“Đại dương có các nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú. Vì vậy đây là một bước tiến lớn để chúng tôi bắt đầu chú ý tới khám phá khoáng vật đại dương”, Giáo sư Wang Pinxian, Trưởng phòng thí nghiệm quốc gia về địa lý biển của Trường đại học Shanghai Tongji nhận xét.

“Nền kinh tế Trung Quốc đang phát triển và Chính phủ trung ương nhận thấy rằng chỉ phát triển khai mỏ trên đất liền là chưa đủ”, ông Wang Pinxian nói.

Ông Wang Pinxian cũng cho biết ông đang chủ trì một dự án nghiên cứu trị giá 150 triệu Nhân dân tệ (23 triệu USD) và sang năm sẽ sử dụng Giao Long để tìm hiểu một vị trí núi lửa ở Biển Đông.

Theo đánh giá của các nhà phân tích, mục đích cơ bản của Giao Long là giúp khám phá các trữ lượng kim loại và tài nguyên thiên nhiên khác vốn có trữ lượng lớn dưới đáy biển mà Trung Quốc rất cần để duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế nhưng cho đến nay vẫn không thể tiếp cận.

Vị trí thử nghiệm được chọn ở Thái Bình Dương là dựa theo hợp đồng năm 2001 ký kết giữa Hội nghiên cứu và phát triển tài nguyên khoáng sản đại dương Trung Quốc (COMRA) và Cơ quan quản lý đáy biển quốc tế (ISA), một tổ chức của Liên Hợp Quốc giám sát khai khoáng ở những vùng biển quốc tế. Theo đó, trong giai đoạn đầu của hợp đồng kéo dài 15 năm này, COMRA được phép khám phá 150.000 km2 lòng biển để tìm kiếm các khối đá kim (polymetallic nodule), là những tảng đá nhỏ chứa quặng kim loại. Diện tích cho phép trên sẽ giảm xuống 75.000 km2 sau tám năm đầu khai phá. Các khối đá kim được tìm thấy ở những vòng núi lửa dưới đáy biển và được xem là nơi chứa số lượng lớn các kim loại đặc biệt là vàng, bạc, chì, kẽm và đồng.

ISA dự báo trữ lượng các khối đá kim có thể chứa tới 110 triệu tấn mỗi khối nhưng cho tới nay chỉ khoảng 5% trong tổng 60.000 km dãy đá đại dương, nơi lưu trữ phần lớn mỏ đá kim là được khảo sát chi tiết.

Tháng 5/2010, cùng với Nga, COMRA đã nộp đơn xin phép tìm hiểu các mỏ đá kim ở Tây Nam dãy Ấn Độ, khu vực chia đôi châu Phi và vùng Antarctica. Trong cuộc họp ngày 22/7 tuần trước ISA đã chấp thuận hồ sơ của Trung Quốc. Allotey Odunton, Tổng thư ký của ISA đã mô tả các đơn của Trung Quốc và Nga như một bước đột phá lớn vì là hai quốc gia đầu tiên khám phá những mỏ đá kim mới được phát hiện xung quanh các núi lửa dưới đáy biển.

Chinh phục 99,8% đáy biển thế giới?

Theo các quan chức phụ trách dự án, nếu sứ mệnh hiện tại của Giao Long thành công, tàu này sẽ thực hiện lặn ở độ sâu 7.000m trong năm tới, là độ sâu tối đa mà thiết kế có thể chịu đựng. Độ sâu này khiến nó vượt qua cả tàu lặn Shinkai của Nhật Bản, có thể lặn tới 6.500m và tàu Mir của Nga với độ sâu tới 6.000m, đã được dùng để cắm cờ Nga dưới đáy đại dương ở Bắc Cực năm 2007.

Các đại dương chiếm khoảng 70% bề mặt trái đất và có độ sâu trung bình 4.000m. Vì vậy, tàu lặn này cũng sẽ cho phép Trung Quốc tiếp cận tới 99,8% đáy biển của thế giới.

Tàu lặn sâu nhất có người lái của Mỹ hiện đang sử dụng là chiếc Alvin, hạ thủy năm 1964 nhưng chỉ có thể lặn tới tối đa là 4.500m. Phiên bản nâng cấp, được thiết kế để lặn ở độ sâu 6.500m, phải đến 2015 mới hoàn thiện.

Nhiều chuyên gia cho rằng đầu tư của Mỹ cho những nghiên cứu như vậy đã giảm sút trong hai thập kỷ qua. Một hạn chế nữa của Mỹ là nước này chưa phê chuẩn Công ước quốc tế của Liên Hợp Quốc về Luật biển năm 1982 (UNCLOS) và vì vậy Mỹ chỉ là một quan sát viên chứ chưa phải thành viên đầy đủ của ISA.

Trong khi đó, Trung Quốc đã ký UNCLOS và là một thành viên của ISA, đã chủ động khám phá biển sâu từ năm 2002 khi bắt đầu Chương trình phát triển và khai thác biển sâu gồm cả kế hoạch phát triển Giao Long. Trung Quốc cũng dự định xây dựng một căn cứ nghiên cứu quốc gia ở thành phố ven biển Thanh Đảo nhằm đẩy mạnh nghiên cứu và tìm kiếm năng lượng và khoáng sản dưới đáy biển sâu.

Kiểm soát và khống chế lòng đại dương?

Mặc dù các quan chức Trung Quốc nói rằng Giao Long chỉ phục vụ mục đích dân sự nhưng năm 2010 chính Giao Long đã được sử dụng để cắm cờ Trung Quốc dưới đáy Biển Đông, làm dấy lên những lo ngại trong khu vực về việc Bắc Kinh có thể sử dụng công nghệ mới của mình cho cả các mục đích thương mại và quân sự ở những vùng biển còn đang tranh chấp.

