NGÔN NGỮ & VĂN HÓA

CHÚC MỪNG NĂM MỚI

Archive for the ‘Giáo dục Việt Nam’ Category

“VÒNG TRÒN NHỎ” TRONG “VÒNG TRÒN LỚN”

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Ba 30, 2012

Tương Lai
(Bài phát biểu tại Hội thảo về giáo dục và đào tạo ngày 29.3.2012)

Đứng trước những bậc đàn anh thâm niên trong ngày giáo dục, tôi rất xấu hổ là mình đã chuyển nghề từ dạy học sang Viện nghiên cứu, cho dù thỉnh thoảng có đến giảng bài theo chuyên đề ở một vài trường Đại học, cho nên hôm nay, tôi không dám phát biểu thẳng vào giáo dục mà phải đi đường vòng.
Đúng hơn, là từ cái “vòng tròn lớn” để nói về cái “vòng tròn nhỏ” nằm trong cái “vòng tròn lớn” đó. Bởi lẽ, sẽ không thể nào hiểu, không thể nào tìm giải pháp chiến lược cho hệ thống giáo dục và đào tạo khi không đặt nó vào trong hệ thống lớn hơn mà giáo dục đào tạo là một bộ phận của cái toàn thể ấy.
Vì thế, tôi phải bắt đầu từ xã hội. Nhưng,“Xã hội-cho dù nó có hình thức gì đi nữa- là cái gì? là sản phẩm của sự tác động qua lại giữa những con người. Liệu con người có được tự do trong việc lựa chọn hình thức xã hội này hay hình thức xã hội khác hay không, C.Mác đặt ra câu hỏi để rồi trả lời: Tuyệt đối là không” [C.Mác& PhAngghen Toàn tập, Tập 27, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1995, tr. 657]. Lọt lòng mẹ, con người đã có sẵn một xã hội mà nó không có quyền chọn lựa, cũng giống như đứa trẻ không chọn lựa được nơi nó sinh ra, không thể lựa chọn cha mẹ. Bức tường xã hội đã có trước khi chúng ta sinh ra, chúng ta bị giam hãm trong những bức tường đó bởi chính sự hợp tác tự nguyện hay không tự nguyện của chúng ta, cũng có nghĩa là chúng ta cũng góp phần củng cố những bức tường đó hay đập phá nó đi. “Chúng ta bị giam cầm bởi chính sự hợp tác của chúng ta” [Berger]
Sự tác động qua lại trong mối quan hệ giữa người và người đã xây đắp nên những bức tường xã hội ấy hay làm rạn nứt, sụp đổ cũng những bức tường đó. Bức tường theo ý nghĩa trừu tượng. Nhưng cũng có những bức tường theo nghĩa đen trần trụi của nó: “Bức tường Berlin” chẳng hạn. Đây là “bức tường ý thức hệ”! Muôn hiểu về sự xuống cấp và quá lạc hậu của hệ thống giáo dục đào tạo phải đi sâu vào vấn đề “ý thức hệ” này. Đấy chính là “vấn đề của vấn đề”, nhưng cũng là mấp mé với khả năng quy kết là “phản cách mạng, chống Đảng” đây, nhẹ hơn là mất quan điểm lập trường, và thời thượng là có biểu hiện “diễn biến hóa bình”. Nhưng đây là Hội nghị khoa học, mà khoa học thì phải để cho giới khoa học được “mở miệng ra”. Cho nên tôi xin được “mở miệng” trước anh Vũ Ngọc Hoàng.
Căn bệnh của não trạng và hành vi lấy một lý luận chính trị, xã hội làm chân lý tuyệt đối và duy nhất, loại trừ và thủ tiêu mọi lý luận, mọi tư tưởng chính trị khác đã là một căn bệnh lâu đời của loài người. Từ khoảng đầu thế kỷ XX căn bệnh ấy được gọi là căn bệnh tôn sùng “ý thức hệ”, sống và đấu tranh với nhau vì “ý thức hệ”. Cái tên gọi ấy có xuất xứ từ Tây Âu. Căn bệnh ấy phân chia cả loài người và từng dân tộc, từng quốc gia, cho đến từng gia đình thành phe ý thức hệ này đối lập sống chết vơí phe “ý thức hệ” khác.
Tình hình này rõ nhất là sau Cách mạng tháng Mười 1917 và nhất là sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, trong chiến tranh lạnh. Bệnh ý thức hệ ấy ở Mỹ, Âu không kém gì ở Liên Xô và Trung Quốc thời ấy. “Chủ nghĩa Mắc Cácty” ở Mỹ, một quái thai ghê tởm, là một ví dụ. Sau khi kết thúc chiến tranh lạnh, bệnh “ý thức hệ” vẫn còn rất nặng ở quy mô cả loài người, từng quốc gia, thậm chí từng gia đình chứ không hết và chưa chắc đã nhẹ bớt đi. Ví như cuộc đấu tranh giữa ý thức hệ “tân tự do” với “ý thức hệ”, đúng hơn, với những lợi ích dân tộc và cá nhân, chống lại ý thúc hệ “tân tự do” là rất sâu và không kém phần đối nghịch.
Nêu lên điều này để nói rằng, không phải những người cộng sản khởi xướng ra bệnh “ý thức hệ”, mà là đưa thêm vào trong khái niệm đó những biến thái mới. Ở ta cũng từng có những mong muốn chuyển “ý thức hệ Mác-Lênin thành ý thức hệ của toàn dân! Từ Đại hội VI, với tư duy “Đổi Mới”, chúng ta thấy rõ đó là một sản phẩm duy ý chí, lấy lòng mong muốn thay cho thực tế. Bởi thế mới có được Cương Lĩnh của Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam được biểu quyết thông qua tại Đại hội VI của Mặt Trận năm 2004 với sự khẳng định: “đoàn kết mọi người Việt Nam ở trong và ngoài nước, không phân biệt thành phần xã hội và dân tộc, quá khứ và ý thức hệ, tôn giáo và tín ngưỡng, miễn là tán thành công cuộc đổi mới, nhằm mục tiêu giữ vững độc lập, thống nhất chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đầt nước vì dân giàu nước mạnh xã hội công bằng dân chủ văn minh”.
Xác lập được điều này chính là một bước đột phá quan trọng, đưa nhận thức trở lại đúng với quy luật vận động của cuộc sống, từ đấy mà mở ra một cục diện mới, rất mới. Bởi lẽ, phát triển luôn luôn là tự phát triển trong tiến trình tiến hóa, tạo nên những thuộc tính hợp trội, được thực hiện bằng các cơ chế thích nghi qua sự tương tác của hệ thống. Tiến hóa qua cơ chế thích nghi không chỉ biểu hiện bằng cạnh tranh sinh tồn và chọn lọc tư nhiên, mà còn bằng hợp tác và cùng phát triển. Chính sự đa dạng của tiến hóa như vậy tạo nên sự đa dạng, phong phú, rất phức tạp, song cũng hết sức sinh động của cuộc sống. Cuộc sống nói chung và cuộc sống của con người trong xã hội. Mà xã hội lại là một hệ thích nghi cực kỳ phức tạp, trong đó, các thành phần khác nhau, những yếu tố đối lập, tùy theo sức hút của mục tiêu chung đều có lợi cho tất cả, thì không nhất thiết phải đối đầu theo kiểu tư duy “ai thắng ai”, dẫn đến một kết cục phải thanh toán lẫn nhau để giành quyền thắng, chứ không chịu tìm cách thông qua những tương tác có tính hợp trội để có thể tìm được khả năng cùng thắng.
Nhưng đã một thời, “ai thắng ai” là một nguyên lý có ý nghĩa định hướng cho cách tư duy, không chỉ của một nhóm người, mà là tác động đến toàn xã hội. Mọi sinh hoạt trong đời sống chính trị của đất nước đều nằm trong “vùng phủ sóng” của kiểu tư duy “ai thắng ai” trong cuộc đấu tranh giai cấp vốn được xem là động lực của phát triển xã hội. “Ai thắng ai” ngay khi chính quyền đã thuộc về nhân dân, mọi người dân đều được xác lập vị trí làm chủ đất nước, làm chủ xã hội.
Vậy thì, “ai” đây là “ai”, ai thắng ai trong một đất nước mà nhân dân đã phải trả cái giá cho quyền làm chủ vừa giành được ấy bằng máu và nước mắt trong hy sinh chiến đấu của nhiều thế hệ Việt Nam.. Vì có chuyện “ai thắng ai” đó, mà phải kiên trì mô hình kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp, đối lập với kinh tế thị trường; mới có cải tạo Xã hội Chủ nghĩa đối với thành phần kinh tế mà ngày nay được xác lập là lực lượng xung kích trong hội nhập và phát triển. Giờ đây thì đã có thể nói rõ sai lầm của chuyện “quay lưng lại với biết bao sự thật hàng ngày diễn ra trước mắt mình để lao vào những sai lầm với những cái giá đắt nhất phải trả” ấy mà Phạm Văn Đồng đã nghiêm khắc chỉ ra trong “Văn hóa và Đổi mới” xuất bản năm 1994.
Cái giá đắt nhất chính là kéo lùi đất nước lại cả một thập kỷ, để vuột mất những cơ hội của hội nhập và phát triển. Thậm chí khi đã trở thành thành viên chính thức thứ 150 của WTO, nền kinh tế và các nhà doanh nghiệp của ta vẫn còn phải gánh chịu những bất lợi do vẫn bị xem là “nền kinh tế phi thị trường”, và rồi phải phấn đấu thêm 12 năm nữa, những bất lợi ấy mới được bước đầu xóa bỏ. Chẳng hạn như, khi chưa được xem là nền kinh tế thị trường thực thụ, thì Hiệp định về bán phá giá, Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng của WTO sẽ chưa cho chúng ta cơ hội để cứu vãn tình thế bất lợi. Thế là sẽ còn “mất công mười mấy năm thừa ở đây”! Nhưng dù sao thì cũng chỉ là 12 năm chứ không đến nỗi “đoạn trường cho hết kiếp này mới thôi”!
Quả là, “đoạn trường ai có qua cầu mới hay”, nếu không dứt bỏ kiều tư duy “ai thắng ai” đó, thì không thể nào chân thành đoàn kết và xác định rõ “đồng thuận” chính là động lực của phát triển. Nhưng xem ra không phải là cái di lụy của “ai thắng ai” không còn gây ảnh hưởng chỗ này chỗ kia, lúc này lúc khác khiến cho công cuộc đổi mới không tránh khỏi những trắc trở gập ghềnh, đã có lúc “bước đi một bước, giây giây lại dừng”. Đúng là cất bỏ gánh nặng tư tưởng của một thời quả là không đơn giản.
Không đơn giản, song nếu không sòng phẳng về mặt lý luận để có sự tường minh trong nhận thức thực tiễn, trong việc hoạch định các giải pháp phù hợp với một thời kỳ mới mà vận nước đang thôi thúc mỗi một người Việt Nam muốn góp phần mình vào sự nghiệp chấn hưng đất nước. Nếu không sòng phẳng về lý luận, khẳng định rõ đồng thuận là động lực, đại đoàn kết là động lực chứ không phải đấu tranh giai cấp là động lực như trước đây, thì không thể thúc đây sự nghiệp Đổi Mới một cách triệt để và toàn diện được. Mà trong thực tế, lực cản của Đổi Mới là quá lớn. Không thể tiếp tục Đổi Mới, nếu không chỉ rõ cội nguồn của lực cản ấy.
Xin hãy dừng lại ở một ví dụ sau đây:
Đã từng một thời có những câu thơ bốc lửa giục giã con người đi làm cách mạng “Đi đi em can đảm bước chân lên / Ừ đói khổ phải đâu là tội lỗi!”. Đúng vậy, và rồi “Nuôi đi em cho đến lớn, đến già ? Mầm hận ấy trong lồng xương ống máu / Để thêm nóng mai kia hồn chiến đấu” thì giờ đây ngẫm lại có cái gì không ổn! Mà không ổn từ chính logic của hệ tư tưởng:
Xin giải thích bằng một câu chuyện trong “Thế giới phẳng”, một cuốn sách bán chạy nhất của người đã đoạt giải thưởng Pulizer, và theo nhận xét của J. E. Stiglitz, người đoạt giải Nobel kinh tế: “Đặc điểm của một cuốn sách hay là nó khiến bạn nhìn nhận mọi thứ theo một nhãn quan mới, và xét theo tiêu chí này thì Friedman đã thật sự thành công”. Chuyện rằng: “ Một người bạn Hồi giáo vùng Nam Á của tôi đã có lần kể cho tôi nghe câu chuyện như sau: Gia đình Hồi giáo Ấn Độ của anh ta bị chia ly vào năm 1948, một nửa sang Pakistan và một nửa ở lại Mumbai. Khi lớn lên, anh ta hỏi cha mình tại sao một nửa gia đình ở Ấn Độ lại có vẻ làm ăn tốt hơn nửa gia đình ở Pakistan. Cha anh nói: “Con ạ, khi một người Hồi giáo lớn lên ở Ấn Độ và trông thấy một người sống trong một tòa biệt thự lớn trên quả đồi, anh ta sẽ nói “Bố ơi, rồi sẽ có ngày con sẽ như ông ta”. Còn khi một người Hồi giáo lớn lên ở Pakistan và thấy một người sống trong một biệt thự lớn trên quả đồi, anh ta sẽ nói “Bố ơi, rồi có ngày con sẽ giết ông ta.” …Khi bạn không tìm được lối ra, bạn thường tập trung vào sự phẫn nộ và gắm nhắm ký ức của mình”. Kể câu chuyện này, Thomas L. Friedman nhằm minh họa cho luận điểm “cho con người một môi trường mà trong đó mọi lời than phiền hay ý tưởng đều có thể được đăng tải trên báo chí, cho họ một môi trường mà trong đó mỗi người đều có thể ứng cử vào một chức vụ- và thử đoán xem điều gì sẽ đến? Họ thường không muốn làm nổ tung thế giới này. Họ muốn trở thành một phần của thế giới”.[tr. 798]
Sự bất an trong tâm hồn khiến người ta dễ dàng manh động theo bản năng. Phúc âm viết: “Kẻ nào rút gươm ra, kẻ ấy đã mở lối điạ ngục”. Nhưng trước khi rút gươm, tâm thức của anh ta đã chứa đầy hờn căm và những nghĩ suy hiểm ác. Nhìn nhận một sự kiện văn hoá, đạo đức, có thể thấy những nguyên nhân trực tiếp, song thực ra, phải nhìn lùi vào bề dày của những hệ luỵ do nhiều nguyên nhân đã gây ra. Bề dày đó có khi phải tính bằng độ dài của sự ra đời và trưởng thành của mấy thế hệ.
Cho nên, văn hoá phải đi trước một bước thì mới tạo ra được nền tảng tinh thần của xã hội, và đánh giá một hiện tuợng phản văn hoá lại phải lùi lại phía sau nhiều bước thì mới thấu tỏ được nguyên nhân. Có vậy mới đưa ra được giải pháp đúng. Tạo ra một hoàn cảnh “có tính người”, tức là tạo ra một môi trường xã hội trong đó “người với người là bạn”, “thương người như thể thương thân” chính là sứ mệnh cao cả của văn hóa.
Đương nhiên, một môi trường như vậy không tự trên trời rơi xuống, chúng ta tiến hành cuộc cách mạng chính là để hướng tới một môi trường như vậy. Nhưng nếu nung nấu trong “lồng xương, ống máu” một “mầm hận” cho “đến lớn, đến già” thì rồi cái gì sẽ đến khi cách mạng đã thành công? Và nếu tính bài thơ ra đời tháng 2 năm 1938, thì chỉ 7 năm sau Cách mạng Tháng Tám thành công, cậu bé “len lét, cúi đầu, tay xách gói” chắc đã trở thành một người giữ trọng trách với cái “mầm hận ấy trong lồng xương ống máu” thì khủng khiếp quá cho những việc anh ta sẽ làm!
Thì chẳng phải cái “mầm hận” ấy vẫn còn trong não trạng của không ít người đang giữ những vị thế đòi hỏi một tư tưởng cởi mở để thật sự có thể hòa hợp dân tộc trên một đất nước mà không một gia đình nào là không phải chịu đựng những vết thương chiến tranh. Và chắc là trong đó có không ít người nằm trong số còn “lướng vướng” với việc thúc đẩy sự nghiệp Đổi Mới một cách triệt để với tâm thế “cũng cho khỏi lụy trong vòng bước ra”!
Chúng ta đã có những trải nghiệm đau đớn với “cải cách ruộng đất”. với đấu tranh chống “Nhân văn-Giai phẩm”, với đấu tranh ai thắng ai bằng “cải tạo tư sản” và “công tư hợp doanh” , rồi quá trình “kế hoạch hóa tập trung, bao cấp”, “hợp tác hóa bậc cao” ngăn sông cấm chợ, khước từ kinh tế thị trường …đã đẩy đất nước đến bên bờ vực sụp đổ. Trước và trong Đại hội XI, người ta chiếu bộ phim “Bí thư tỉnh ủy” thật có ý nghĩa và cũng thật bạo gan. Tôi nghĩ, nếu mỗi đại biểu Đại hội mà xem nghĩ, hiểu kỹ và tự vấn lương tâm của người cộng sản chân chính và đích thực, chắc sẽ đưa được vào Đại hội một luồng gió mới. Nếu soi kỹ vào những sai lầm kéo dài hàng thập kỷ ấy sẽ thấy “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt chính là cái “mầm hận” đã thấm sâu vào trong “lồng xương ống máu” nhằm đẩy tới cuộc đấu tranh giai cấp được xem là động lực thúc đẩy sự phát triển xã hội.