Các chuyên gia quân sự nước ngoài còn lo ngại một tàu lặn như vậy có thể được sử dụng để chặn hoặc cắt các cáp truyền thông dưới lòng biển, truy tìm vũ khí của nước ngoài dưới lòng đại dương hoặc sửa chữa, cứu hộ các tàu ngầm hải quân. Japan Times dẫn lời một số nhà phân tích cho rằng tàu Giao Long có thể giúp vẽ chính xác bản đồ dưới đáy biển, tăng cường năng lực hoạt động cho tàu ngầm của quân đội Trung Quốc.

theo Minh Phạm (Tổng hợp từ WSJ)
________________________________________________________

Posted in Chính trị thế giới, Khoa học & Công nghệ, Quốc phòng các nước, Việt Nam và thế giới | Tagged: , , | Leave a Comment »

Trận hải chiến Gạc Ma: Những ngôi mộ gió

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Bảy 28, 2011

TP – Ít ai biết Nghĩa trang liệt sĩ thành phố Đà Nẵng hiện có 6 trong số 7 ngôi mộ gió của những liệt sĩ Trường Sa hy sinh năm 1988 khi bảo vệ đảo chìm Gạc Ma. Có người mẹ già cứ đến ngày giỗ chung 14-3 lại mặc lên mình chiếc áo hải quân ngày nào của con để lên thăm mộ.

Linh thiêng mộ gió

Những ngôi mộ đều tăm tắp ốp đá granito nơi nghĩa trang thành phố sáng bừng trong nắng gió. Dưới gốc cây lớn nhất nghĩa trang sau lưng tượng đài có một chùm ngôi mộ quây quần, mà nếu không đọc tên liệt sĩ và ngày hy sinh, sẽ không biết đó là mộ gió của những người lính hải quân ngã xuống đảo chìm Gạc Ma – Trường Sa 23 năm về trước.
Ngay người quản trang Phan Văn Nuôi cũng tỏ ra hơi bất ngờ về chuyện ấy, khi tôi cùng ông ra thăm mộ. Đã có những vòng hoa tươi của nhiều cơ quan doanh nghiệp, có lẽ đoàn viếng từ lúc sáng.
Ra đảo nhỏ Lý Sơn (Quảng Ngãi), từng gặp hàng trăm mộ gió của những người lính Hoàng Sa từ hàng trăm năm trước. Giờ là mộ gió Trường Sa. Sáu dòng tên: Phan Văn Sự, Trương Quốc Hùng, Lê Văn Xanh, Trần Tài, Nguyễn Hữu Lộc, Phan Văn Lợi, khác nhau năm sinh tháng đẻ, nhưng cùng là người Đà Nẵng, cùng hy sinh một ngày 14-3-1988. Và cùng để lại xương thịt nơi biển khơi.
Nhớ câu chuyện lúc sáng với mẹ Huỳnh Thị Kế (80 tuổi) trong ngôi nhà thấp bé, đồ đạc tuềnh toàng khuất sâu trong con hẻm nhỏ đường Núi Thành (phường Hòa Cường Nam, quận Hải Châu). Con mẹ, liệt sĩ Nguyễn Phú Đoàn, lúc trước cũng được thành phố lập mộ gió tại đây, là ngôi mộ thứ 7. Nhưng sau rồi vợ chồng tuổi già đau yếu, neo đơn, mẹ xin di dời con trai về quê nhà nơi nghĩa trang liệt sĩ phường Hòa Quý (quận Ngũ Hành Sơn) để gần bớt một đỗi đường.
Mộ gió, di dời thì vẫn chỉ là mộ gió. Nhưng dù chỉ là nắm đất mang từ nơi này đến nơi khác, vẫn chất chứa trong đó phần tâm linh – sợi dây liên lạc giữa người đã khuất và người còn sống. Trong số 7 liệt sĩ Trường Sa lập mộ gió nơi đây, chỉ duy nhất gia đình liệt sĩ Lê Văn Xanh nặn hình nhân thế xác. Ông Lê Văn Xuân (ở đường Nguyễn Thành Ý, phường Hòa Cường Nam), cha liệt sĩ Xanh, bùi ngùi: Cháu nó là con đầu trong 8 anh em, đàn giỏi, hát hay, tính tình sôi nổi. Không biết có quá tâm linh không, nhưng có những chuyện không thể không nghĩ.
Mấy năm sau ngày Xanh hy sinh, thì em gái út sinh năm 1983 cũng chết đuối ở sông Đò Xu gần nhà cũ. Nhiều người bảo Xanh thấy đứa em gái mình thương yêu nhất nhà, lại bị bệnh về thần kinh rất khổ tâm, nên đã về dẫn em đi, giờ hai anh em đang vui đùa bên nhau. Hay như người yêu, mấy năm sau ngày Xanh hy sinh đã đi lấy chồng. Nhưng cuộc hôn nhân không thành, cô ấy, nghe nói, đã lên chùa …
Hằng năm, cứ đến ngày giỗ chung 14-3 (26 tháng giêng âm lịch), ngày kỷ niệm Thương binh liệt sĩ 27-7, và dịp tảo mộ, những người cha mẹ già lại gặp nhau bên mộ gió linh thiêng của những đứa con.

Mẹ vẫn mặc tấm áo của con

Riêng với mẹ Lê Thị Muộn (ở đường Hàn Thuyên, phường Hòa Cường Bắc), mẹ liệt sĩ Phan Văn Sự, thì ngày 14-3 cũng chính là ngày giỗ của chồng, ông Phan Văn Bé. Mẹ kể: 5 giờ sáng ngày hôm ấy, nghe tin trên đài báo tin đảo của ta bị tấn công, nhiều chiến sĩ hy sinh. Ông Bé lúc ấy đang ốm nặng, linh cảm về chuyện chẳng lành xảy đến với con trai khiến ông lịm đi. Đến 3 giờ chiều ông mất.
Đến nhà khi mẹ vừa đi dự gặp mặt ngày thương binh liệt sĩ ở quận Hải Châu về. Mẹ kể không hiểu sao từ đầu tháng 7 này, mẹ bỗng khỏe ra, đi lại được nhiều. Chứ thường ngày cái tuổi 80 khiến mẹ đau yếu, khó nhúc nhắc chân tay. Nhắc đến kỷ vật, mẹ lấy ra cái áo khoác bằng vải kaki trắng cổ khoét tròn trông lạ mắt.
Thì ra sau ngày Sự hy sinh, đồng đội gửi về bộ quân phục hải quân, mẹ đã tự tay tháo ra may lại thành cái áo khoác cho mình để mặc mỗi khi lên mộ thăm con, và những dịp gặp mặt 27-7 hàng năm. Còn cổ áo và viền tay sọc ngang kiểu hải quân thì mẹ cất kỹ trong tủ. Rồi như mọi lần, mẹ lặng lẽ mặc hơi ấm của đứa con lên người, đôi tay run run cài từng hột nút.
Mẹ kể, mấy năm trước đơn vị cũ của con tìm về gia đình lấy mẫu máu và ADN của người trong gia đình. Bởi trước đó tìm được một số xương cốt quanh khu vực anh em hy sinh. Nhưng sau đó không có hồi âm, cũng có nghĩa không phải di thể của những liệt sĩ Đà Nẵng, của con mẹ. Để rồi những ngôi mộ gió vẫn nguyên vẹn là những ngôi mộ gió.
Trưa, ghé thăm nhà mẹ Huỳnh Thị Kế, khi mẹ đang xúc cơm cho chồng bị tai biến. Ngồi một lúc, mẹ lặng lẽ ra thắp nhang nơi ban thờ ngoài sân. “Con ơi, Đoàn ơi! Sáng nay quận mời mẹ lên gặp mặt để nhớ tới con. Nhiều người hỏi thăm con. Mẹ cũng soạn sửa rồi, ngày mai mẹ về mộ thăm con…”. Người mẹ tuổi 80 đầu tóc bạc phơ, gương mặt trầm mặc lầm rầm nói chuyện hồi lâu với đứa con trai.
Hỏi mẹ sao thờ con trai ở ngoài sân, mẹ bảo: “Cái chết của nó thiêng liêng lắm, trở thành “nhân thần” rồi, mẹ nghe người ta nói vậy, và bày cho mẹ thờ ngoài này”. Thời gian dằng dặc, chiếc áo hải quân ngấm biển mặn Trường Sa đồng đội con mẹ gửi về, nay đã mục nát. Trong căn nhà cũ kỹ, mẹ cũng chẳng còn chút gì di vật của con, ngoài tấm ảnh để thờ.
Qua di ảnh, chàng trai Nguyễn Phú Đoàn trẻ trung, mạnh mẽ trong quân phục hải quân. Mẹ bảo ảnh gốc nó có đeo súng, nhưng ảnh cũng bị nhòe mờ, mẹ đưa thợ ảnh sửa lại, chỉ giữ lại được khuôn mặt, còn khẩu súng thì không. Giờ đây, mẹ chỉ còn biết giữ hình ảnh con trong tâm tưởng.

Ông Lê Văn Xuân chỉ giữ lại được tấm yếm hải quân của con trai Lê Văn Xanh, nay cũng đã mục rách nhiều chỗ do ngấm nước biển. Có mấy lá thư ngày ấy Xanh gửi về nhà, thì bên quân khu vừa mượn về để quay phim tư liệu. Ông bảo, sáng mai, ngày 27-7, ủy ban phường Hòa Cường Nam tổ chức xe đưa ông và thân nhân các liệt sĩ tại địa phương lên Nghĩa trang liệt sĩ thành phố để dự lễ tưởng niệm.
Xung quanh những ngôi mộ gió Trường Sa nơi đồi núi Hòa Khương (huyện Hòa Vang), lại là cuộc gặp lại của những người cha, người mẹ tuổi tác đã run rẩy với thời gian. Lại là những lời thầm thì, những giọt nước mắt, những câu chuyện mới về làng xóm, bạn bè với những đứa con mà xác thân đã gửi lại nơi trùng xa biển đảo quê hương…

theo Trần Tuấn
____________________________________________________________

Posted in Chuyện lịch sử, Chuyện đất nước, Việt Nam và thế giới | Tagged: , , | Leave a Comment »

Những toan tính xuyên tạc lịch sử của TQ

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Bảy 22, 2011

Có thể nói, tham vọng áp đặt chủ quyền phi lý của Trung Quốc trên hầu hết Biển Đông đã tỏ ra hết sức mâu thuẫn với nguồn tài liệu chính sử của họ. Từ lâu, Trung Quốc đã không từ bỏ việc làm mà tất cả các học giả chân chính đều lên án là cố tình bịa đặt và xuyên tạc lịch sử.

Hành động này đã được Trung Quốc toan tính lâu dài và tổ chức thực hiện công phu để có thể xuyên tạc lịch sử hàng ngàn năm từ cổ chí kim trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Trong phạm vi của bài viết này, chúng tôi chỉ có thể điểm ra một vài trường hợp cụ thể như là một trong rất nhiều minh chứng cho những toan tính trên của Trung Quốc.

Các Sách Trắng về chủ quyền của Trung Quốc tại hai quần đảo Tây Sa và Nam Sa, cũng như một số tài liệu nghiên cứu của các học giả Trung Quốc mà tiêu biểu là ông Hàn Chấn Hoa với cuốn “Tổng hợp sử liệu các đảo Nam Hải của nước ta” (Trung Quốc –NV) đã đưa ra nhiều kết luận “hùng hồn” rằng có rất nhiều “sự thật lịch sử”, trong đó có sự hiện diện của các di chỉ khảo cổ, “chứng tỏ đầy đủ rằng” Trung Quốc là người đã phát hiện, kinh doanh, khai thác và thực hiện việc cai quản đầu tiên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (mà họ gọi là Tây Sa và Nam Sa) từ “hàng nghìn năm nay”. Thế nhưng, đáng tiếc là các sử gia Trung Quốc thời cổ xưa lại chính là những nhà chép sử có lòng tự trọng và nghiêm túc với chức trách. Các bộ Sử ký của nhiều triều đại phong kiến Trung Quốc đã ghi lại hầu hết các sự kiện quan trọng với nhiều chi tiết rõ ràng, nên khi đi vào từng vấn đề cụ thể, lập luận của Trung Quốc ngày nay về chủ quyền của họ trên Biển Đông, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam cũng đã tỏ ra hết sức mâu thuẫn với bản thân các tài liệu chính sử.