Xin hãy nhớ lại hình ảnh ông Đình, thường vụ Tỉnh ủy, ông Bao, phái viên của TƯ, rồi cao nhất là ông Trung Chính. Riêng tôi, tôi cứ nhớ lại nét mắt chân tình của ông Trung Chính khi ông ấy dặn với theo xe cấp cứu đưa ông Kim đi bệnh viện: “cẩn thận, đưa ngay vào bệnh viện Việt Xô, tôi sẽ gọi điện thoại bảo điều ngay những bác sĩ giỏi nhất chữa trị cho anh ấy”. Liệu ông Trung Chính có hiểu rằng chính ông là nguyên nhân trực tiếp đẩy ông Kim bị bục dạ dày? Ông Kim, người đồng chí trung thành và dũng cảm, người dám chống lại cả một thế lực khủng khiếp đang đẩy nông dân Miền Bắc nói riêng và cả dân tộc vào thảm họa, chính là người được ông Trung Chính “giác ngộ” và kết nạp vào Đảng thời kỳ hoạt động gian khổ trong vòng vây của kẻ thù!
Sự chu đáo, nhân từ nhưng lại cực kỳ cứng rắn trong giữ vững “lập trường quan điểm” của ông TC càng được khắc họa sắc nét bao nhiêu thì càng làm nổi rõ hơn sự khủng khiếp của một cơ chế trói buộc đầu óc con người, làm triệt tiêu mọi sáng tạo và sức chiến đấu của những con người đang giẫy dụa trong sự trói buộc của chiếc mũ kim cô giáo điều và “tả khuynh”. Một trong những di lụy đáng sợ là chính chiếc mũ kim cô ấy trói buộc những đầu óc sáng tạo và những nhân cách trung thực nhưng lại dung dưỡng cho sự tác oái tác quái của đám dòi bọ của cách mạng.
Từ “dòi bọ” tôi nói đấy là dùng lại cách nói của C.Mác: “Có thể Các Mác vui lòng nhắc lại một câu nói mà tôi luôn luôn ghi nhớ trong ký ức của mình: “Tôi đã gieo những con rồng và tôi đã gặt được những con bọ”. Thật có đúng như vậy, song cũng có những con rồng…” [Phạm Văn Đồng. “Hồ chí Minh. Quá khứ, Hiện tại và Tương lai”NXB Sự Thật. 1991, tr. 98].
Vậy thì, gọi đúng tên cúng cơm của cơ chế trói buộc đầu óc con người, làm triệt tiêu mọi sáng tạo và sức chiến đấu của những con người đang giẫy dụa trong sự trói buộc đó chính là chủ nghĩa giáo điều Maoít phản Mácxít từng xem “đấu tranh với người là niềm vui lớn” đem áp đặt vào một xã hội mà tinh thần dân tộc là “động lực lớn nhất của đất nước” như Hồ Chí Minh đã chỉ ra từ năm 1924 để khẳng định rằng: “người ta sẽ không thể làm gì được cho người An Nam nếu không dựa trên động lực vĩ đại và duy nhất ” ấy!
Từ những năm 30, Hồ Chí Minh đã từng chỉ ra rằng: “…phải biết khéo lợi dụng kinh nghiệm. Nếu thấy người ta làm thế nào mình cũng một mực bắt chươc làm theo thế ấy. Thí dụ: nghe người ta nói giai cấp đấu tranh, mình cũng ra khẩu hiệu giai cấp đấu tranh, mà không xét hoàn cảnh nước mình như thế nào để làm cho đúng” [Văn kiện Đảng (Từ 10.8.1935 đến 1939) Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng, Hà Nội, 1964, tr.25].
Ngay từ Hội nghị thành lập Đảng năm 1930, Hồ Chí Minh đã khẳng định nếu không giải quyết được vấn đề giải phóng dân tộc, không đòi hỏi được độc lập tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu mà quyền lợi của bộ phận giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được. Đến năm 1937, Người lại nhắc nhở:”Các đồng chí mắc phải cái bệnh thiên về thợ thuyền lao động quá, có khi chỉ biết những người ấy mà quên hết cả quyền lợi của các tầng lớp, các giai cấp khác, quyền lợi chung của dân tộc cần phải bênh vực. Các đồng chí trong Đảng cần phải hiểu rằng: Đảng ta chẳng những là kẻ bênh vực và lãnh đạo cho giai cấp vô sản mà thôi, mà cũng là kẻ bênh vực và lãnh đạo cho toàn thể dân chúng nữa. Đảng phải làm tròn vai trò ấy.” [Hồ Chí Minh Toàn tập, Tập 4, NSB Sự Thật, Hà Nội, 1984. tr. 491]
Lịch sử cách mạng Việt Nam đã chứng minh một sự thật không thể bác bỏ là: lúc nào lấy dân tộc làm động lực thúc đẩy cuộc đấu tranh cách mạng, lúc ấy cách mạng giành được thắng lợi, còn lúc nào nống đấu tranh giai cấp lên làm động lực, lúc ấy cách mạng gặp khó khăn. Đặt vấn đề ý thức hệ giai cấp lên trên quyền lợi của tổ quốc, lấy vấn đề trung thành với ý thức hệ đó làm điểm quy chiếu cho đường lối tổ chức và đánh giá, tuyển chọn cán bộ, đã đẩy tới những hệ lụy khó lường. Đã đến lúc cần phải nghiêm cẩn và thẳng thắn chỉ ra.
Một trong những vấn đề ấy là vấn đề chuyên chính vô sản.
Xin gơi ra đây những ý kiến của đồng chí Võ Văn Kiệt đề cập tới vấn đề gay cấn này qua đoạn viết về đồng chí Lê Duẩn: “Trong nhiều lần trao đổi, nhận xét và chỉ đạo những công việc chúng tôi đang tiến hành tại thành phố Hồ Chí Minh, Anh Ba nêu rất nhiều gợi ý hết sức mạnh dạn và sáng tạo. Qua những ý kiến chỉ đạo của Anh, tôi hiểu Anh đang trăn trở về mô hình phát triển của đất nước mình không thể rập khuôn theo mô hình của Liên Xô và các nước XHCN Đông Au, mô hình Trung Quốc. Cũng như trước đây trong chỉ đạo cuộc chiến tranh cách mạng, tôi thấm thía lời căn dặn của Anh: chỉ lúc nào chúng ta độc lập và sáng tạo, xuất phát từ thực tiễn của đất nước, từ lợi ích của dân tộc, lúc ấy chúng ta thắng lợi, lúc nào chúng ta lệ thuộc, giáo điều sao chép của người ta, lúc ấy cách mạng phải trả giá nặng nề.
Tôi hiểu, Anh không tán thành mô hình Xô Viết. Qua tìm hiểu thực tế ở các nước anh em trong phe XHCN và suy ngẫm về lý luận, Anh nhận ra có quá nhiều vấn đề bất ổn. Anh không tán thành áp đặt thể chế nhà nước “chuyên chính vô sản” khi mà nhân dân đã giành lại được quyền làm chủ đất nước mình bằng những hy sinh không sao kể xiết, không thể “vô sản” lại chuyên chính với chính mình, với nhân dân. Tư tưởng về “làm chủ tập thể” mà Anh nung nấu chính là sự cố gắng tìm đường bứt phá ra khỏi những công thức giáo điều không phản ánh được sự vận động và biến đổi của cuộc sống, xa rời ý chí và nguyện vọng của nhân dân.
Đáng tiếc là, những lóe sáng trong bộ óc tìm tòi, sáng tạo của Lê Duẩn chưa được giới lý luận suy nghĩ, bàn bạc một cách nghiêm túc để định hình được một hệ thống lý luận hoàn chỉnh từ sự đúc kết thực tiễn thay vì những lời tụng ca xu thời lúc Anh Ba giữ cương vị Tổng Bí thư và những quy kết vô lối đầy ác ý khi Anh Ba qua đời. Giờ đây nhớ lại, Anh Ba đã từng phê phán những tư tưởng hạn hẹp chỉ bó gọn tầm mắt và mối quan hệ trong COMECOM. Đôi lúc trao đổi với chúng tôi, Anh nghĩ đến việc phải học hỏi thêm những thành tựu kinh tế và mở rộng quan hệ với Châu Âu, với Nhật, với Mỹ. Anh Ba cho rằng đó không chỉ là chuyện chính sách và chiến thuật, mà phải ở tầm đường lối cơ bản. Trong suy nghĩ về đường lối phát triển kinh tế, Anh Ba cũng đã từng nói đến kinh tế hộ, kinh tế hợp tác và kinh tế tư nhân chứ không phải chỉ nhấn mạnh quốc doanh là ưu việt nhất một cách tràn lan mọi ngành, mọi lúc. Ngay cả vấn đề “khoán hộ” của đồng chí Kim Ngọc ở Vĩnh Phú, mặc dầu lúc ấy đã có kết luận chính thức, song Anh Ba vẫn động viên cần tiếp tục tìm tòi cái mới trong quản lý sản xuất nông nghiệp..
Chính tôi đã nhiều lần nghe Anh Ba phê phán những khuyết tật cơ bản của kế hoạch hóa tập trung quan liêu, và đòi hỏi phải dám mạnh dạn tìm tòi cơ chế mới phù hợp với từng bước phát triển của đất nước mình. Anh Ba đã có lần gợi ý với chúng tôi những vấn đề cần suy nghĩ về vai trò của giá, của tài chính tiền tệ, những công cụ và đòn bẩy chính của kinh tế thị trường mà ta nói hiện nay. Rõ ràng là, từ rất sớm, bộ óc lớn ấy đã từng lóe sáng những suy tư về đổi mới như tôi đã nói ở trên.
Chỉ có điều, từ những trăn trở trong suy nghĩ nhằm định hình những vấn đề thuộc về đường lối, đến việc vận dụng vào thực tế, có cả một khoảng cách rất xa. Ở cương vị cao nhất của Đảng, gánh vác những công việc lớn lao của đất nước sau khi Bác Hồ qua đời, đồng chí Lê Duẩn không thể không chịu trách nhiệm về những sai lầm của Đảng, làm chậm sự phát triển của đất nước mà Đại hội VI của Đảng đã chỉ ra. Cho đến hôm nay, tôi vẫn băn khoăn suy nghĩ về một số vấn đề lớn được Đại hội IV quyết định. Đành rằng trong bối cảnh lịch sử lúc bấy giờ, thoát ra khỏi những lối mòn đã định hình quá lâu trong đầu óc của những nhà lãnh đạo có trách nhiệm hoạch định đường lối không hề là chuyện đơn giản. Nhưng ở cương vị Tổng Bí thư, đồng chí Lê Duẩn phải chịu trách nhiệm những gì và như thế nào. Để làm rõ những vấn đề có ý nghĩa lớn ấy trong lịch sử Đảng nhằm đúc kết những bài học cho những thế hệ hôm nay và mai sau, không thể là những phát biểu tùy tiện, mà phải là những nghiên cứu nghiêm túc với tinh thần trung thực và khách quan.
Năm tháng đã trôi qua, khi viết những dòng này, lòng tôi vẫn bồi hồi xúc động nghĩ đến một hình ảnh đang chiếm giữ trong tim óc tôi một vị trí thật thiêng liêng và gần gũi. Sau Bác Hồ vĩ đại và kính yêu, hình ảnh thân thiết nhất, cảm phục nhất, có sức động viên và nâng tôi lên chính là hình ảnh của đồng chí Lê Duẩn, Anh Ba Duẩn kính mến.”
Thế nhưng sau khi bài này vừa đăng lên thì 2 hôm sau trên báo Sài Gòn Giải phóng của một người từng nắm công tác lý luận đã lên tiếng bác bỏ. Trong lập luận, bài viết ấy vẫn khẳng định nhà nước của ta hiện nay, về thực chất vẫn thực hiện nội dung chuyên chính vô sản! Tôi vẫn giữ lại tờ báo có đăng bài ấy nhưng xin miễn nêu ra ở đây.
Vì sao vậy?
Đây là vấn đề cực kỳ phức tạp và nhạy cảm. Sự định hình của nguồn mạch tư duy, nhất là đối với những người đã cao tuổi, vốn sống với hào quang của quá khứ, thật khó mà dứt bỏ khỏi đầu óc mình những cái vốn đã ăn vào máu thịt và là niềm kiêu hãnh lớn , một giá trị được xây đắp vun quén trong cả một đời. Những người từng gánh vác trách nhiệm cao, từng vào tù ra tội, từng chịu đựng mưa bom bão đạn sẽ lại càng khó dứt bỏ những ngộ nhận và sai lầm. Tự vượt lên chính mình là thử thách khó nhất đối với bản lĩnh một con người. Đấy là chưa nói sự lạc hậu với tình hình, không kịp thời nắm bắt thong tin, chỉ quen sống với những giá trị đã định hình cho dù những giá trị bị ngộ nhận hoặc đã “quá đát” trở thành vật cản cho tư duy.
Phải chăng ở đây có thể mượn ý Nguyễn Du qua lời của bóng ma Đạm Tiên nói với nàng Kiều “Rỉ rằng nhân quả dở dang. Đã toan trốn nợ đoạn trường được sao” cho dù là “Ma đưa lối, quỷ dẫn đường, Lại tìm những chốn đoạn trường mà đi”. Thật ra, một khi mà “Một giây một buộc ai giằng cho ra” thì “đố ai gỡ mối tơ mành cho xong” nếu không tự mình giải phóng cho chính mình mà ngay đến khi đã có thể “Đoạn trường sổ rút tên ra” thì vẫn cứ “Cuộc vui gãy khúc đoạn trường” [ấy chi ]! Mà có chuyện đó vì nó có nguồn mạch từ trong quá trình vận động cách mạng.
Xin gợi lại vài tư liệu lịch sử để thấy rằng chính Hồ Chí Minh cũng đã từng là nạn nhân của sự “độc quyền chân lý, áp đặt tư duy, tùy tiện quy kết” từ những cấp rất cao khi kiên định quan điểm về dân tộc, không tán thành thổi phồng vấn đề giai cấp. Chẳng hạn, vì lý do ấy mà Staline không tiếp Hồ Chí Minh, chưa chịu công nhận nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà cho mãi đến năm 1950 sau cuộc gặp ở Matxcơva.
Một tài liệu cho biết cuối cùng Staline cũng nhận tiếp Hồ Chí Minh, ngay tại phòng làm việc của mình, với sự có mặt đông đủ các nhà lãnh đạo chủ chốt của Liên Xô, phía Trung Quốc có Đại sứ Trung Quốc Vương Gia Tường, phía Việt Nam có Trần Đăng Ninh. Staline mở đầu: Chúng ta là những người bạn, người anh em thân thiết, gặp đồng chí hơi muộn một chút, xin thứ lỗi! Hồ Chí Minh báo cáo tóm tắt tình hình cơ bản về Đảng Cộng sản Đông Dương, về cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Việt Nam và đề nghị Liên Xô giúp đỡ…Staline phát biểu chậm rãi nhưng rành rọt, đại ý:
– Tại sao các đồng chí tự ý giải tán Đảng? Đồng chí tưởng lừa được chủ nghĩa đế quốc à, chính là đồng chí lừa chúng tôi, vì ở xa, không biết thực hư thế nào (có ý trách là không xin ý kiến).
– Chính phủ các đồng chí là cái chính quyền gì, sao mà lắm nhân sĩ, trí thức, địa chủ, quan lại thế? (ý nói không phải chính quyền công nông).
– Tại sao đến nay các đồng chí không tiến hành cải cách ruộng đất? Để đánh thắng đế quốc Pháp, sự chi viện của quốc tế là cần thiết, nhưng phải phát động quần chúng, động viên quần chúng, đem lại lợi ích thiết thân cho họ, đó mới là điểm mấu chốt làm nên thắng lợi. Staline tỏ ý không hài lòng lắm, hỏi: trong 2 cái ghế dân tộc và giai cấp, đồng chí ngồi trên cái ghế nào? (có ý phê bình lập trường giai cấp còn mơ hồ ).
– Về vấn đề viện trợ cho cuộc kháng chiến của Việt Nam, Staline nói: Cách mạng Trung Quốc nay đã thành công, Trung Quốc đã trở thành trung tâm của cách mạng châu Á, từ nay chi viện cho Việt Nam sẽ do Trung Quốc đảm nhiệm, vì sát với Việt Nam. Liên Xô có nhiệm vụ giúp Trung Quốc xây dựng kinh tế, những vũ khí chúng tôi giúp Trung Quốc, nay kết thúc chiến tranh, cái gì không dùng nữa, hợp với Việt Nam, thì có thể chuyển cho Việt Nam (như một sự phân công quốc tế); đồng thời Staline cũng nhắc nhở Việt Nam phải ra sức học tập kinh nghiệm của Trung Quốc.
Tóm lại, Liên Xô không muốn dính vào vấn đề Việt Nam ở thời điểm này. Cuộc đón tiếp được coi là hờ hững. Trong cuộc tiếp, nhân trên bàn có cuốn họa báo “Liên Xô trên công trường”, có ảnh Staline, Hồ Chí Minh bèn xin Staline một chữ ký để làm kỷ niệm. Staline ký tặng rồi sau đó sai KGB bí mật lấy lại. Điều này làm cho Hồ Chí Minh rất bức xúc: “Làm sao lại có thể có chuyện đó giữa những đồng chí cộng sản với nhau”?.