Xét về mặt địa lý, Trung Quốc trích dẫn từ một số sách địa lý cổ xưa của họ có những ghi nhận và mô tả về các đảo Hoàng Sa và Trường Sa để cho rằng họ phát hiện và xác lập chủ quyền tại hai quần đảo này từ hàng ngàn năm qua. Chẳng hạn như cuốn Nam Châu Dị Vật Chí của Vạn Chấn (thời Tam Quốc 220-265) viết dưới thời Hán Vũ Đế, có mô tả về các đảo đá và cát trên Biển Đông, có đoạn mô tả chỗ nước nông và có đá nam châm khiến cho tàu thuyền qua lại nguy hiểm, dễ bị chìm. Dị Vật Chí của Dương Phù (đời Đông Hán, 25-220 sau CN) nói về những điều lạ của xứ nước ngoài mô tả địa danh Trướng Hải như sau: “Tại Trướng Hải Kỳ Đầu nước cạn nhưng nhiều đá nam châm, thuyền lớn đi ngoài cõi, dưới thuyền gắn lá sắt sẽ bị nhổ ra”. Chỉ có vậy, thế nhưng các tài liệu gần đây của Trung Quốc lại “áp đặt” sự mô tả này về Trướng Hải Kỳ Đầu cùng truyền thuyết về đá nam châm hút đinh sắt của các thuyền có liên quan tới các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong Biển Đông. Cũng cần nhấn mạnh rằng, phần lớn các thư tịch cổ của Trung Quốc khi nói về đảo và các bãi đá ngầm trên Biển Đông đều chép với rất nhiều tên gọi khác nhau. Chẳng hạn như trong cuốn Đông Tây Dương Khảo của Trương Nhiếp (1618), có nói đến các đảo nằm cách huyện Văn Xương 100 dặm (khoảng 50km), điều này không thể phù hợp về mặt địa lý với quần đảo Hoàng Sa (Paracels) nằm cách Hải Nam về phía nam đến hơn 250km. Tên của các đảo này cũng được chép rất khác nhau tùy theo sự tưởng tượng của tác giả như: Cửu Nhũ Loa Châu, Vạn Lý Thạch Đường, Thiên Lý Thạch Đường, Thất Châu Dương, Thất Châu Sơn… Thật là khó có thể chấp nhận quan điểm của Trung Quốc khi họ cứ khăng khăng cho rằng những đảo đó chính là quần đảo Hoàng Sa (Paracels) hoặc có lẽ là Trường Sa (Spratleys). Đôi khi, sự khẳng định của họ không khỏi gây ra sự sửng sốt. Trong tài liệu “Các biên giới của Trung Quốc” của Chu Kiện (1991), tác giả khẳng định “năm 1873, Quách Tông Đào, Đại sứ đầu tiên của Trung Quốc được cử sang phương Tây, trong nhật ký hành trình đã nhắc đến Nam Sa (Spratleys) thuộc về Trung Quốc”. Thế nhưng đoạn văn này lại được minh hoạ thêm bởi chú thích đề cập tới Hoàng Sa (Paracels) và ghi chú đảo nằm ở vĩ độ 17 Bắc. Đây quả là sự lẫn lộn nghiêm trọng và càng cho thấy sự cố tình gán ghép các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam vốn nằm phía nam vĩ tuyến 17 vào lãnh thổ Trung Quốc.

Các tham vọng của Trung Quốc còn mâu thuẫn bởi chính các nguồn tư liệu khác của họ. Nhiều tài liệu địa lý cổ mô tả và phân định rõ lãnh thổ của đế chế Trung Hoa khá trùng hợp nhau, các mô tả này đều định rõ lãnh thổ Trung Hoa có điểm tận cùng ở phía nam là đảo Hải Nam. Theo hướng này, trong số các cuốn sách ở thế kỷ XII, rồi thế kỷ XVII và XVIII, trong đó các cuốn Địa chí phủ Quỳnh Châu (tức đảo Hải Nam) cũng như cuốn Địa chí tỉnh Quảng Đông năm 1731, cuốn sách dâng nộp vua Thanh năm thứ 9 đời Văn Chính (1731), bản đồ tỉnh Quảng Đông không nói gì đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trong khi đó vào năm 1754, các dân binh hải đội Hoàng Sa của Việt Nam bị đắm thuyền khi công tác trên quần đảo Hoàng Sa trôi dạt tới bờ biển Trung Quốc, nhà chức trách Trung Quốc sau khi thẩm tra xong đã đưa họ về quê hương mà không có sự phản kháng nào của Trung Quốc, chứng tỏ hoạt động của hải đội Hoàng Sa được Trung Quốc thời đó ghi nhận là việc bình thường thực thi chủ quyền của Việt Nam tại vùng biển này. Trong tất cả các tài liệu Trung Quốc đều nhắc lại rằng các ngư dân Trung Quốc đã đến các đảo trên Biển Đông vào mọi thời kỳ. Nhưng, các tài liệu mà họ đưa ra chỉ cho thấy đó là những hành vi cá nhân, không mang tính nhà nước, không phù hợp với một sự chiếm hữu cũng như với ý định khẳng định chủ quyền lãnh thổ quốc gia bởi vì việc chiếm cứ “do các tư nhân không hành động nhân danh chính phủ của họ mà thực hiện vì một lợi ích cá nhân không tạo thành một sự chiếm hữu”, theo luật pháp quốc tế đương thời.
Hơn nữa, cũng trong những thời kỳ này, chính các quần đảo đó thường được các ngư dân Việt Nam lui tới. Trên thực tế, đã không có một chút dấu vết gì chứng tỏ là Trung Quốc đã từng phản kháng lại sự khẳng định chủ quyền của Hoàng đế Gia Long và các người kế nhiệm ông trong suốt cả thế kỷ XVIII cũng như thế kỷ XIX, khi các chúa Nguyễn của Việt Nam tổ chức việc khai thác các đảo nằm dưới quyền tài phán của họ một cách mạnh mẽ và liên tục. Chúng ta có thể tìm thấy trong các văn tập lịch sử Trung Quốc những lời xác nhận sự không tồn tại tham vọng về các đảo trên Biển Đông của Trung Quốc trong lịch sử. Như vậy, có thể thấy rằng Trung Quốc chưa bao giờ có việc thực thi chủ quyền mang tính nhà nước đối với các quần đảo này suốt lịch sử cho tới đầu thế kỷ XX. Sự thờ ơ của Trung Quốc đối với các quần đảo trên Biển Đông đã được hai tài liệu xác nhận: bản đồ Trung Hoa của đế chế thống nhất Hoàng Triều Nhất Thống Dư Địa Tổng Đồ, phát hành vào năm 1894, lãnh thổ Trung Quốc trong đó chỉ mở rộng tới đảo Hải Nam. Ngoài ra, quyển “Trung Quốc Địa Lý Học Giáo Khoa Thư”, phát hành năm 1906 nêu ở trang 241 rằng “điểm cực nam của Trung Quốc là bờ biển Nhai Châu, đảo Quỳnh Châu, ở vĩ tuyến 18°13′ Bắc”.

Sự chính xác và rõ ràng của các luận chứng khẳng định chủ quyền lâu đời, liên tục của Việt Nam bằng những hành động cụ thể của người Việt theo lệnh của triều đình từ thế kỷ XVIII, khiến Trung Quốc phải phản bác lại là các vua chúa Việt Nam luôn chỉ hoạt động nhằm phục vụ Hoàng đế Trung Hoa. Điều này lại càng phi lý. Vương quốc Việt Nam (Đại Cồ Việt) được thành lập vào thế kỷ XI bằng việc thiết lập một quyền lực chính trị và một nền cai trị độc lập đối với Trung Quốc, nhưng đồng thời công nhận một cách khéo léo quyền bá chủ của Trung Quốc. Mối quan hệ chư hầu này khó xác định theo một quan điểm pháp lý bởi vì nội dung của nó mơ hồ và tăng giảm tùy theo các thời kỳ. Trong lịch sử bang giao Đại Việt – Trung Hoa, các triều đại Việt Nam cần lễ thụ phong của Trung Quốc để được công nhận, giống như mọi quốc gia hiện đại muốn đứng vững thì không thể bỏ qua sự công nhận quốc tế. Đối với Trung Quốc, cống nạp thể hiện sự phụ thuộc tối đa mà họ hy vọng. Ngược lại, đối với Đại Việt, cống nạp thể hiện sự độc lập tối đa mà vương quốc này có thể đạt tới mà không gây nên phản ứng đế quốc từ phía Trung Quốc. Chế độ chư hầu được Việt Nam chấp nhận trên danh nghĩa, dưới hình thức triều cống danh dự. Nhưng nghĩa vụ tôn kính của triều đình Việt Nam đối với “Thiên triều” là hoàn toàn hình thức. Lịch sử các quan hệ Trung-Việt từ khi thành lập nước Việt Nam, thoát ra khỏi sự chi phối của Trung Quốc, đã được đánh dấu bằng nhiều mưu toan quân sự của Trung Quốc chống lại Việt Nam. Sau khi đã chiến thắng, các vua Việt Nam không bao giờ quên việc tìm cách xoa dịu người láng giềng khổng lồ của mình bằng một sự thần phục tượng trưng. Từ đó cho thấy lập luận của Trung Quốc đưa ra từ quan hệ chư hầu để mập mờ đòi hỏi yêu sách chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam là không hề có giá trị pháp lý.

Trung Quốc cũng sử dụng một số báo cáo về khảo cổ học để cho rằng họ có chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Tuy nhiên, không có một kiểm chứng khoa học khách quan nào cho thấy những di vật cổ xưa nói là được tìm thấy trên các quần đảo này là của người Trung Quốc. Hơn nữa, theo giới chuyên môn, giả sử “các di chỉ khảo cổ” mà Trung Quốc cho là phát hiện tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam đúng là của người Trung Quốc đi chăng nữa, thì theo luật pháp quốc tế, cũng không có ý nghĩa trong việc xác lập chủ quyền lãnh thổ tại đây. Là một ngành khoa học, khảo cổ học và những di chỉ khảo cổ không có vai trò quyết định trong việc công nhận hay bác bỏ chủ quyền của một quốc gia trên một vùng lãnh thổ nơi các di chỉ khảo cổ hiện diện. Việc Trung Quốc coi các “di chỉ khảo cổ” nói là tìm thấy ở quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa để kết luận “hàng loạt tư liệu văn vật này chứng minh một cách hùng hồn rằng quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa từ cổ xưa là lãnh thổ của Trung Quốc” là một kết luận mang tính suy diễn, không có cơ sở khoa học, lịch sử và pháp lý quốc tế. Cái gọi là những “di chỉ khảo cổ” của Trung Quốc chỉ là sự bịa đặt cố ý nhằm phục vụ cho mưu đồ chính trị, không làm thay đổi được thực tế là hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã thuộc chủ quyền lãnh thổ Việt Nam từ rất lâu đời và người Việt Nam đã thực thi quyền chủ quyền của mình liên tục trên hai quần đảo này cho tới nay.

Nguồn: Đại Đoàn Kết
____________________________________________________________

Posted in Chuyện đất nước, Việt Nam và thế giới | Tagged: , , | Leave a Comment »

Chuyến đi biển bầm giập của thuyền trưởng Nguyễn Thừa

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Bảy 18, 2011

Phạm Anh

SGTT.VN – “Chắc tại tui lỳ nên mới bị nó đánh…”. Mở đầu câu chuyện, thuyền trưởng Nguyễn Thừa, sinh 1973 ở xã Phổ Quang, huyện Đức Phổ, Quảng Ngãi cười méo cả miệng khi kể cho chúng tôi nghe câu chuyện con tàu QNg 98 868 TS có mười lao động khi hành nghề trên vùng biển Hoàng Sa bị người Trung Quốc trấn lột tài sản và đánh đập vào đầu tháng 7 vừa qua.

Anh Thừa kể, tàu QNg 98 868 TS xuất phát từ cảng Đà Nẵng vào ngày 16.6 và ra thẳng vùng biển Hoàng Sa.