[Theo Trương Quảng Hoa: “Ghi chép bí mật về quyết sách giúp Việt Nam chống Pháp”, đăng trên Tạp chí Viêm hoàng xuân thu, số 10 năm 1995.]
Hiểu sự kiện này có ý nghĩa như thế nào mới thấy ra được bản lĩnh của Hồ Chí Minh, những khó khăn mà Hồ Chí Minh phải vượt qua như thế nào. Gay gắt nhất là khó khăn do các đồng chí của mình gây ra. Trần Phú, Ngô Đức Trì là những học viên lớp đầu của trường Phương Đông trong khoảng thời gian từ 1927 đến 1930, đã được đào luyện rất kỹ theo tinh thần “giai cấp chống giai cấp” của Đại hội VI, trở thành những người cộng sản ‘cứng rắn”, được cử về để “uốn nắn” lại những “sai lầm” của Nguyễn Ái Quốc!
Người phê phán gay gắt nhất Nguyễn Ái Quốc là Trần Phú. Tại Hội nghị TƯ tháng 10-1930, Trần Phú đã phê phán những sai lầm về chính trị và tổ chức của Hội nghị hợp nhất là “chỉ lo đến việc phản đế mà quên mất lợi ích giai cấp đấu tranh, ấy là một sự rất nguy hiểm”, về “chia địa chủ làm đại, trung và tiểu địa chủ”, về “nóí phải lợi dụng bọn tư bản mà chưa rõ mặt phản cách mạng”, cùng một số sai lầm khác, sau đó ra nghị quyết ‘thủ tiêu Chính cương, Sách lược và Điều lệ cũ của Đảng” [Văn kiện Đảng Toàn Tập, NXB Chính trị Quốc gia, 1998, t. 2, tr. 110-112]. Sau Hội nghị TƯ 10-1930, trong thư gửi Quốc tế Cộng sản ngày 17-4-1931, ông còn phê phán nội dung Hội nghị hợp nhất “mang nặng dấu ấn các tổ chức cách mạng cũ, các vấn đề cơ bản đều mâu thuẫn với đường lối Quốc tế Cộng sản (do thiếu một chính sách giai cấp),…mang dấu ấn nhất định của thời kỳ Quốc -Cộng hợp tác 1925-1927” [Tài liệu lưu trữ tại Phòng QTCS, nay là Trung tâm bảo tồn và nghiên cứu các tài liệu lịch sử hiện đại Nga, viết tắt là R.C. ký hiệu 495.154.462.]
Thời gian này, Hà Huy Tập đã trở về Trung Quốc, đứng đầu Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng. Ngày 31-3-1935, trong thư gửi Quốc tế Cộng sản, ngoài nội dung chính là báo cáo kết quả của Đại hội Ma Cao, trong 10 điểm nói thêm, có 2 điểm báo cáo về Nguyễn Ái Quốc, ở điểm thứ mười, ông đã viết: “Ở Xiêm và Đông Dương, các tổ chức cộng sản đã tiến hành một cuộc đấu tranh công khai chống lại những tàn dư của tư tưởng dân tộc cách mạng pha trộn với chủ nghĩa cải lương của đảng Thanh niên và của đ/c Nguyễn Ái Quốc, những tàn dư ấy rất mạnh và tạo thành một chướng ngại nghiêm trọng cho sự phát triển chủ nghĩa cộng sản…Chúng tôi đề nghị đ/c Lin viết một quyển sách để tự phê bình những khuyết điểm đã qua”. [Văn kiện Đảng TT, t. 5, tr. 204]
Ngay cả khi được tin Nguyễn Ái Quốc đã lâm bệnh, qua đời ở Hồng Kông, trong bài viết như để truy điệu, Hà Huy Tập cũng không quên nhắc đến những “sai lầm” của Nguyễn Ái Quốc: “Công lao mà ông đã đóng góp cho Đảng chúng ta thật là lớn. Song các đồng chí chúng ta trong lúc này không được quên những tàn dư dân tộc chủ nghĩa của Nguyễn Ái Quốc, các chỉ thị sai lầm của ông về những vấn đề cơ bản của phong trào cách mạng…Ông đã không đưa ra bàn luận trước về những sách lược mà Quốc tế Cộng sản đòi hỏi phải áp dụng để loại bỏ những phần tử cơ hội trong Đảng. Ngoài ra, ông còn khuyến dụ một sách lược cải lương và hợp tác sai lầm: trung lập hóa tư sản và phú nông, liên minh với trung và tiểu địa chủ”. [Bài đăng trên Tạp chí Bônsêvích (Cahier du Bolchévisme) số 8, tháng 12-1934. Dẫn lại theo Daniel Hemery: Ho Chi Minh, De l’Indochine au Viet Nam , p. 73].
Cái logic của định hướng tư tưởng ấy sẽ đẩy cuộc sống đi tới theo chiều hướng cực tả. Mà vì vậy, muốn là người cách mạng kiên định thì phải đi theo hướng ấy. Đây chính là điểm quy chiếu của lập trường quan điểm và chỉ đạo đường lối chính sách cũng như hành động thực tiễn. Từ trước Đổi Mới, đây là điểm tựa cơ bản. Hiểu điều này, mới hiểu được bản lĩnh của Hồ Chí Minh vào năm 1951, khi Đảng có điều kiện để ra công khai đã đổi tên Đảng là Đảng Lao Động Việt Nam: “Chính vì Đảng Lao động Việt Nam là đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cho nên nó phải là Đảng của dân tộc Việt Nam” 1. Chỉ rõ “Đảng phải là Đảng của dân tộc Việt Nam”, khẳng định dân tộc, lợi ích của dân tộc là mục tiêu chiến đấu, quan điểm ấy, ý chí ấy nhất quán trong tư tưởng Hồ Chí Minh từ đầu chí cuối. Ngay từ 1924, Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: “Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn nhất của đất nước … Người ta sẽ không thể làm gì được cho người An Nam nếu không dựa trên các động lực vĩ đại, và duy nhất của đời sống xã hội của họ”. Chính vì vậy, “Chính cương và Sách lược” do Nguyễn Ái Quốc nêu nổi bật tư tưởng “mặt trận toàn dân” và “thống nhất dân tộc” để đánh đổ thực dân và phong kiến để rồi phải gánh chịu cái tội: “mang hệ tư tưởng quốc gia cách mạng pha trộn với tư tưởng cải lương và duy tâm chủ nghĩa” vì không quán triệt quan điểm của Staline “giai cấp đấu tranh là quan trọng nhất và ngày càng có tính chất kịch liệt” rất xa lạ với quan điểm của Lênin về vấn đề dân tộc. Chính vì thế “…phải biết khéo lợi dụng kinh nghiệm. Nếu thấy người ta làm thế nào mình cũng một mực bắt chươc làm theo thế ấy. Thí dụ: nghe người ta nói giai cấp đấu tranh, mình cũng ra khẩu hiệu giai cấp đấu tranh, mà không xét hoàn cảnh nước mình như thế nào để làm cho đúng” . Trong thư “Kính cáo đổng bào” viết ngày 6.6.1941, Nguyễn Ái Quốc khẳng định: “Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóng cao hơn hết thảy…Hiện thời muốn đánh Pháp đuổi Nhật ta chỉ cần một điều: Toàn dân đoàn kết.”
Trong bài “Đại đoàn kết dân tộc, cội nguồn sức mạnh của chúng ta”, viết năm 2005 Võ Văn Kiệt giải thích: “Đoàn kết đồng thời có nghĩa là phải khoan dung. Chính phủ Hồ Chí Minh chủ trương xóa bỏ mọi hận thù và chia rẽ do chế độ cũ để lại, sẵn sàng thu dụng những người có tài, có năng lực, có tâm huyết, mà không kể đến quá khứ…Đến Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II đầu năm 1951, vấn đề đại đoàn kết được đặt ra và nhìn nhận trong những hoàn cảnh khác. Đã có không ít ý kiến xung quanh vấn đề này. Bác kết luận: “Chính vì Đảng Lao động Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cho nên nó phải là Đảng của dân tộc Việt Nam”. Lời giải thích đó của Bác có sức thuyết phục mạnh mẽ trong Đại hội Đảng.
Về phần mình, trải qua bao năm tháng suốt từ trước Cánh mạng Tháng 8 năm 1945 đến ngày nay, từ những phút gian nguy giữa sống và chết, đến những ngày chia ngọt sẻ bùi từng thắng lợi, tôi đã bao lần được đồng bào che chở cưu mang, đã chứng kiến bao tấm gương hy sinh của những người thuộc mọi tầng lớp và lứa tuổi…tôi càng thấm thía những bài học lớn đó của Hồ Chí Minh. Tiếc rằng một số năm sau đó, tư tưởng đại đoàn kết đã bị coi nhẹ, quan điểm giai cấp đã được vận dụng một cách máy móc, một chiều…Tư tưởng thành phần chủ nghĩa đã dẫn tới hai hậu quả: làm mất đi nhiều tài năng của một bộ phận đáng kể trong dân tộc, đồng thời đưa một cách gượng ép những nhân tố tuy rất cơ bản về chính trị nhưng lại không đủ chất lượng vào quản lý và xây dựng ”.
Xin hãy chỉ gợi lên một chuyện mà theo người kể là “ít người biết” trong Mậu Thân 1968: Khi bàn về các mục tiêu phải tiến công, một số anh lãnh đạo không đề ra mục tiêu tòa Đại sứ Mỹ”, với tư cách là Bí thư Khu ủy Sài Gòn – Gia Định, ông Sáu Dân khẳng định: “Không đúng. Đánh vào đô thị là đánh vào đầu não chiến tranh của địch. Đầu não của chế độ Sài Gòn là Dinh Độc Lập và tòa Đại sứ Mỹ. Phải khẳng định đây là hai mục tiêu hàng đầu phải tiến công vì ý nghĩa chính trị của nó… Kháng chiến tức là phải đánh giặc, phải có quân đội, có vũ khí, có ý chí gang thép; nhưng nếu không hiểu khía cạnh chính trị của cuộc chiến đấu thì không thể hiểu gì về cuộc chiến tranh cách mạng của nhân dân ta cả”. Chính con người có ý chí gang thép đó, con người từng thường trực nơi dầu sôi lửa bỏng trong cả hai cuộc kháng chiến, con người đó hiểu rõ ý nghĩa chính trị của sự nghiệp giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước nên từ đỉnh cao của chiến thắng 30 tháng 4 lịch sử đã dám thẳng thắn chỉ ra: “Chiến thắng của chúng ta là vĩ đại, nhưng chúng ta cũng đã phải trả giá cho chiến thắng đó bằng cả nỗi đau và sự mất mát. Lịch sử đã đặt nhiều gia đình người dân miến Nam rơi vào hoàn cảnh có người thân vừa ở phía bên này, vừa ở phía bên kia, ngay cả họ hàng tôi cũng vậy. Vì thế, một sự kiện liên quan đến chiến tranh khi nhắc lại, có hàng triệu người vui, mà cũng có hàng triệu người buồn. Đó là một vết thương chung của dân tộc cần được giữ lành thay vì lại tiếp tục làm cho nó thêm rỉ máu… Chúng ta đang nắm quyền lãnh đạo đất nước, muốn để mọi người Việt cùng chung tay tạo dựng thì chúng ta phải thực tâm khoan dung và hòa hợp.”
Không có một bản lĩnh chính trị vững vàng để hiểu rõ ý nghĩa chính trị cao cả của sự nghiệp chiến đấu với bao hy sinh của nhiều thế hệ Việt Nam, sẽ không thể đưa ra được tư tưởng mà nhất thời có thể chưa là cách nghĩ của số đông. Không có một sự tường minh về mục tiêu cao cả của sự nghiệp cách mạng của Đảng và của dân tộc, sẽ không dám đặt ra những vấn đề gai góc và dễ động chạm trong đời sống tinh thần của cả xã hội như vậy. Phải có một niềm tin mãnh liệt vào lý tưởng vĩ đại mà vì nó dám chấp nhận mọi hy sinh như bản thân mình đã từng trải nghiệm, mới có được bản lĩnh dám chịu trách nhiệm về những ý tưởng mang tính đột phá có ý nghĩa mở đường theo kiểu ấy. Nếu không có bản lĩnh như vậy, sẽ không thể công khai và thẳng thắn đặt ra những vấn đề gai góc và nhạy cảm mà ông hiểu rằng tất yếu sẽ gặp không ít lực cản, mà lực cản ấy sẽ không nhỏ, thậm chí là dai dẳng. Nhưng rồi cuộc sống đã cho thấy, những ý tưởng như vậy của Võ Văn Kiệt đã được đông đảo các tầng lớp nhân dân đón nhận, đặc biệt là đối với những đầu óc ưu thời mẫn thế.
Ấy thế mà cũng có những lúc những đầu óc “ưu thời mẫn thế” cũng bị cuốn theo cơn lốc thời cuộc để đưa ra những thông điệp mà tỉnh táo ngẫm nghĩ lại không khỏi không có những băn khoăn. Xin được dẫn ra vài câu thơ của những tác giả tên tuổi đã từng một thời được đưa vào sách giáo khoa và hiện nay vẫn là những tên tuổi lớn được xã hội trân trọng. Nhằm tụng ca những thành tựu của chế độ, nhà thơ khẳng định: “Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng…Những ngày tôi sống đây là ngày đẹp hơn tất cả” [Chế Lan Viên]. Từ trong sự thăng hoa của cảm xúc đó để nhìn nhận về ông cha mình như sau: “Cha ông xưa từng đấm nát tay trước cửa cuộc đời / Cửa vẫn đóng và đời im ỉm khóa” [Chế Lan Viên].. Bởi vậy, “Một câu hỏi lớn không lời đáp / Cho đến bây giờ mặt vẫn chau”![Huy Cận].
Trong “hội chứng tụng ca” ấy, những bước đi quá đà đã vô tình để lại những hậu quả rất lớn nhưng không dễ nhận ra nếu không thật tỉnh táo nhìn thẳng vào sự thật và không tránh né những vấn đề “nhạy cảm” rất dễ bị quy kết về “lập trường, quan điểm” của lối “độc quyền tư tưởng, áp đặt tư duy, tùy tiện quy kết”. Lối “độc quyền” ấy đẻ ra cái khẩu khí quen thuộc khi bàn về lịch sử “do chưa có được cái này cái nọ soi sáng cho nên…” với sự tự mãn một cách lố bịch rằng chỉ “từ khi có cái này cái nọ” thì lịch sử mới vượt khỏi những hạn chế.
Ở đây gợi nhớ đến một phân tích lạnh lùng, sắc sảo của Gustave le Bon trong “Tâm lý học đám đông”: “Chẳng gì chứng minh rõ hơn sự mê hoặc do một niềm tin chung gây ra, nhưng cũng chẳng gì chỉ ra rõ hơn những giới hạn nhục nhã của trí tuệ con người”! Bởi vậy ngẫm cho kỹ, sẽ nhận ra sự dễ dãi đến bạc bẽo khi đưa ra những phán xét, cho dù bằng những rung động thẩm mỹ có phần cảm tính, về ông cha.
Ông cha ta đâu có “bế tắc”, cái “câu hỏi lớn” mà nhà thơ cho là “không lời đáp” là gì nếu không là vận mệnh của đất nước? Mà nếu thế thì ông cha ta đã từng đưa ra những lời đáp thật thuyết phục với những bằng chứng lịch sử không thể bác bỏ. Nếu không biết cách trả lời những câu hỏi lớn của lịch sử, của thời đại mà các cụ sống thì làm sao đất nước này, dân tộc này có thể hiên ngang trụ vững bên cạnh anh láng giềng chỉ chực có cơ hội là nuốt gọn mình. Chính vì biết cách trả lời những “câu hỏi lớn” của lịch sử mà biết chuyển yếu thành mạnh, lấy ít địch nhiều, biết cách chế ngự cái thế “trứng chọi đá” để có thể ra Tuyên ngôn “Nam quốc sơn hà, nam đế cư, Tiệt nhiên định phận tại thiên thư””.
Những rung động thẩm mỹ có phần cảm tính, về ông cha dẫn ra ở trên, xét cho cùng, là bị chi phối bởi lối tư duy và lập luận rất cực đoan rằng chỉ từ 1930, dân tộc mới thật sự biết ngẩng cao đầu! Cho nên, chỉ những gì được ra đời từ cột mốc ấy mới có một giá trị được xếp trên tất cả, hơn tất cả.“Ta nhất quyết đồng hồ Liên Xô tốt hơn đồng hồ Thụy sĩ…Mường tượng rằng trăng Trung Quốc tròn hơn trăng nước Mỹ”* . Mà không thấy được “Những vết bùn trên tận đỉnh chín tầng cao”* [Việt Phương] để có sự thấu đáo và tỉnh táo trong giáo dục và đào tạo con người.
Sai lầm nguy hại nhất là chỉ tập trung vào giáo dục lý tưởng mà lơ là xây đắp cái nền tảng nhân văn trong định hình nhân cách cho thế hệ trẻ để từ đó mà giáo dục lý tưởng. Lý tưởng đương nhiên là quan trọng, song không nên cho rằng lý tưởng của Lý Tử Trọng của thế kỷ XX là cao hơn lý tưởng của Trần Quốc Toản thế kỷ XIII. Và lại càng phải thấy cho rõ phạm trù lý tưởng gắn liền với mục đích và ý nghĩa của cuộc sống con người. Tùy thuộc vào sự nhận thức về mục đích và ý nghĩa cuộc sống của từng người, từng nhóm xã hội mà có sự định hình lý tưởng . Khi Trần Quốc Toản ghi trên lá cờ của mình sáu chữ “Phá cường địch, báo Hoàng ân” thì đó là sự thể hiện lý tưởng trung quân ái quốc của chàng tuổi trẻ quý tộc đời nhà Trần. Đừng nghĩ rằng lý tưởng “trung quân ái quốc” là thấp hơn lý tưởng “trung với nước, hiếu với dân” mà không thấy mỗi giai đoạn lịch sử có những đòi hỏi mang tính đặc thù. Người ta quên rằng “mỗi thời kỳ lịch sử đều có những quy luật riêng của nó…Một khi cuộc sống đã vuợt qua một thời kỳ phát triển nhất định, đã từ giai đoạn này bước sang giai đoạn khác, thì nó cũng bắt đầu bị những quy luật khác chi phối”. Đây là sự phân tích của Các Mác [C.Mác và Ph.Angghen toàn tập. NXBCTQG Tập 23.1993. tr. 34].