Gặp tàu Trung Quốc

Không ngờ, mới ra biển được hai ngày, cách bờ chừng hơn 100 hải lý, tàu QNg 98 868 TS vừa thả lưới xong thì hai chiếc tàu màu trắng mang cờ Trung Quốc lù lù chạy đến chắn ngang mũi tàu cá QNg 98 868 TS. “Nhìn vào tui đoán đó là tàu thăm dò địa chấn của Trung Quốc. Mấy người trên tàu Trung Quốc ra hiệu bảo kéo lưới lên và đi vào bờ. Bọn tui đành làm theo”, thuyền trưởng Thừa nói.
Không chấp nhận nằm bờ khi đó là biển của mình, nên hôm sau, anh Thừa cho tàu ra khơi. Tuy nhiên, vừa “tránh vỏ dưa thì gặp vỏ dừa”, ngày 22.6, khi cách bờ biển Đà Nẵng khoảng 130 hải lý, tàu của anh Thừa lại bị hai con tàu có màu xám trắng của Trung Quốc chặn đầu, bắt quay gấp vào bờ. Bị hai tàu Trung Quốc xua về, tàu của anh Thừa đành đánh bắt ở vùng biển cách Đà Nẵng chừng 80 hải lý được bốn đêm. Sau đó, mười ngư dân bàn nhau: “Phải tiến ra Hoàng Sa thôi vì ở đây không có nhiều cá!” Theo thuyền trưởng Thừa, vào sáng ngày 26.6, tàu cá của anh lại trực chỉ Hoàng Sa. Tại đây, cả tàu làm hùng hục, ngày nghỉ đêm làm, các hầm chứa cá ngày càng đầy lên.
Đến ngày 5.7, máy trưởng Nguyễn Hương (sinh 1967) nói, hôm đó, sau một đêm đánh bắt, chín lao động trên tàu QNg 98 868 TS tranh thủ ngủ trưa. Mới thiu thiu ngủ thì nghe tiếng một con tàu chạy rất gần. Bật dậy như lò xo, thuyền trưởng Thừa nói to: “Không kịp nữa rồi…” Lúc đó, phía trước là một chiếc bo bo chở khoảng mười người mặc áo xanh, tay cầm súng tiểu liên và dùi cui điện đang lao thẳng vào tàu cá QNg 98 868 TS. Sau chiếc bo bo là con tàu màu xám trắng to lớn mang số hiệu 44061. “Đây chắc là tàu cảnh sát biển. Lúc đó, tui chỉ biết la lên trong bộ đàm thông báo cho khoảng chục con tàu cá của Việt Nam đang đánh bắt xung quanh là tàu cảnh sát biển của Trung Quốc xuất hiện, hãy chạy đi, rồi tôi bẻ vô lăng chạy vòng tròn, cố tình không cho chiếc bo bo kia áp sát”, anh Thừa kể.

Đánh người, cướp cá

“Sau đó, một người Trung Quốc mặc đồ lính cầm súng đứng trên bo bo, còn khoảng mười người nhảy lên tàu cá, tay cầm súng tiểu liên, dùi cui điện, máy quay phim”, anh Thừa nhớ lại. “Tui vừa bước ra khỏi ghế cầm lái, hai người Trung Quốc đã nhào vào đánh. Tui đưa tay vừa đỡ, vừa né đòn của mấy thằng lính to con. Trong lúc né tránh, tui bị tụi nó gí dùi cui điện châm sau lưng, nên tui văng xuống biển. Sau đó, bọn họ đưa dây kéo lên…” Không chỉ thuyền trưởng bị đánh, những ngư dân còn lại trên tàu cũng bị mấy người Trung Quốc đánh tới tấp bằng dùi cui, bằng tay chân và báng súng. Sau đó, họ mang két, thùng, giỏ ở trên tàu 44 061 qua, rồi ra lệnh cho năm lao động trên tàu QNg 98 868 TS vào các hầm cá để xúc cá cho vào giỏ, két chở sang tàu 44 061. Sau một tiếng khống chế, tàu Trung Quốc đã cướp đi hơn một tấn cá và bốn tạ mực khô trên tàu QNg 98 868 TS.
Theo thuyền trưởng Thừa, đây là lần thứ hai trong năm, tàu cá của anh gặp cảnh ngộ này. Lần trước là vào đầu năm 2011, khi đánh bắt trên quần đảo Hoàng Sa, thì trên biển có áp thấp nhiệt đới. Tàu của anh Thừa và 19 tàu khác vào đảo Hoàng Sa núp gió, thì bị Trung Quốc trấn lột mỗi tàu từ 3 – 4 tạ cá.

Trao đổi với chúng tôi, chủ tịch UBND xã Phổ Quang, huyện Đức Phổ (Quảng Ngãi) Nguyễn Anh Tuấn cho biết, không riêng gì trường hợp anh Thừa, một năm qua, đã có năm con tàu cá của ngư dân trong xã bị các tàu Trung Quốc trấn lột tài sản trên biển kiểu này. Ông Trần Em, phó chủ tịch UBND huyện Đức Phổ cho biết, huyện có nghe thông tin vụ tàu anh Nguyễn Thừa, tuy nhiên, sự việc như thế nào thì huyện còn đang xác minh từ đồn Biên phòng 300 đóng trên địa bàn.

_________________________________________

Posted in Chính trị Việt Nam, Chuyện đất nước, Chuyện đời sống, Kinh tế, Việt Nam và thế giới | Tagged: , , | Leave a Comment »

Một bản kiến nghị về bảo vệ và phát triển đất nước

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Bảy 16, 2011

Để vươn lên giành thời cơ, thoát hiểm họa, cả dân tộc ta, từ người lãnh đạo, cầm quyền đến người dân thường phải dấn thân cùng với cả nhân loại tiến bộ đấu tranh cho những giá trị đang là nền tảng cho một thế giới tiến bộ, đó là hòa bình, tự do dân chủ, quyền con người, bảo vệ môi trường, nhóm nhân sĩ kiến nghị.

Ngày 13/7/2011, 20 nhân sĩ, trí thức đã gửi bản kiến nghị đến Quốc hội và Bộ Chính trị về bảo vệ và phát triển đất nước trong tình hình hiện nay.

Bản kiến nghị gồm có 3 phần: phần 1 phân tích sâu về những sự kiện xảy ra gần đây trong quan hệ Việt – Trung, phần 2 nói về thực trạng còn nhiều bất cập trong nước và phần cuối cùng nêu 5 điểm kiến nghị với lãnh đạo Đảng và Quốc hội.

Trong danh sách ký tên đính kèm bản kiến nghị, có nhiều tên tuổi như ông Hồ Uy Liêm (Phó Chủ tịch thường trực Liên hiệp các hội KH&KT Việt Nam – VUSTA), Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh (nguyên Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc), nhà nghiên cứu Trần Việt Phương, Trần Đức Nguyên (nguyên thành viên Ban nghiên cứu của Thủ tướng), GS Hoàng Tụy, GS Nguyễn Huệ Chi, Nguyễn Trung, Phạm Chi Lan, Chu Hảo (nguyên Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ), nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu, Linh mục Huỳnh Công Minh, ông Lê Hiếu Đằng, GS Tương Lai, Luật sư Trần Quốc Thuận, chuyên gia kinh tế Vũ Thành Tự Anh, Thiền sư Lê Mạnh Thát, nhà văn Nguyên Ngọc, TS Nguyễn Xuân Diện, Nguyễn Hữu Châu Phan, Nguyễn Đình An.