Quả thật chân lý vốn đơn giản, nhưng nhận thức cho được sự đơn giản đó hóa ra không đơn giản chút nào. Ông Võ Văn Kiệt đã có lần lập luận về những vấn đề hết sức gay cấn một cách rất dung dị: “Cách mạng tháng 8 năm 45 đánh đổ thực dân phong kiến là chuyện tất yếu phải làm để giành lại độc lập cho đất nước và tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Nhưng rồi theo trớn đó mà chửi phong kiến tùm lum thì vô tình đã chửi cha ông mình chứ còn gì nữa! Thử hỏi các vua Trần cùng Trần Hưng Đạo ba lần đánh tan quân Nguyên, Lê Lợi cùng Nguyễn Trãi diệt quân Minh xâm lược và lên ngôi vua thì đều là “phong kiến” cả chứ gì? Liệu có ai dung túng cho chuyện xúc phạm đến ông cha? Thế mà cứ thoải mái chửi phong kiến thì khoa học cái nỗi gì?”. Chẳng phải chỉ đối với chuyện của tiền nhân, ngay cả chuyện đang diễn ra cũng vậy thôi.
Sẽ quá dài dòng để phải nhắc lại một thời mà chủ nghĩa nhân văn bị phê phán do chịu ảnh hưởng của giáo điều Maoít, chỉ coi trọng “giai cấp tính”, phải đặt vấn đề “nhân tính” trong cái lăng kính giai cấp để chịu sự chi phối của “giai cấp tính”. Hệ lụy của nó thì chắc không phải kể ra đây nữa.
Khi chỉ chuyên chú giáo dục lý tưởng theo định hướng ấy, người ta dễ dàng bỏ qua những phẩm chất “người” trong quan hệ giữa người và người từ trong gia đình, cộng đồng xã hội nhỏ nhất, đến nhà trường, một cộng đồng lớn hơn của tuổi trẻ , và hàng xóm láng giềng “tối lửa tắt đèn có nhau” cho đến cộng đồng lớn là xã hội. Đặc biệt nguy hiểm là khi thần tượng của lý tưởng bị sụp đổ, nếu thiếu một nền tảng nhân văn vững chắc được hun đúc từ tấm bé, niềm tin của con người bị chao đảo, định hướng của hành vi do vậy cũng bị nhiễu loạn, bị xáo trộn.
Sự suy thoái đạo lý xã hội cần tìm về sự chao đảo, xáo trộn này. Những “siêu đám cưới”, “hội chứng lấy chồng ngoại”, những cảnh bạo lực học đường, các clip quay nữ sinh đánh nhau một cách dã man giữa đường phố dưới con mắt bình thản của người chứng kiến, thậm chí còn cổ vũ và tranh thủ quay video…được mọc lên từ môi trường xã hội ấy.
Nhà văn hóa Nguyễn Khắc Viện đã có một khuyến cáo thật đáng suy ngẫm khi bàn về giáo dục và đào tạo con người: “Để cho trẻ sống hoàn toàn đầy đủ thời thơ ấu của nó, sau lớn lên nó sẽ sống đời người lớn một cách hoàn toàn đầy đủ” . “Sống hoàn toàn đầy đủ thời thơ ấu” trên nền tảng của chủ nghĩa nhân văn. Đó sẽ là đảm bảo cho việc “sống đời người lớn một cách hoàn toàn đầy đủ”. Chủ nghĩa nhân văn ấy đang được nâng lên trong bối cảnh của nền văn minh mới, nền văn minh trí tuệ và nền kinh tế tri thức của thế kỷ XXI. Trong nền văn minh đó,“sự thay đổi vĩ đại nhất sẽ là sự thay đổi về tri thức-về hình thức và nội dung, về ý nghĩa của tri thức, về trách nhiệm của tri thức và về những đặc điểm của con người có giáo dục”.
Vậy thì hiện nay, môi trường giáo dục của chúng ta đang như thế nào? Liệu chúng ta có thể “để trẻ sống hoàn toàn đầy đủ thời thơ ấu của nó” trong môi trường chúng ta đang sống không? Nếu xét đến cùng, lý tưởng phải được hình thành, củng cố và phát huy sức mạnh của nó trên nền tảng của chủ nghĩa nhân văn thì chúng ta đang thiếu hụt chính cái nền tảng đó. Thiếu cái nền tảng đó, lý tưởng sẽ thiếu mất tính bền vững và và chiều sâu nhân bản. Sẽ quá dài dòng để phải nhắc lại một thời mà chủ nghĩa nhân văn bị phê phán do chịu ảnh hưởng của giáo điều Maoít, chỉ coi trọng “giai cấp tính”, đặt vấn đề “nhân tính” trong cái lăng kính giai cấp để chịu sự chi phối của “giai cấp tính”. Hệ lụy của nó thì chắc không phải kể ra đây nữa.
Khi chỉ chuyên chú giáo dục lý tưởng, người ta dễ dàng bỏ qua những phẩm chất “người” trong quan hệ giữa người và người từ trong gia đình, cộng đồng xã hội nhỏ nhất, đến nhà trường, một cộng đồng lớn hơn của tuổi trẻ, và hàng xóm láng giềng “tối lửa tắt đèn có nhau” cho đến cộng đồng lớn là xã hội. Đặc biệt nguy hiểm là khi thần tượng của lý tưởng bị sụp đổ, nếu thiếu một nền tảng nhân văn vững chắc được hun đúc từ tấm bé, niềm tin của con người bị chao đảo, định hướng của hành vi do vậy cũng bị nhiễu loạn, bị xáo trộn. Sự suy thoái đạo lý xã hội cần tìm về sự chao đảo, xáo trộn này.
Chỉ xin gợi ra đây đôi dòng về sự xáo trộn đó do thiếu một tầm nhìn văn hóa trong quản lý kinh tế và quản lý xã hội. Chắc nhiều người không để ý đến hai chữ “đại gia” đang là ngôn từ thời thượng. Tệ hại hơn nữa, gắn liền với “đại gia” , là tiền, thật nhiều tiền, nhất là đô la. Đến nỗi báo chí rất hào phóng cho việc lăng xê tên tuổi của một chàng trai vô công rồi nghề sống trên đống tiền của mẹ để có thể thay đổi xoành xoạch kiểu xe ô tô đời mới nhất, xịn nhất có biệt hiệu là “Đô La”. Mùi mẩn hơn nữa là chàng ‘Đô La” lại “đôi lứa xứng đôi” với một nàng “siêu sao” ca nhạc, rồi đứa con của “đôi lứa xứng đôi” ấy cũng được các cây bút có nghề xưng tụng nửa kín nửa hở trên nhiều trang báo!
Và các nhà quản lý văn hóa quên mất rằng, đây là cách cổ vũ cho một lối sốngchạy theo đồng tiền, treo một “tấm gương sống động”, thúc đẩy một thị hiếu dung tục nếu chưa muốn nói là thấp hèn cho giới trẻ. Trong lúc đó, lại ra sức chê trách, dè bỉu, đe dọa, đàn áp và bắt bỏ tù, bị đạp vào mặt những thanh niên, sinh viên có bản lĩnh dám xuống đường biểu thị lòng yêu nước và tinh thần bất khuất quyết không chịu cúi đầu trước những hành động ăn cướp và xâm lược của bọn bành trướng Bắc Kinh. Một nghịch lý đang được đóng dấu và tuyên truyền rộng khắp!
Và rồi, từ cực đoan này lại nhảy sang một cực đoan khác, những biểu tượng “phong kiến” từng bị đào sâu chôn chặc nay hình như lại có sức hấp dẫn nên người ta đua nhau đắt tên bằng những “tước hiệu” tưởng đã vĩnh viễn chôn dưới đất đen: cho sang thì khách sạn phải mang tên là “Hotel Hoàng Đế,” cho quý thì công ty phải là “Công ty Hoàng Gia”, cho oai thì quán ăn thời thượng phải là “Quán Ngự Thiện”, cho giàu sức vẫy gọi thì khu nghỉ mát phải là “Resort Quý Tộc”….
Có thể là nhà quản lý có tầm nhìn bao dung và cởi mở nhằm cất cánh cho những ý tưởng sáng tạo, nhưng cũng có thể người ta bận cho việc kiểm tra tầm soát chặt chẽ những “biểu hiện nguy hiểm” khác như thủ đoạn “diễn biến hòa bình” chẳng hạn, mà tạm buông cho những cực đoan xô bồ kia. Và rồi người ta cũng quên luôn những điều vừa kể là hết sức đối nghịch với những chuẩn mực trong “ý thức hệ” mà họ có sứ mệnh thiêng liêng” là phải giữ vững. Thế đó!
Gợi lên những điều không lấy gì thoải mái, ngược lại, hình như gọi dậy một cảm giác xấu hổ về những hiện tượng đang dày vò lương tâm của chúng ta. C.Mác có nói “Hãy làm cho sự nhục nhã càng thêm nhục nhã bằng cách công bố nó lên”, xin được thay từ nhục nhã bằng từ “xấu hổ” để bớt đi sự gay gắt. Đừng quên rằng chính sự xấu hổ làm cho chúng ta có thêm dũng khí để vượt lên chính mình. Trong “Sáng thế ký ” có chuyện Adam và Eve sau khi ăn trái cấm thì bỗng nhiên phát hiện ra sự trần truồng của mình.Cảm giác xấu hổ xuất hiện. Và cả hai đều bứt chiếc lá vả để che đi bộ phận sinh dục. Chiếc lá vả ấy, theo Franz Werfel, một nhà văn Đức, là “tài liệu văn hóa đầu tiên của loài người! Không là chiếc lá vả đang nằm trên cây, mà là chiếc lá vả được con người sử dụng để biểu thị nhận thức và cảm xúc của mình, là biểu tượng của con người tự ý thức được về mình. Cái cảm giác “biết xấu hổ” là một thuộc tính người.
Chính vì biết xấu hổ khiến chúng ta trở thành người trí thức, mà cũng do vậy khiến cho tâm hồn chúng ta bất an. Thì chính Nguyễn Trãi đã từng đúc kết điều này đấy thôi: “Nhân sinh thức tự đa ưu hoạn”. Nhưng cũng chính vì vậy mà ông trở thành anh hùng dân tộc và là danh nhân văn hóa thế giới. Đôi lúc tôi thầm nghĩ “So với ưu tư và hoạn nạn của con người vĩ đại ấy thì những ưu tư và hoạn nạn chúng ta có thể gặp phải nào có ý nghĩa gì”!
Ông cha ta thật là vĩ đại, không chỉ một Nguyễn Trãi, cách nay cả nghìn năm mà thiền sư Vạn Hạnh đã từng chỉ ra: Thân như điện ảnh hữu toàn vô. Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô. Nhậm vận thịnh suy vô bố úy. Thịnh suy như lộ thảo đầu phô.[Thân người như bóng chớp, có rồi lại không/ Như muôn cây cỏ mùa xuân tươi tốt đến mùa thu khô héo/ Ngẫm và hiểu cái lý của thịnh suy, lòng không sợ hãi/ Vì thịnh suy nối tiếp nhau như khoảng thời gian hạt sương móc trên đầu ngọn cỏ].
Một cái nhìn vượt lên không gian và thời gian. Chẳng những thế, bản lĩnh của ông cha mình thật là kỳ diệu. Cũng một nhà sư khác, thiền sư Quảng Nghiêm cách đây ngót vẫnmột thiên niên kỷ đã dám viết: “Nam nhi tự hữu xung thiên chí . Hưu hướng Như Lai hành xứ hành” [Làm trai phải có chí xung trời thẳm, Việc gì cứ phải lẽo đẽo theo bước chân Như Lai]. Xuất gia đi tu mà lại nói không phải lẽo đẽo lần theo bước chân Phật tổ, hàm ý triết lý “Phật tại tâm”, mỗi người có cách tiếp cận chân lý theo cách riêng của mình, không nhất nhất làm theo người khác thì quả là đã chống giáo điều từ gốc.
Vậy thì, nêu lên những bức xúc đang làm chậm bước phát triển của đất nước, và do đó, trong cái “vòng tròn” lớn đó mà cái “vòng tròn nhỏ” là hệ thống giáo dục và đào tạo của ta đang suy thoái, đang lạc hậu, không hề làm nhụt ý chí của chúng ta. Ngược lại, chúng ta hiểu rằng và tin rằng “Lịch sử cổ xưa và hiện đại cho thấy khả năng kỳ lạ của đất nước này trong việc tìm ra những giải pháp độc đáo cho những vấn đề gặp phải”. Đây là một học giả Pháp nói với chúng ta , ông Eduard De Penguilly.[Kỷ yếu Hội thảo về “Nhà ở, Kiến trúc đô thị và môi trường truyền thống và hiện đại”.] Vấn đề đặt ra là phải dám đối diện với sự thật và sòng phẳng nói lên sự thật đó bất chấp những quy kết tùy tiện và có khi khá tai ác.
Nói lên sự thật vì chúng ta tin vào “khả năng kỳ lạ của đất nước này trong việc tìm ra những giải pháp độc đáo cho những vấn đề gặp phải”. Khả năng đó đang tiềm ẩn trong lòng xã hội, trong sự vận động tự thân của khối quần chúng đang còn câm lặng để giấu kín những khát vọng kiểu Đoàn Văn Vươn.
Và vì chúng ta đều thuộc lớp người xưa nay hiếm cả rồi, nên cũng đừng gay gắt quá, có khi gây tai biến mạch máu não hay nhồi máu cơ tim thì gay nên để kết thúc một cách có hậu, tôi xin kể lại một Câu chuyện thật của thế kỷ 21 để suy nghĩ thêm về cảm xúc con người trong xã hội.
Tại trại xe điện ngầm Thủ Đô Hoa Thịnh Đốn vào buổi sáng tháng giêng lạnh lẽo năm 2007, một người đàn ông đàn liên tục 6 tấu khúc của Bach trên cây đàn vĩ cầm trong 45 phút . Ước chừng hơn 2000 người qua lại trạm xe điện ngầm trong khoảng thời gian đó và hầu hết những người ấy đều trên đường đi làm.
Sau ba phút, một người đàn ông trung niên nhận ra là có người đang chơi nhạc. Ông ta chậm bước và ngừng chân trong vài giây rồi lại hối hả theo thời khắc biểu đã định sẵn. Bốn phút sau, người đàn vĩ cầm nhận được đồng tiền đầu tiên: một phụ nữ vừa đi vừa liệng tiền vô cái nón mà không hề ngừng lại.
Phút thứ sáu: một thanh niên trẻ dựa vào tường và lắng nghe tiếng đàn, sau đó liếc nhìn đồng hồ đeo nơi tay và bước đi. Phút thứ mười: một bé trai khoảng 3 tuổi đứng lại nhưng bị mẹ lôi đi vội vã. Cậu bé trì lại và nhìn người chơi đàn lần nữa. Dù bị mẹ kéo đi, cậu bé vẫn luôn ngoái đầu nhìn. Nhiều đứa bé khác cũng quay đầu nhìn như thế và không cha mẹ nào lại không nhanh chóng kéo con mình đi cả.
Bốn mươi lăm phút đàn không ngừng, chỉ có 6 người thật sự dừng hẳn lại và lắng nghe trong một lúc. Khoảng 20 người cho tiền mà vẫn tiếp tục bước đi. Người chơi đàn nhận được tất cà là 32 đô la.
Sau một giờ, người đàn ông chấm dứt, thôi đàn và không gian trở nên im vắng. Không ai để ý. Không ai vỗ tay khen và cũng chẳng có ai lưu tâm. Nhưng không một ai biết điều này, người chơi đàn vĩ cầm đó là Joshua Bell, một cầm thủ lẫy lừng trên thế giới. Với cây đàn vĩ cầm trị giá trên 3 triệu rưỡi đô la, Joshua Bell đã trình diễn những tấu khúc tuyệt vời mà không ai có thể viết hay hơn đưọc nữa, đàn hay hơn được nữa. Hai ngày trước đây, Joshua Bell đã trình diễn ở Boston, nơi mà giá trung bình là 100 đô la một vé và nhạc viện bán sạch không còn dư một vé nào.
Đây là một câu truyện thật: việc Joshua Bell lặng lẽ chơi đàn tại trạm xe điện ngầm được báo Washington Post sắp xếp để xem cảm xúc con người trong xã hội như thế nào, họ nhận thức và lựa chọn ra sao…
Câu hỏi được đặt ra là tại nơi chốn thông thường trong giờ giấc không thuận lợi cho lắm, liệu chúng ta có nhìn ra được tài năng với bối cảnh không ngờ, và liệu chúng ta có nhận thức được cái đẹp và ngưng lại để thưởng thức nó hay không ?
Có thể kết luận về chuyện này như sau: Nếu chúng ta không có thì giờ ngừng lại một chút để lắng nghe người nghệ sĩ lừng danh trên thế giới đàn những tấu khúc mà không ai có thể viết hay hơn được nữa trên một cây đàn có những âm thanh tuyệt vời nhất thì chúng ta sẽ còn mất mát và bỏ qua bao nhiêu thứ tốt đẹp khác nữa trên cõi đời này.

_________________________________________________________

Advertisements

Posted in Chính trị Việt Nam, Chuyện đất nước, Giáo dục Việt Nam, Việt Nam và thế giới | Tagged: , , | Leave a Comment »

Có nên bỏ… thi đua?

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Ba 30, 2012

Đinh Việt Bình

Tại nhiều quốc gia trên thế giới, không hề thấy phong trào thi đua, không hề thấy khẩu hiệu “Ra sức…”, “Quyết tâm phấn đấu…” nhưng cái gì của họ cũng tốt, trong đó có sản phẩm đại học. Riêng về giáo dục đại học thì ngay cả các nước trong khối ASEAN cũng đã bỏ xa Việt Nam.

Từ lâu, người Việt mình đâu đâu cũng nghe: “Người người thi đua, ngành ngành thi đua”. Và luôn được quán triệt: ” Thi đua là yêu nước, yêu nước phải thi đua”. Phải, muốn có thành tích, thành tựu thì không thể không thi đua. Nhưng mà….

Có thực chất không, là chuyện khác!

Chỉ trong ngành giáo dục, nơi tôi gắn cả cuộc đời, được chứng kiến nhiều phong trào thi đua, như phong trào thi đua Hai tốt – Dạy tốt, Học tốt… Rồi bỗng dưng một ngày đẹp trời cách đây không xa lại được quán triệt: ” Nói không với bệnh thành tích”. Bệnh, đã là bệnh thì…nguy rồi. Nói không là điều rất nên. Nhưng mà đâu lại vào đấy.
Thi đua trong thực tế có thực chất không? Hầu như là không. Sau mỗi năm làm việc, hầu như ai cũng đạt danh hiệu Lao động tiên tiến (trừ mấy người nghỉ ốm, nghỉ đẻ).
Trong số Lao động tiên tiến, người ta chọn ra 10, 15% (chỉ tiêu do cấp trên định) để bầu (giơ tay) Lao động tiên tiến xuất sắc. Thôi thì “bó đũa chọn đũa cái”.
Trong bộ môn, người ta nghiễm nhiên thay nhau làm LĐTTXS. Nhiều thầy, cô không chịu nhận, chỉ xin là LĐTT cho nó…lành. Thế là mấy vị Trưởng, Phó Bộ môn cũng nghiễm nhiên nhận danh hiệu LĐTTXS. Mà có xuất sắc thực chất không, lại là chuyện khác.
Rồi trong số LĐTTXS, lại chọn ra vài phần trăm để tôn vinh, nói cách khác là “dán” danh hiệu Chiến sĩ thi đua.
Không ai bảo ai, mấy cái danh ấy phải để dành cho mấy thầy ban chủ nhiệm khoa vì các vị ấy, ngoài giảng dạy như mình còn phải họp hành nhiều. Khổ thế!
Danh hiệu thi đua, đại thể diễn ra như thế. Rồi tiếp đến mấy danh hiệu cao quí “Nhà giáo Ưu tú”, ” Nhà giáo Nhân dân” cũng rứa. Giới sân khấu nhiều ưu tú, nhiều nhân dân thế, tại sao ta lại chặt chẽ với nhau?

“Chạy” huân chương

Cách nay 10 năm, Khoa X. nơi tôi làm việc chuẩn bị kỷ niệm 40 năm thành lập khoa (2002). Được hỏi, mọi người mới ngớ ra là khoa chưa từng được cái huân chương nào.
Thành tích thì nhiều, 40 năm đào tạo nhiều nghìn cử nhân, nhiều trăm thạc sĩ, nhiều chục tiến sĩ, thế mà… Tại các bậc tiền nhiệm không để ý (?). Thế là…phải xúc tiến.
Hôm kỷ niệm, rình rang rước cái Huân chương Lao động hạng Ba.
Đến lần kỷ niệm 45 năm (2007) có ý kiến phải làm tiếp để có cái Huân chương Lao đông hạng Hai. Đem ra chi bộ, ra khoa bàn, đa số ý kiến nói mệt lắm…, có “cái ấy” để làm gì? Thế là thôi. Ai cũng vui.
Và năm nay, tháng 11 này sẽ kỷ niệm 50 năm. Chưa thấy ai nói làm gì để có huân chương. Một khoa có tuổi nửa thế kỷ, chắc không nhiều trong làng đại học Việt Nam. Thế nhưng ở đây, hình như người ta không mấy thích những thứ mà nhiều người bảo là… hão.

Không thi đua, không danh hiệu liệu có làm sao?

Tôi nhớ tại một hội nghị của nhà trường, có mặt nhiều lãnh đạo cấp trên, thời điểm ấy chưa có phát động nói không với bệnh thành tích. Nhiều tham luận tại hội nghị đề nghị bỏ thi đua, rằng thi đua quá hình thức, hiệu quả thấp. Nếu không nói là cũng có phần…giả dối.
Nhiều tham luận dẫn ra tại nhiều quốc gia trên thế giới, không hề thấy phong trào thi đua, không hề thấy khẩu hiệu “Ra sức…”, “Quyết tâm phấn đấu…” nhưng cái gì của họ cũng tốt, trong đó có sản phẩm đại học. Riêng về giáo dục đại học thì ngay cả các nước trong khối ASEAN cũng đã bỏ xa Việt Nam.
Có lẽ đã đến lúc phải thay đổi. Chất lượng đào tạo của một nhà trường do xã hội đánh giá, đâu phải dựa vào những tấm huân chương. Thầy giỏi phải được đánh giá bởi người học, bởi đa số đồng nghiệp chứ không thể dựa vào vài giờ dự giờ, thao giảng như lâu nay.
Những kiểu làm trên chủ yếu là diễn, không thật, nếu không muốn nói là không ít yếu tố giả dối.

___________________________________________________

Posted in Chính trị Việt Nam, Chuyện xã hội, Chuyện đất nước, Giáo dục Việt Nam, Kinh tế | Tagged: , , | Leave a Comment »

Đề án 332, được hay mất?

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Một 9, 2012

Trong 10 năm qua (từ năm 2000 đến hết 2010), Đề án 322 (sử dụng ngân sách Nhà nước) đã gửi được 4.590 người đi học, trong đó có 2.268 tiến sĩ. Đến nay đã có 3.017 người đã về nước, trong đó có 1.074 tiến sĩ.

Đề án 322 thành công?