“Độc lập, tự chủ và toàn vẹn lãnh thổ đang bị uy hiếp”

Trước tình hình Biển Đông nóng lên, nhóm nhân sĩ cho rằng, “Độc lập, tự chủ và toàn vẹn lãnh thổ của nước ta đang bị uy hiếp, xâm phạm nghiêm trọng”.

“Từ khát vọng trở thành siêu cường, với vai trò là “công xưởng thế giới” và chủ nợ lớn nhất của thế giới, dưới chiêu bài “trỗi dậy hòa bình”, Trung Quốc đang ra sức phát huy quyền lực dưới mọi hình thức, nhằm thâm nhập và lũng đoạn nhiều quốc gia trên khắp các châu lục…Thời gian gần đây, Trung Quốc đã có những bước leo thang nghiêm trọng trong việc thực hiện âm mưu độc chiếm Biển Đông với nhiều hành động bất chấp luật pháp quốc tế, ngang nhiên xâm phạm chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải của các quốc gia giáp Biển Đông. Trung Quốc tự ý vạch ra cái gọi là “đường chữ U 9 đoạn”, thường được gọi là “đường lưỡi bò”, chiếm hơn 80% diện tích Biển Đông, nhiều lần tuyên bố trước thế giới toàn bộ vùng “lưỡi bò” này thuộc chủ quyền không thể tranh cãi của Trung Quốc và đã liên tục tiến hành nhiều hoạt động bất hợp pháp trên Biển Đông để khẳng định yêu sách trái luật quốc tế này.

Hiện nay Trung Quốc đang ráo riết tăng cường lực lượng hải quân, chuẩn bị giàn khoan lớn, tiến hành nhiều hoạt động quân sự hoặc phi quân sự ngày càng sâu vào vùng biển các quốc gia trong vùng này, gắn liền với những hoạt động chia rẽ các nước ASEAN trong quan hệ với Trung Quốc.

Trên vùng Biển Đông thuộc lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, năm 1974 Trung Quốc đã tấn công chiếm nốt các đảo ở Hoàng Sa, năm 1988 đánh chiếm thêm 7 đảo và bãi đá thuộc quần đảo Trường Sa của ta; từ đó đến nay thường xuyên tiến hành các hoạt động uy hiếp và xâm phạm vùng biển thuộc chủ quyền của nước ta, như tự ý ra lệnh cấm đánh bắt cá trên Biển Đông, xua đuổi, bắt giữ, cướp tài sản của các tàu đánh cá trên vùng này, gây sức ép để ngăn chặn hoặc đòi hủy bỏ các hợp đồng mà các tập đoàn kinh doanh dầu khí của nước ngoài đang hợp tác với Việt Nam, liên tục cho các tàu hải giám đi tuần tra như đi trên biển riêng của nước mình. Gần đây nhất, tàu Trung Quốc cắt cáp quang và thực hiện nhiều hành động phá hoại khác đối với tàu Bình Minh 02 và tàu Viking II của ta đang hoạt động trong vùng thuộc đặc quyền kinh tế của Việt Nam; đó là những bước leo thang nghiêm trọng trong các chuỗi hoạt động uy hiếp, lấn chiếm vùng biển của nước ta.
Vị trí địa lý tự nhiên, vị thế địa chính trị và địa kinh tế trong bối cảnh quốc tế hiện nay khiến cho Việt Nam bị Trung Quốc coi là chướng ngại vật trên con đường tiến ra biển phía Nam để vươn lên thành siêu cường…”, bản kiến nghị viết.

Từ phân tích trên, nhóm nhân sĩ cho rằng “xem xét cục diện quan hệ hai nước, phải nhìn nhận thẳng thắn rằng Trung Quốc đã đi được những bước quan trọng trong việc thực hiện ý đồ chiến lược của họ”.

Kiến nghị dẫn chứng: Nhập siêu của ta từ Trung Quốc mấy năm qua tăng rất nhanh (năm 2010 gấp 2,8 lần năm 2006) và từ năm 2009 xấp xỉ bằng kim ngạch xuất siêu của nước ta với toàn thế giới. Hiện nay, nước ta phải nhập khẩu từ Trung Quốc khoảng 80-90% nguyên vật liệu cho công nghiệp gia công của ta, một khối lượng khá lớn xăng dầu, điện, nguyên liệu và thiết bị cho những ngành kinh tế khác; khoảng 1/5 kim ngạch nhập khẩu từ Trung Quốc là hàng tiêu dùng, chưa kể một khối lượng tương đương như thế vào nước ta theo đường nhập lậu. Đặc biệt nghiêm trọng là trong những năm gần đây, 90% các công trình kinh tế quan trọng như các nhà máy điện, luyện kim, hóa chất, khai thác bô-xít, khai thác ti-tan… được xây dựng theo kiểu chìa khóa trao tay (EPC) rơi vào tay các nhà thầu Trung Quốc với nhiều hệ quả khôn lường.

Trong khi đó Trung Quốc nhập khẩu từ nước ta chủ yếu dưới dạng vơ vét nguyên liệu, nông sản và khoáng sản, với nhiều hệ quả tàn phá môi trường. Ngoài ra còn nạn cho Trung Quốc thuê đất, thuê rừng ở vùng giáp biên giới, nạn tiền giả từ Trung Quốc tung vào. Sự yếu kém của nền kinh tế trong nước chính là mảnh đất màu mỡ cho sự xâm nhập, thậm chí có mặt chi phối, lũng đoạn về kinh tế của Trung Quốc. Chưa nói tới hệ quả khôn lường của việc Trung Quốc xây nhiều đập trên thượng nguồn hai con sông lớn chảy qua nước ta.

Cũng không thể xem thường sự xâm nhập của Trung Quốc vào các nước xung quanh ta. Nếu Trung Quốc thực hiện được mưu đồ độc chiếm Biển Đông, Việt Nam coi như bị bịt đường đi ra thế giới bên ngoài.