Đề án 322 được đánh giá là thành công từ góc độ đánh giá của Nhà nước và những đối tượng thụ hưởng.
Tuy nhiên, còn một hạn chế là có 33 lưu học sinh (chiếm 1,06% số LHS tốt nghiệp) không hoàn thành nhiệm vụ học tập hoặc đã tốt nghiệp về nước, nhưng không trở lại cơ quan cũ công tác như cam kết lúc ban đầu mà không bị bồi thường tiền. Theo một số ý kiến thì điều này phụ thuộc vào lãnh đạo của cơ quan cử họ đi học. Nếu thân thiết với lãnh đạo, họ “ỉm” đi là coi như xong.
Trong khi đó, trong thông báo về tuyển sinh sau đại học bằng ngân sách Nhà nước của Bộ GD-ĐT đã nêu rõ: Người trúng tuyển phải cam kết hoàn thành chương trình đào tạo và trở về phục vụ tại các cơ quan cử đi học như đã cam kết, nếu không hoàn thành chương trình đào tạo hoặc không trở về nước phục vụ sẽ phải bồi hoàn toàn bộ chi phí đào tạo theo đúng quy định của Nhà nước.
Lý do: một số trường hợp vì sức khỏe không đảm bảo nên phải về nước, một số khác bị thôi học vì kết quả học tập không đạt quy định, hoặc có người về nước sau đó không trở lại nước ngoài học tiếp vì lý do cá nhân, một số thì tốt nghiệp về nước nhưng không làm việc cho cơ quan công tác trước đây và cá biệt có người học xong không về nước.
Đối với số lưu học sinh này, Bộ GD-ĐT đã triển khai thực hiện hướng dẫn và thu hồi kinh phí bồi hoàn theo hai hướng xử lý:
1) Trường hợp cán bộ do cơ quan cử đi học được Bộ làm văn bản thông báo cho cơ quan về tổng kinh phí đã cấp cho lưu học sinh và đề nghị cơ quan phối hợp xử lý theo quy trình xét bồi hoàn của Nhà nước và yêu cầu lưu học sinh nộp tiền bồi hoàn ngân sách nhà nước vào tài khoản quy định.
2) Trường hợp sinh viên và người tốt nghiệp chưa có cơ quan công tác, Bộ GD-ĐT họp xét các trường hợp bồi hoàn và có quyết định mức bồi hoàn gửi đến lưu học sinh yêu, cầu thực hiện bồi hoàn theo quy định của pháp luật
Hiện nay trên 50% số lưu học sinh phải bồi hoàn kinh phí đã thực hiện bồi hoàn cho Nhà nước. Theo quy định hiện hành,những người tốt nghiệp về nước nhưng không về cơ quan cũ là thuộc diện phải bồi hoàn kinh phí.
Ông Vang cho rằng quy định này cần sửa đổi cho phù hợp bởi lẽ họ không về cơ quan cũ nhưng chuyển sang cơ quan Nhà nước khác cũng phục vụ Nhà nước.
Tuy nhiên, sau khi tốt nghiệp về nước, lưu học sinh 322 hoàn tất các thủ tục thanh quyết toán với Bộ GD-ĐT và được trả quay về cơ quan cũ làm việc.
Họ làm việc một thời gian, sau đó bỏ cơ quan ra làm riêng hoặc làm cho doanh nghiệp nước ngoài thì trách nhiệm ở đây thuộc cơ quan chủ quản chứ không thể đổ lỗi cho Bộ, bởi vì cơ quan đã cam kết bố trí sử dụng và quản lý lưu học sinh về nước trong công văn cử người dự tuyển học bổng nhà nước.
Để thực hiện nghiêm túc quy định của Chính phủ thì các cơ quan sử dụng lao động phải thực hiện đúng trách nhiệm của mình.
Đây thực sự là một thách thức với cơ quan sử dụng lao động, đòi hỏi họ cần có chính sách hoặc môi trường làm việc hấp dẫn hơn để giữ cán bộ ở lại làm việc.
Trong tương lai, các cơ quan nhà nước cũng sẽ phải cạnh tranh nhau để có cán bộ tốt. Nếu được như vậy thì rõ ràng những người tài giỏi được đào tạo bài bản sẽ có điều kiện làm việc tốt hơn.

Thất vọng sau vinh quy bái tổ?

Sau vinh quy bái tổ, các tiến sĩ theo đề án 332 đứng trước những thách thức khiến nhiều người nản lòng.
Anh Nguyễn Hùng, một giảng viên trường ĐH có lịch sử hơn 50 tuổi đời ở Hà Nội cho biết, sau khi làm xong tiến sĩ theo Đề án 322 ở trường ĐH Paris 6 ở Pháp về, anh có cảm giác “khủng hoảng”.
Đang từ cuộc sống đầy đủ (học bổng cộng với tiền hỗ trợ từ phòng Lab bên ĐH Paris 6), lúc về nước anh nhận mức lương 2,5 triệu/tháng trong 6 tháng đầu do chưa tham gia nhiều hoạt động khác của khoa. Hiện giờ, mức lương của anh là 3,6 triệu đồng/tháng, không thay đổi so với trước lúc đi học.
Thật may, anh mới được duyệt đề tài nghiên cứu khoa học bằng ngân sách nhà nước do trường tạo điều kiện, đó là lý do anh không có ý định bỏ trường ra đi như nhiều bạn bè mình.
Trong số 5 người bạn cùng đi học tiến sĩ theo Đề án 322 cùng anh, có 3 người đã bỏ môi trường đại học vì không chịu đựng được khoản thu nhập ít ỏi cũng như môi trường làm việc.
Một tiến sĩ Toán bật mí: Sở dĩ nhiều tiến sĩ 322 trở về, vẫn bám trụ ở trường đại học vì họ có cơ hội đi làm thêm, đó là dạy cho các chương trình liên kết quốc tế hay trường quốc tế với mức thù lao từ 400 ngàn đến 600 ngàn/giờ.
Mức thu nhập ngoài của họ có thể lên đến 10 triệu đồng/tháng, cộng với tiền lương ở trường, tiền hướng dẫn luận văn…thì cuộc sống cũng khá ổn. Đồng thời, khoa hay trường ĐH vẫn tạo điều kiện cho họ tham gia các đề tài nghiên cứu khoa học.
Tiến sĩ H., đi học bằng học bổng tiến sĩ 322 ngành hoá thực phẩm từ một cơ quan nhà nước, nhưng khi trở về thì cơ quan này giải thể nên được tự do chọn nơi làm việc. Với tâm trạng háo hức, chị quyết định chọn một trường đại học có tiếng ở Hà Nội để mong muốn được cống hiến. Thế nhưng, H. đã thất vọng với cơ chế làm việc và quyết định phải ra đi, làm việc cho một công ty nước ngoài.
Tiến sĩ H. chia sẻ: “Lý do ra đi không hẳn vì mức thu nhập. Tại trường ĐH, mức lương hàng tháng cộng với tiền dạy vượt giờ, tiền hướng dẫn sinh viên, tôi cũng được khoảng 10 triệu đồng/tháng. Đó là một mức thu nhập tốt so với mặt bằng các trường hiện nay. Tuy nhiên, tôi nhận ra rằng, nếu tôi ở trường như thế này mà không được nghiên cứu, tôi sẽ trở thành “thợ dạy” theo đúng nghĩa. Vì cuộc sống như thế là không hạnh phúc, tôi đã nghỉ dạy.”
Chị tâm sự, mặc dù rất muốn đưa ra nhiều cái mới, có ích cho sinh viên nhưng không được chấp nhận. Chẳng hạn muốn cải tiến thư viện cho sinh viên để có nhiều sách tham khảo từ nước ngoài về, hoặc tổ chức cho sinh viên đi thực tế thì bị can ngăn: tự nhiên nghĩ thêm việc để làm gì cho mệt.
Với đề tài nghiên cứu khoa học thì đòi hỏi phải có bài báo đăng ở nước ngoài, trong khi phòng thí nghiệm không chuẩn quốc tế, thù lao cho các thành viên tham gia đề tài quá ít, chẳng hạn như chủ nhiệm đề tài được nhận khoảng 100 ngàn/tháng.
Từ bỏ trường ĐH vì quá thất vọng, tiến sĩ H. cho biết, hoàn toàn không phải vì mức lương, mà môi trường làm việc là cái quan trọng nhất khiến chị ra đi. Hiện nay, làm việc cho công ty nước ngoài, chị học được rất nhiều cái mới, tất cả những sáng kiến được tôn trọng và cổ vũ, mức lương rất tốt nhưng không giàu như nhiều người nghĩ vì phải trừ thuế thu nhập từ 20-30%.

Tỷ lệ thất thoát chấp nhận được?

Dựa trên báo cáo của các cơ quan có người đi học theo đề án 322, ông Nguyễn Xuân Vang cho biết: Hầu hết họ đều trở về cơ quan cũ làm việc, vì thứ nhất là họ đã cam kết mang tính chất pháp lý và thứ hai là họ ý thức được trách nhiệm của mình khi đã hưởng học bổng ngân sách Nhà nước.
Vì vậy, không nên lấy một vài trường hợp cá biệt không trở về cơ quan cũ làm việc để đánh giá cho hàng nghìn lưu học sinh đi học theo Đề án 322.
Nhiều cơ quan cử đi học đã có những chính sách đãi ngộ tốt để thu hút cán bộ của mình về công tác như chế độ thưởng, tăng lương, đề bạt …
Lưu học sinh trước khi đi học đều phải cam kết quay trở về phục vụ cho cơ quan sau khi tốt nghiệp về nước.
Nhiều cơ quan có người cử đi học theo Đề án 322 đều thực hiện tốt chế độ báo cáo Bộ GD-ĐT, và khi có những người đã hưởng học bổng 322 bỏ việc hoặc xin chuyển công tác thì các cơ quan đều gửi công văn báo cáo Bộ GD-ĐT để được cung cấp số liệu về kinh phí đã chi trả cho việc học tập ở nước ngoài
Căn cứ số liệu kinh phí được cung cấp, lưu học sinh thực hiện bồi hoàn kinh phí thì mới được giải quyết các thủ tục cần thiết và cơ quan sử dụng cán bộ có thể cậy nhờ các cơ quan pháp luật can thiệp, nếu họ không bồi hoàn kinh phí.
Những trường hợp không thực hiện đúng cam kết thì đã có quy trình xử lý theo quy định của Pháp luật. Quy trình và cách thức bồi hoàn kinh phí hiện nay thực hiện theo Nghị định số 18/2010/NĐ-CP (năm 2010) của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng công chức; thông tư số 03/2011/TT-BNV (năm 2011) hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định 18/2010/NĐ-CP.
Theo ông Nguyễn Xuân Vang, Đề án 322 là Đề án của Chính phủ chứ không phải là của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Bộ Giáo dục và Đào tạo là cơ quan thay mặt Chính phủ thực thực hiện Đề án này và Đề án 322 chỉ là một trong rất nhiều nguồn học bổng mà cán bộ, công chức được hưởng thông qua Bộ GD-ĐT, hơn nữa số lượng những người bị “xử phạt” có nhiều đến mức phải đưa ra quy định này không? Chúng ta nên nhìn bức tranh toàn cảnh về hiệu quả hiện tại và tương lai lâu dài của Đề án vì đây là đầu tư vào con người chứ không nên nhìn phiến diện vào con số ít ỏi (1%), có thể ví như là “thất thoát” như đã thống kê. Với một Đề án đầu tư vào con người mà thất thoát có 1% thì có thể nói rằng Đề án đã thành công 99%, chưa tính đến những đóng góp và giá trị mang lại cho xã hội trong rất nhiều năm nữa của những người đã hưởng thụ.

(tổng hợp)
___________________________________________________

Posted in Chuyện đất nước, Giáo dục Việt Nam, Kinh tế | Tagged: , , | Leave a Comment »

Sẽ cấm xe máy ở đô thị lớn?

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Bảy 18, 2011

Trước tình hình TNGT như hiện nay, bất kể ai cũng lo lắng. Sau nghị quyết về bắt buộc đội mũ bảo hiểm, Bộ GTVT đang tham mưu cho Chính phủ ra một NQ nữa và chọn điểm nhấn. Theo Bộ trưởng GTVT Hồ Nghĩa Dũng, về lâu dài phải nghĩ tới việc hạn chế xe máy, tiến tới cấm ở những đô thị lớn.

PV: Mới đây tình hình TNGT lại diễn biến khó lường. Chúng ta có nên tập trung vào các chuyên đề mới để quyết liệt thực hiện?

Bộ trưởng GTVT: Trước tình hình TNGT như hiện nay, bất kể ai cũng lo lắng. Bộ GTVT đang tham mưu cho Chính phủ ra một NQ nữa và chọn điểm nhấn. Qua khảo sát, chúng ta có 32 triệu người điều khiển xe máy và tai nạn có đến 70% liên quan đến xe máy, đặc biệt có khoảng 80% trong số này có liên quan tới rượu bia.
Vấn đề hiện nay là cưỡng chế thi hành pháp luật với rượu bia như thế nào và theo tôi việc này còn khó hơn cả đội mũ bảo hiểm. Việc uống rượu, bia đã đi vào sinh hoạt văn hóa cộng đồng, thói quen của người Việt. Giờ đây, phải tạo thói quen mới “đã uống là không cầm lái”.

PV: Dự kiến NQ mới có nội dung chủ yếu gì và khi nào trình lên Chính phủ?

Bộ trưởng GTVT: Bộ GTVT đã trình bước đầu. Luật hiện nay quy định lái xe ô tô không được uống rượu, không được có cồn trong máu, nhưng người điều khiển xe máy thì vẫn cho phép một mức độ nào đó. Bây giờ phải có chiến dịch tuyên truyền mạnh vấn đề này.
Các tổ chức quốc tế cũng khuyến cáo không lạm dụng rượu bia; không được quảng cáo rượu bia, nếu có thì phải kèm theo khuyến cáo về tác hại, cũng giống như thuốc lá; rồi cấm bán rượu bia cho người điều khiển phương tiện, thậm chí chúng tôi đề nghị một số nơi không được kinh doanh rượu bia như: trạm nghỉ, dừng chân. Bên cạnh đó là tăng cường công cụ hỗ trợ, máy móc cho các chiến sĩ CSGT xử lý, các chế tài xử phạt…

PV: Theo khuyến cáo của các chuyên gia giao thông, xe máy luôn là loại phương tiện mất an toàn và nguy cơ tai nạn rất cao. Vậy, Bộ GTVT có tính đến việc đề xuất hạn chế loại phương tiện này?

Bộ trưởng GTVT: Đúng là như vậy, về lâu dài thì phải nghĩ tới việc hạn chế xe máy, tiến tới cấm ở những đô thị lớn. Nhà nước phải nghĩ đến việc phát triển giao thông công cộng như thế nào (đường cho xe bus, xe điện, xe điện ngầm…), phát triển cơ sở hạ tầng như thế nào?
Để làm được điều này đầu tiên phải xây dựng một đề án, có lộ trình. Nếu làm đúng lộ trình này cũng phải mất 10-15 năm. Còn bây giờ, phải có hạ tầng riêng cho xe máy. Ở những nơi có điều kiện, phải có đường phân làn cho xe máy riêng, tránh kiểu giao thông hỗn hợp. Những tuyến đường mới thì phải đầu tư có đường gom cho xe máy đi và người tham gia giao thông phải có thói quen chấp hành đúng làn đường quy định.

PV: Đề án này của Bộ khi nào có thể trình Chính phủ?

Bộ trưởng GTVT: Chúng tôi cố gắng cuối năm nay.

PV: Trong lĩnh vực đảm bảo ATGT, ông thấy mình còn việc gì chưa hoàn thành và có cảm thấy day dứt?

Bộ trưởng GTVT: Chính phủ giao cho Bộ GTVT làm đầu mối nhưng kết quả có thành công hay không lại phụ thuộc vào nhiều bộ, ngành và chính quyền địa phương, trong đó Bộ Công an đóng vai trò rất quan trọng. Cứ khi lực lượng Công an lơi lỏng là không thành công ngay. Thêm vào đó là vấn đề tuyên truyền, cưỡng chế thi hành pháp luật.
Việc ùn tắc giao thông, bên cạnh trách nhiệm của chính quyền địa phương, có trách nhiệm của Bộ GTVT. Tuy vậy, quy hoạch giao thông nằm trong quy hoạch xây dựng, quy hoạch dân cư của cả một thành phố. Vậy nên không chỉ riêng một mình Bộ GTVT làm được, mà phải có giải pháp đồng bộ.

Theo Phùng Sưởng
________________________________________________________

Posted in Chuyện pháp luật, Chuyện đất nước, Giao thông, Giáo dục Việt Nam | Tagged: , , | Leave a Comment »

Kinh doanh bằng sự độc ác

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Bảy 16, 2011

Người sản xuất sử dụng tràn lan phụ gia thực phẩm, nông dân lạm dụng hoá chất bảo vệ thực vật, thuốc tăng trọng, thuốc kích thích tăng trưởng… Tất cả những điều đó đã khiến cho thị trường thực phẩm của ta vô cùng hỗn loạn. Đó là tâm sự của PGS.TS Phan Thị Sửu, giám đốc Trung tâm Kỹ thuật An toàn vệ sinh thực phẩm.

Chúng ta đang tự đầu độc cả giống nòi

Đã có luật về an toàn thực phẩm, công việc của bà chắc đỡ vất vả hơn?

Luật ra rồi, nhưng không phải ai cũng biết. Công việc của chúng tôi còn bận hơn vì phải truyền thông nhiều nữa, để phổ biến kiến thức. Không phải ai cầm quyển luật như thế này cũng đọc được đâu. Vì vậy, mình phải lọc ra những điều thiết yếu nhất về quyền lợi và trách nhiệm để mọi người dễ đọc, dễ nhớ, dễ hiểu.

Tôi cứ nghĩ có luật rồi thì cứ thế mà làm, ai vi phạm thì phạt?

Nhiều cái phạt nhẹ quá không đủ sức răn đe. Ví dụ, trong Nghị định về xử phạt, có những điều như sử dụng chất phụ gia không có trong danh mục mà cũng chỉ bị phạt 7 – 10 triệu đồng thì còn quá nhẹ. Cho nên phải tuyên truyền cho doanh nghiệp để họ có kiến thức về an toàn thực phẩm và có lương tâm để đừng vì lợi nhuận mà bỏ những chất độc hại vào thực phẩm.

Vậy là vẫn phải trông đợi vào lương tâm của nhà sản xuất?

Đó vẫn là hướng chính. Phải tuyên truyền để người sản xuất không nên quá vì lợi nhuận mà quên lợi ích của người tiêu dùng. Có ý kiến cho rằng cần phải giáo dục về cả tâm linh nữa. Tức là phải nghĩ đến luật nhân quả, đừng có độc ác đến mức cho cả những chất độc hại vào thực phẩm.

Ai đời, thịt lợn ôi dùng hóa chất tẩy mùi đi để bán cho người tiêu dùng. Ai đời, trồng luống rau riêng để ăn, còn tưới các hoá chất vào những luống rau khác để bán. Như vậy là không có lương tâm và quá ác độc. Vì thiếu kiến thức và chạy theo lợi nhuận mà người sản xuất thì dùng hoá chất tuỳ tiện, còn người tiêu dùng thì vô tư sử dụng. Chúng ta đang tự đầu độc cả giống nòi của chính mình.

Nhưng với nhà sản xuất, kinh doanh thì lợi nhuận là trên hết?

Điều đó đúng. Nhưng xây dựng uy tín cũng là vì lợi ích lâu dài của chính doanh nghiệp. Những doanh nghiệp làm ăn chân chính luôn phải nghĩ đến sức khoẻ của người tiêu dùng bởi đó cũng là bảo vệ chính quyền lợi, uy tín, thương hiệu của chính họ.

Xử phạt nhiều cũng không ăn thua

Làm công việc này nhiều, chắc bà không dám mua hàng ở các chợ cóc?

Tôi vẫn mua ở chợ cóc, nhưng phải chọn. Ví dụ, thịt lợn thì mua hàng có lẫn mỡ, thịt phải chắc, dẻo, đỏ, nếu thấy thớ to, nhiều nước, siêu nạc thì không mua. Rau cũng chỉ mua những loại có màu sắc tự nhiên, cứng cáp. Không mua loại quá mượt mà, xanh bóng, là những loại được phun thuốc bảo vệ thực vật dạng nhũ dầu chưa đủ thời gian cách ly. Tôi không bao giờ mua các sản phẩm thực phẩm bao gói không có nhãn mác rõ ràng, không có địa chỉ.

Vậy mà họ vẫn bán được những sản phẩm này chứng tỏ vẫn có người mua?

Người mua trở thành người bị hại là tâm lý tham rẻ. Người tiêu dùng chưa biết bảo vệ mình. Đừng chờ lá chắn nào mà phải học tập kiến thức để trở thành người tiêu dùng thông thái, biết lựa chọn thực phẩm an toàn. Ví dụ, mua nước mắm, nên chọn loại trong thành phần chỉ có cá và muối, vì đó là nước mắm truyền thống. Còn nếu thêm nhiều chất bảo quản, hương liệu, màu, chất điều vị, đấy là nước mắm pha công nghiệp. Nếu có kiến thức, người tiêu dùng sẽ biết lựa chọn sản phẩm nào là tốt và khiến doanh nghiệp phải sản xuất ra các loại thực phẩm an toàn hơn, chất lượng hơn.

Như thế là trách nhiệm lại đổ lên đầu người tiêu dùng rồi, vậy vai trò của nhà quản lý đâu, thưa bà?

Nhà quản lý luôn muốn làm tốt chức năng của mình. Doanh nghiệp thì chạy theo lợi nhuận. Người tiêu dùng thì kiến thức về an toàn thực phẩm còn hạn chế. Muốn giải quyết tốt thì trách nhiệm phải ở cả 3 bên. Không chỉ riêng người tiêu dùng hay nhà quản lý phải thực hiện. Người tiêu dùng sẽ trực tiếp chịu hậu quả khi sử dụng thực phẩm không an toàn. Vì thế, tôi muốn nhấn mạnh rằng người tiêu dùng cũng cần có kiến thức về vệ sinh an toàn thực phẩm để bảo vệ chính sức khỏe của bản thân và gia đình mình.

Phải công nhận là người tiêu dùng nước ta liều thật. Ví dụ như món tiết canh, đã bao nhiêu người bị bệnh phải đi cấp cứu như thế mà họ vẫn ăn.

Thực ra nếu làm bảo đảm, con lợn khoẻ mạnh, giết mổ đảm bảo vệ sinh thì ăn cũng không việc gì. Như các nước họ vẫn ăn gỏi cá nhiều lắm, nhưng đó là do môi trường nuôi cá bảo đảm vệ sinh. Còn ở mình điều kiện vệ sinh như thế này, môi trường nuôi trồng, giết mổ như thế, khi bán lại bày bẩn như thế này thì tốt nhất là không nên ăn.

Đấy là do trước đây ta chưa có luật nên họ mới làm bừa bãi thế?

Chưa có luật nhưng cũng có các quy định, nhưng người ta vẫn làm thế. Có nước nào mà lại thấy hình ảnh con lợn sau khi mổ, xẻ đôi ra rồi chở bằng xe máy chạy khắp nơi, trông vừa mất mỹ quan vừa mất vệ sinh. Ở các nước, người ta phải bỏ vào thùng lạnh rồi mới chở đi. Mình cũng xử phạt nhiều nhưng không ăn thua, do ý thức của người dân chưa cao.

Tivi cũng là thủ phạm

Bà nghĩ thế nào về việc dù có tuyên truyền thế nào cũng không thể bằng việc quảng cáo?

Người tiêu dùng hay chọn sản phẩm theo quảng cáo, nhất là trên ti vi, ngày nào cũng xem. Nhiều người bức xúc chuyện quảng cáo lắm. Vì có cáo thổi phồng, nói quá lên giá trị của sản phẩm, người tiêu dùng có cảm giác như đã bị lừa. Hiện cũng đã có quy định về quảng cáo, nếu quảng cáo sai sự thật sẽ bị phạt nhiều lắm. Nhưng họ cũng có nhiều cách để lách luật. Nhà nước cần phải thắt chặt hơn nữa việc quảng cáo các sản phẩm thực phẩm quá mức làm người tiêu dùng hiểu lầm.

theo Nhật Minh (Bee.net.vn)
(đầu đề do chúng tôi đặt)
________________________________________________________

Posted in Chuyện môi trường, Chuyện pháp luật, Chuyện xã hội, Chuyện đất nước, Chuyện đời sống, Giáo dục Việt Nam, Kinh tế | Tagged: , , | Leave a Comment »

Cán bộ dùng bằng giả giữ ghế

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Bảy 7, 2011

Ngoài 96 cán bộ ở huyện An Phú với Thoại Sơn bị phát hiện sử dụng bằng giả, tỉnh An Giang đã phát hiện thêm 44 cán bộ cũng xài bằng cấp ba “lụi”.

Trao đổi với VnExpress.net, ông Lê Việt Khoa – Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy An Giang cho biết qua đợt tổng kiểm tra văn bằng chứng chỉ, cơ quan chức năng ở An Giang không chỉ phát hiện 96 cán bộ ở hai huyện Thoại Sơn và An Phú sử dụng bằng cấp không hợp lệ mà tình trạng này cũng xảy ra đối với cán bộ ở các địa phương khác.

Cụ thể là thị xã Tân Châu có 10 trường hợp, 34 trường hợp ở 2 huyện Tịnh Biên và Tri Tôn. Tuy nhiên, đến thời điểm này chỉ mới có 16 cán bộ, đảng viên ở huyện Thoại Sơn bị kỷ luật.

Còn tại Bạc Liêu, sau khi đường dây mua bán bằng giả bị Công an huyện Hồng Dân phát hiện vào cuối năm 2010, hàng chục cán bộ mua bằng giả để “giữ ghế” bị kỷ luật Đảng với hình thức từ khiển trách cho đến cảnh cáo.

Mới đây 4 bị can liên quan, trong đó có Đỗ Hoàng Em (nguyên Chủ tịch Hội Cựu chiến binh xã Ninh Quới A, huyện Hồng Dân) đã bị Tòa án nhân dân huyện Hồng Dân phạt 2 năm tù về tội “làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”.

Trong vụ án này, nhà chức trách xác định do muốn có bằng cấp 3 (THPT) để bổ sung vào hồ sơ cán bộ công chức nhưng tuổi đã khá lớn, Hoàng Em được hai người mới học lớp hai là Dương Quốc Phong và Nguyễn Thanh Phong ở tỉnh Kiên Giang làm bằng giả bán cho với giá 4,5 triệu đồng.

Sau khi nộp tấm bằng “lụi” cho tổ chức để được “giữ ghế”, Hoàng Em thông tin cho nhiều cán bộ trong huyện rằng ai có nhu cầu làm bằng cấp 3 giả thì chi 10 triệu đồng.

Quá trình điều tra, cơ quan chức năng xác định trong số 43 trường hợp mua bằng giả của Phong, Em… có 29 cán bộ công tác trong huyện Hồng Dân. Những cán bộ này bị kỷ luật khiển trách, cảnh cáo về mặt Đảng nhưng vẫn giữ được “ghế”.

theo Thiên Phước
________________________________________________________________

Posted in Chính trị Việt Nam, chuyện khó tin, Chuyện pháp luật, Chuyện xã hội, Chuyện đất nước, Giáo dục Việt Nam | Tagged: , , | Leave a Comment »

Tạm đình chỉ công tác đối với thiếu úy công an đánh trẻ em “quá tay”

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Sáu 17, 2011

Nhập viện sau khi bị đánh quá tay ở đồn công an

Lấy trộm của cô ruột 3 triệu đồng, em Phát bị đưa lên công an phường. Sau khi trở về, cậu bé đã phải nhập viện với chấn thương ở vùng mông, vành tai.

Tại Bệnh viện Giao thông vận tải Huế, em Ngô Đình Phát (11 tuổi, ở phường Thủy Xuân, thành phố Huế), vẫn chưa thể ngồi được. Bác sĩ Trần Nhân Thao, người trực tiếp điều trị cho Phát cho hay, cậu bị chấn thương phần mềm, sưng tấy, thâm tím ở vùng mông, hai bên đùi, vành tai trái. Hiện chưa thể kết luận chính xác vì bệnh viện mất điện cả ngày nên chưa làm xét nghiệm cho bệnh nhân.
Bà Nguyễn Thị Son, mẹ Phát kể, sáng 15/6, Phát đến nhà cô ruột là bà Ngô Thị Ánh chơi, thấy tiền bỏ trong gối, cháu đã lấy trộm hơn 3 triệu đồng rồi mua chiếc điện thoại giá hơn một triệu, còn lại giấu trong túi quần. Khi cô Ánh báo với công an phường Thủy Xuân, cháu đã khai nhận và trả lại chiếc điện thoại cùng số tiền còn lại cho cô.
“Sau khi từ công an phường về nhà, cháu rên la đau đớn vì mông và hai đùi sưng tấy, thâm tím. Đến 8h tối 15/6 cháu phát sốt, co giật, ôm bụng khóc nên vợ chồng tôi chuyển cháu tới bệnh viện cấp cứu”, ông Ngô Đình Chung, bố Phát kể. Sáng hôm sau, khi nộp đơn tố cáo hành vi công an đánh con trai, công an phường đã đưa cho ông Chung 1,5 triệu đồng để lo thuốc men cho cháu.
Trao đổi với báo chí, trung tá Nguyễn Ánh, Phó trưởng Công an phường Thủy Xuân xác nhận, ông Chung đã nhận là tiền của “anh em công an thăm riêng để hỗ trợ thuốc men cho gia đình”.
“Sau khi bà Ngô Thị Ánh và cán bộ tổ dân phố đưa cháu Phát lên trụ sở công an phường vào chiều 15/6, chúng tôi đã phân công thiếu úy Trần Nguyễn Hồng Quang là cảnh sát khu vực trực tiếp làm việc. Hiện công an thành phố Huế đã yêu cầu thiếu úy Quang giải trình để làm rõ sự việc”, ông Ánh cho hay.

Thiếu úy đánh trẻ em bị đình chỉ công tác

Ngày 17/6, thiếu úy Trần Nguyễn Hồng Quang, công an phường Thủy Xuân (Huế), người đã đánh “quá tay” em Ngô Đình Phát tại trụ sở, đã bị đình chỉ công tác.

Thượng tá Đặng Ngọc Sơn, Trưởng công an thành phố Huế (Thừa Thiên – Huế) cho biết, đã ra lệnh tạm đình chỉ công tác đối với thiếu úy Quang vào hôm nay, yêu cầu viết báo cáo tường thuật toàn bộ sự việc. Công an phường Thủy Xuân đã xuống xin lỗi gia đình cháu Ngô Đình Phát.
“Anh em răn đe, giáo dục cháu Phát vì có hành vi ăn cắp, nhưng trong quá trình làm đã có phần quá tay. Hiện tại chúng tôi đã cho đình chỉ công tác với đồng chí Quang và sẽ kiên quyết làm rõ, xử lý nghiêm”, thượng tá Sơn nói.
Thiếu úy Trần Nguyễn Hồng Quang mới tốt nghiệp đại học và công tác chính thức trong ngành công an 6 tháng nay.

Chiều 17/6, Bệnh viện Giao thông vận tải Huế cho biết, tình trạng sức khỏe của bệnh nhân Ngô Đình Phát có tiến triển tốt, các vết thương của em đã bớt bầm tím.

theo Văn Nguyễn
__________________________________________________________

Posted in Chuyện pháp luật, Chuyện xã hội, Giáo dục Việt Nam | Tagged: , , | Leave a Comment »

Đề án giáo dục tốn kém hay là chuyện đẻ ngược

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Sáu 9, 2011

Đề án “Đổi mới Chương trình, Sách giáo khoa Giáo dục Phổ thông sau năm 2015” của Bộ GD-ĐT với khoản kinh phí 70.000 tỷ đồng (khoảng 3, 5 tỷ đô la) đang thu hút sự chú ý của dư luận. Liệu đề án này có giúp gì cho việc cải thiện nền giáo dục của nước nhà hay không?