Trong khi đó tình hình đất nước lại có nhiều khó khăn và mối nguy lớn…

Theo các nhân sĩ trên, do “vị trí địa lý nước ta không thể chuyển dịch đi nơi khác, nên toàn bộ thực tế hiện nay buộc dân tộc ta phải tạo được bước ngoặt có ý nghĩa quyết định đối với vận mệnh của đất nước: Là nước láng giềng bên cạnh Trung Quốc đầy tham vọng đang trên đường trở thành siêu cường, Việt Nam phải bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền quốc gia, trở thành một đối tác được Trung Quốc tôn trọng, tạo ra một mối quan hệ song phương thật sự vì hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển.

Mặt trận gìn giữ lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, biển đảo, vùng trời của nước ta trong Biển Đông đang rất nóng do các bước leo thang lấn chiếm ngày càng nghiêm trọng của Trung Quốc… Tuy nhiên, mặt trận nguy hiểm nhất đối với nước ta mà Trung Quốc muốn dồn quyền lực và ảnh hưởng để thực hiện, đó là: thâm nhập, lũng đoạn mọi mặt đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa của nước ta…

Sự xuất hiện một Trung Quốc đang cố trở thành siêu cường với nhiều mưu đồ và hành động trái luật pháp quốc tế, bất chấp đạo lý, gây nhiều tác động xáo trộn thế giới, tạo ra một cục diện mới đối với nước ta trong quan hệ quốc tế: Hầu hết mọi quốc gia trên thế giới, có lẽ ngoại trừ Trung Quốc, đều mong muốn có một Việt Nam độc lập tự chủ, giàu mạnh, phát triển, có khả năng góp phần xứng đáng vào gìn giữ hòa bình và ổn định trong khu vực, thúc đẩy những mối quan hệ hữu nghị, hợp tác vì sự bình yên và phồn vinh của tất các các nước hữu quan trong khu vực và trên thế giới”

Các nhân sĩ này cho rằng: “cục diện thế giới mới này là cơ hội lớn, mở ra cho đất nước ta khả năng chưa từng có trong công cuộc phát triển và bảo vệ Tổ quốc, qua đó giành được cho nước ta vị thế quốc tế xứng đáng trong thế giới văn minh ngày nay. Để vươn lên giành thời cơ, thoát hiểm họa, cả dân tộc ta, từ người lãnh đạo, cầm quyền đến người dân thường phải dấn thân cùng với cả nhân loại tiến bộ đấu tranh cho những giá trị đang là nền tảng cho một thế giới tiến bộ, đó là hòa bình, tự do dân chủ, quyền con người, bảo vệ môi trường.

Kiến nghị 5 điểm

Từ những phân tích trên, các nhân sĩ “khẩn thiết kiến nghị với Quốc hội và Bộ Chính trị”

1. Công bố trước toàn thể nhân dân ta và nhân dân toàn thế giới thực trạng quan hệ Việt – Trung; nêu rõ những căn cứ phù hợp với luật pháp quốc tế, có sức thuyết phục về chủ quyền của Việt Nam đối với biển đảo ở vùng Biển Đông để làm sáng tỏ chính nghĩa của nước ta; khẳng định thiện chí trước sau như một của nước ta xây dựng, gìn giữ quan hệ hữu nghị, hợp tác láng giềng tốt với Trung Quốc, nhưng quyết tâm bảo vệ độc lập, chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia của mình … Chúng ta luôn phân biệt những mưu đồ và hành động phi đạo lý và trái luật pháp quốc tế của một bộ phận giới lãnh đạo Trung quốc, khác với tình cảm và thái độ thân thiện của đông đảo nhân dân Trung quốc đối với nhân dân Việt Nam. Chúng ta sẵn sàng là bạn và đối tác tin cậy của tất cả các nước, đặc biệt coi trọng quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nước Đông Nam Á và các nước lớn, cùng với các nước có liên quan giải quyết hoà bình các vấn đề tranh chấp ở Biển Đông.

2. Trình bày rõ với toàn dân thực trạng đất nước hiện nay, thức tỉnh mọi người về những nguy cơ đang đe dọa vận mệnh của Tổ quốc, dấy lên sự đồng lòng và quyết tâm của toàn dân đem hết sức mạnh vật chất, tinh thần, trí tuệ để bảo vệ và phát triển đất nước. Cải cách sâu sắc, toàn diện về giáo dục và kinh tế ngày càng trở thành yêu cầu cấp thiết, là kế sâu rễ bền gốc để nâng cao dân trí, dân tâm, dân sinh làm cơ sở cho quá trình tự cường dân tộc và nền tảng cho sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước.

3. Tìm mọi cách thực hiện đầy đủ các quyền tự do, dân chủ của nhân dân đã được Hiến pháp quy định, nhằm giải phóng và phát huy ý chí và năng lực của nhân dân cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, tận dụng được cơ hội mới, đáp ứng được những đòi hỏi và thách thức mới của tình hình khu vực và thế giới hiện nay.

4. Kêu gọi toàn thể quốc dân đồng bào, mọi người Việt Nam ở trong nước và ở nước ngoài, không phân biệt chính kiến, tôn giáo, dân tộc, địa vị xã hội, hãy cùng nhau thực hiện hòa hợp, hòa giải, đoàn kết dân tộc với lòng yêu nước, tinh thần vị tha và khoan dung. Tất cả hãy cùng nhau khép lại quá khứ, đặt lợi ích quốc gia lên trên hết, để từ nay tất cả mọi người đều một lòng một dạ cùng nắm tay nhau đứng chung trên một trận tuyến vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, cùng nhau dốc lòng đem hết trí tuệ, nghị lực sáng tạo và nhiệt tình yêu nước xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của chúng ta.

5. Lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam với tính cách là đảng cầm quyền duy nhất và cũng là người chịu trách nhiệm toàn diện về tình hình đất nước hiện nay, đặt lợi ích quốc gia lên trên hết, giương cao ngọn cờ dân tộc và dân chủ đẩy mạnh cuộc cải cách chính trị, giải phóng mọi tiềm năng của nhân dân cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đẩy lùi mọi tệ nạn tham nhũng và tha hóa, đưa đất nước thoát ra khỏi tình trạng yếu kém và lệ thuộc hiện nay, chuyển sang thời kỳ phát triển bền vững, đưa dân tộc ta đồng hành với cả nhân loại tiến bộ vì hòa bình, tự do dân chủ, quyền con người, bảo vệ môi trường.

Theo VUSTA
______________________________________________________

Posted in Chuyện đất nước, Việt Nam và thế giới | Tagged: , , | Leave a Comment »