70 nghìn tỷ đồng và một bản nháp vội vàng

Dự thảo đề án Đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông sau năm 2015 (gồm 32 trang mà Liên hiệp các Hội Khoa học Kỹ thuật Việt Nam nhận được từ Bộ GD&ĐT), đề xuất tiến hành đồng thời việc xây dựng chương trình từ tiểu học đến THPT, xây dựng chương trình các môn học và hoạt động giáo dục từ lớp 1 đến lớp 12. Việc biên soạn sách giáo khoa (SGK) cũng tiến hành theo phương thức tương tự.
Việc thử nghiệm dự kiến bắt đầu từ năm học 2015 – 2016, cũng theo phương thức tiến hành đồng thời cả ba cấp học, một hoặc hai lớp học trong từng cấp học. Chỉ thử nghiệm nội dung mới, khó của chương trình, SGK tại một số địa phương đại diện cho các vùng miền và những nơi tình nguyện tham gia.
Việc triển khai chính thức sẽ bắt đầu ngay sau khi thử nghiệm được hai năm, từ năm học 2017 – 2018 tiến hành đồng thời ba cấp học. Tuy nhiên, Bộ GD&ĐT sẽ không yêu cầu triển khai đại trà như từng làm mà nơi nào có đủ điều kiện tối thiểu (giáo viên, cơ sở vật chất, thiết bị…) triển khai trước, nơi nào chưa đủ điều kiện thì lập kế hoạch và có lộ trình phấn đấu đủ mới thực hiện. Dự kiến năm 2022 là thời điểm triển khai đại trà đến lớp học cuối cùng.
Nhiều chuyên gia cho rằng, dự thảo mà họ tiếp cận tuy đã là phiên bản 12 nhưng nội dung soạn thảo sơ sài, thể hiện rõ sự chuẩn bị thiếu kỹ lưỡng. Điều này đặc biệt thể hiện rõ ở động thái tung ra con số 70 nghìn tỷ đồng.
“70 nghìn tỷ đồng tương đương 3,5 tỷ USD. Để được đầu tư một khoản tiền khổng lồ như thế cần có một chồng hồ sơ dày cộp và phải thuyết trình trước Quốc hội chứ không chỉ nói khơi khơi trong hơn 30 trang bản thảo A4”, một học giả nói.
Theo nhiều học giả, dự thảo đề án họ được tiếp cận là phiên bản 12 do Bộ GD&ĐT gửi đến Liên hiệp Các hội Khoa học Kỹ thuật Việt Nam đầu tháng 5 để lấy ý kiến đóng góp. Ngày 1-6, Liên hiệp Các hội Khoa học Kỹ thuật Việt Nam tổ chức hội thảo góp ý dự thảo đề án. Ngoài đại diện các cơ quan hữu quan của Bộ GD&ĐT, 10 chuyên gia có mặt tại hội thảo đều bày tỏ thái độ không đồng tình với quy trình thực hiện cũng như nội dung đề án.

Sinh con rồi mới sinh cha?

GS Chu Hảo (nguyên Thứ trưởng Bộ Kh&CN) nhận xét: “Chương trình, SGK hiện hành thực hiện từ năm 2002 đến nay chưa được tổng kết, nghĩa là khiếm khuyết của chương trình trước chưa được phân tích, mổ xẻ một cách đầy đủ mà đã làm cái mới. Chính vì vậy mà nội dung đề án không cụ thể, không rõ ràng.
Theo GS Chu Hảo, người được mời tham dự buổi góp ý kiến cho Đề án “Đổi mới Chương trình, Sách giáo khoa Giáo dục Phổ thông sau năm 2015” của Bộ Giáo dục, do Liên hiệp các Hội KH&KT VN tổ chức ngày 1 tháng 6 vừa qua, ông cũng như GS Văn Như Cương, đều ngạc nhiên về con số dự toán kinh phí khổng lồ của Đề án. “Càng ngẫm tôi lại càng băn khoăn, e rằng cách làm không bình thường này lại có vẻ như thông thường của Bộ Giáo dục Đào tạo (GD&ĐT), rằng sự dễ dãi trong sử dụng tiền thuế của nhân dân, sự thiếu minh bạch về tài chính vẫn tiếp diễn… “ – ông nói.
Thực ra, đây mới là Dự thảo lần thứ 12 của đề án, nó sẽ còn được góp ý kiến nhiều. Được biết, Dự thảo “Chiến lược phát triển Giáo dục giai đoạn 2008 (rồi lần lượt lùi sang 2009, 2009, 2010, 2011… ) – 2020 đã làm Dự thảo đến lần thứ 14 mà vẫn chưa có hồi kết thúc! Vả lại, Đề án trên 3 tỷ rưỡi USD này chắc chắn phải thông qua Quốc hội theo luật định; mà toàn dân đang mong muốn Quốc hội khoá này sẽ mạnh mẽ hơn khoá trước, khoá đã dám nói “Không!” với Dự án “Đường sắt cao tốc”.
Cũng theo ông Chu Hảo, dự thảo được soạn thảo theo một quy trình ngược như vẫn thường nói trong dân gian: Sinh con rồi mới sinh cha/ Sinh cháu quét nhà rồi mới sinh ông. Nhóm soạn thảo khẳng định là Đề án được khởi thảo xuất phát từ yêu cầu được ghi trong Văn kiện ĐH XI của Đảng: “Đổi mới mạnh mẽ nội dung, chương trình, phương pháp dạy và học ở tất cả các cấp, các bậc học. Tích cực chuẩn bị để từ sau năm 2015 thực hiện chương trình giáo dục phổ thông mới”.
Nhưng đáng tiếc là nhóm soạn thảo lại không được lãnh đạo ngành giáo dục chỉ đạo thực hiện yêu cầu ở tầm vĩ mô, quan trọng hơn yêu cầu nói trên nhiều, cũng ở trong văn kiện đó, là: “Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hóa, dân chủ hoá và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản ký là khâu then chốt”.

“Chưa có đề án “Đổi mới căn bản và toàn diện nền Giáo dục Việt Nam”, chưa có “Chiến lược Phát triển Giáo dục giai đoạn 2011- 2020” thì làm sao đã có cơ sở định hướng cho những đề án nhỏ như về Chương trình và Sách giáo khoa cấp phổ thông sau năm 2015 này?” – ông này băn khoăn.

Đề án chắp vá và không có gì mới?

Cũng theo ý kiến của ông Chu Hảo, nếu lãnh đạo ngành Giáo dục dám nhìn thẳng vào sự thật, thừa nhận tình trạng khủng hoảng giáo dục như ý kiến của các nhà khoa học và toàn xã hội lên tiếng từ hàng chục năm nay thì việc cấp thiết hơn cả là phải tiến hành soạn thảo Đề án Cải cách toàn diện và triệt để nền giáo dục nước nhà, chứ không phải là tiếp tục thực hiện các đề án đổi mới chắp vá, thiếu nhất quán, thiếu đồng bộ và tốn kém như trong nhiều năm qua.”

Dự thảo Đề án lần này không được chuẩn bị kỹ như Đề án năm 2002. Các đề mục vẫn “kinh điển” như vậy, nhưng sơ sài, nhiều các “khẩu hiệu” mang tính mục tiêu mà ít kế hoạch hành động cụ thể. Vẫn rất thiếu các nội dung liên quan đến hệ thống dạy nghề và định hướng phân luồng sau trung học cơ sở. Không có đề xuất gì mới và cụ thể về việc đổi mới hệ thống bằng cấp và chế độ thi cử hết sức lỗi thới và nặng nề như hiện nay…

Đặc biệt là , đề án không xác định một chương trình nghiên cứu khoa học nghiêm chỉnh nào làm cơ sở lý luận và thực tiễn cho Đề án ở khâu đầu tiên và cũng không có kế hoạch rõ ràng cho công tác chuẩn bị triển khai Chương trình và làm lại Sách giáo khoa ở khâu cuối cùng.

Ngay cả dự toán kinh phí cũng được coi là hoàn toàn không có cơ sở, không theo chuẩn mực nào và quá lớn.

Công khái các ý kiến phản biện?

Lãnh đạo Liên hiệp các Hội KH&KT VN đã có công văn tổng hợp ý kiến các nhà khoa học được mời tham gia hội thảo gửi cho Bộ Giáo dục. Ý kiến ở buổi góp ý rất cởi mở, thẳng thắn, phong phú và khá tập trung.
Tuy nhiên, của các nhà khoa học thuộc Liên hiệp các Hội KH&KT VN, lại chưa được công bố rộng rãi trong xã hội..
Ý kiến của hầu hết chuyên gia mà PV Tiền Phong phỏng vấn đều cho rằng, ngoài quy trình ngược, dự thảo đề án còn thiếu cớ hợp lý để xuất hiện.
Trao đổi với PV Tiền Phong, một lãnh đạo Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam (cơ quan được lãnh đạo Bộ GD&ĐT giao nhiệm vụ chắp bút soạn thảo đề án) cho biết, dự thảo đề án vẫn trong quá trình nghiên cứu và xây dựng, chưa đến lúc thông báo với dư luận xã hội. Những việc Viện này đang tiến hành là xin ý kiến lãnh đạo Bộ GD&ĐT, đồng thời trưng cầu ý kiến một vài đơn vị, địa phương, tổ chức.
“Trong quá trình triển khai các bước tiếp theo, chúng tôi sẽ tiếp tục hoàn thiện dự thảo để tiếp tục xin ý kiến diện rộng hơn nữa, cuối cùng là đưa lên mạng của Bộ GD&ĐT xin ý kiến dư luận xã hội trước khi trình lên các cấp cao hơn”, vị lãnh đạo này nói. Về “quy trình ngược” mà một số học giả nêu ra, vị lãnh đạo này nói: “Có những điều chúng tôi chưa thể nói vào thời điểm này. Khi nào có điều kiện chúng tôi sẽ giải thích với dư luận xã hội”.
GS.VS Đặng Vũ Minh, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học Kỹ thuật Việt Nam nói: “Tôi nghĩ rằng những phản biện có tính khoa học của LHH đăng công khai sẽ có lợi vì qua đó nhận được thêm nhiều ý kiến đóng góp của công chúng. Từ khi tôi về đây – và chắc là từ trước tới giờ cũng thế – tôi thấy những kết luận phản biện của LHH chưa có gì là không công khai cả. Vì thế, kết quả phản biện về đề án “Đổi mới Chương trình, Sách giáo khoa Giáo dục Phổ thông sau năm 2015” chắc là càng không có vấn đề gì để LHH không công khai.

Dùng 3 tỷ rưỡi đô la vào việc gì?

Theo đánh giá của ông Vũ Đình Chuẩn, việc đổi mới chương trình và SGK ở nước ta đặt ra vào thời điểm này để thực hiện vào năm 2017 là phù hợp với xu hướng và kinh nghiệm chung của thế giới, đồng thời đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực với các phẩm chất và năng lực phù hợp với giai đoạn phát triển mới của đất nước. Bên cạnh đó, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đặt ra nhiệm vụ phải đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục. Để thực hiện được nhiệm vụ ấy, chúng ta đang xây dựng Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011 – 2020. Việc đổi mới chương trình và SGK là một trong những nội dung quan trọng trong chiến lược đó.
Ông Chuẩn cho biết, không phải tất cả số tiền 70.000 tỷ đồng đều được chi cho việc biên soạn chương trình – SGK. Kinh phí dự kiến dành cho việc biên soạn chương trình – SGK chỉ chiếm chưa đầy 1/70 tổng dự toán, tức là khoảng hơn 960 tỷ đồng. Số tiền còn lại chi cho các công việc khác như xây dựng cơ sở vật chất trường học khoảng 35.000 tỷ đồng (chiếm 1/2 tổng dự toán); mua sắm thiết bị, đồ dùng dạy học 30.000 tỷ đồng; đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, cán bộ quản lý hơn 390 tỷ đồng… Với nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước gấp nhiều lần mức quy định và lại là công trình quan trọng quốc gia, đề án sẽ được bàn thảo tại kỳ họp Quốc hội và chắc chắn phải tuân thủ theo đúng các quy định về tài chính. Tuy nhiên, đây mới chỉ là mức khái toán, các thành viên Ban soạn thảo sẽ còn tiếp tục tính toán chi tiết và xây dựng lộ trình đầu tư phù hợp.

Bộ GD-ĐT được Chính phủ giao nhiệm vụ nghiên cứu và xây dựng Đề án đổi mới chương trình – SGK phổ thông để có thể triển khai vào năm 2017. Hiện nay, đề án đang trong giai đoạn nghiên cứu xây dựng. Để hoàn thiện đề án, Ban soạn thảo sẽ tiếp tục xin ý kiến của các nhà khoa học, các bộ, ngành và cả dư luận xã hội trước khi trình các cấp có thẩm quyền phê duyệt.

(tổng hợp)
______________________________________________________________

Posted in Chuyện đất nước, Giáo dục Việt Nam | Tagged: , , | Leave a Comment »

Giáo dục ngoài công lập: Học phí bao nhiêu?

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Sáu 1, 2011

Kết thúc năm học 2010 – 2011, rất nhiều trường phổ thông, tiểu học, mầm non ngoài công lập đã thông báo mức học phí của năm học tới cho phụ huynh học sinh. Mức học phí mới luôn luôn cao hơn năm học cũ.

“Không ai kiểm soát mức học phí

Trường mầm non tư thục Bees’ Daycare gửi thông báo cho phụ huynh học sinh từ tháng 6 sẽ tăng tiền học phí từ 1.875.000đ/tháng lên 2.200.000đ/tháng. Trường tiểu học Nguyễn Siêu dự kiến mức thu học phí của năm học tới (áp dụng với học sinh mới) là 200USD/tháng, lệ phí nhập học nộp một lần cho tất cả các cấp học là 100USD, quỹ hỗ trợ phát triển nhà trường là 70USD/năm, tiền ăn: 35.000đ/ngày. Trường tiểu học quốc tế Thăng Long Hà Nội cũng đã thông báo công khai các khoản thu năm học tới đối với học sinh tuyển mới. Theo đó, tính cả học phí, tiền ăn bán trú, phí chăm sóc bán trú là hơn 3.600.000đ, riêng tiền ăn là 35.000đ/ngày.
Trường tiểu học dân lập Đoàn Thị Điểm đã gửi thông báo mức học phí của năm học 2011 – 2012 cho phụ huynh học sinh. Theo đó, lớp quốc tế 2.600.000đ/tháng, nếu học chương trình tiếng Anh Cambridge thì dao động từ 150USD – 200USD/tháng tùy theo khối lớp. Đối với lớp dịch vụ giáo dục cao, học phí của khối 2 là 2.200.000đ/tháng + 200.000đ học 2 tiết tiếng Anh/tuần theo chương trình quốc tế; khối 3, 4 là 1.900.000đ/tháng; khối 5 là 1.200.000đ/tháng và thêm 300.000đ để học môn Toán và Khoa học bằng tiếng Anh. Đó là chưa kể đến tiền bán trú 800.000đ/tháng, ăn sáng 400.000đ/tháng, ô tô đưa đón học sinh 600.000 – 700.000đ/tháng và các khoản khác như tham quan dã ngoại, đồng phục… Riêng từ khối 2 trở lên, phụ huynh phải đóng góp thêm tiền hỗ trợ cơ sở vật chất từ 500.000đ đến 1 triệu đồng/năm.

Tương tự như vậy, phụ huynh Trường tiểu học dân lập Lê Quý Đôn cũng đã nhận được thông báo về học phí năm học mới của trường là 2.200.000đ/tháng, bán trú 1.000.000đ/tháng, tiền ôtô đưa đón từ 1.100.000đ – 1.600.000đ/tháng tùy vào điểm đón tại bến hay tại nhà. Ngoài ra, phụ huynh còn phải đóng Quỹ đầu tư và phát triển nhà trường 2.000.000đ/năm, tham quan dã ngoại 300.000đ/năm, Quỹ khuyến học 200.000đ/năm, Quỹ hoạt động Sao – Đội 100.000đ/năm, chưa kể các khoản thu khác như đồng phục, gửi muộn, học năng khiếu…

Hầu hết lý do các trường đưa ra về việc mức học phí tăng này đều là “do trượt giá”.

Phụ huynh không được hỏi ý kiến

Chị Hoàng Hà, phụ huynh học sinh Trường tiểu học Đoàn Thị Điểm cho biết, năm học trước mỗi tháng chị đóng 3,1 triệu đồng tiền học phí, bán trú và ăn sáng cho con gái, năm nay mức đóng tăng lên 3,6 triệu, nhà trường lại yêu cầu phải đóng 3 tháng/lần nên khoản đóng góp của gia đình mỗi kỳ là không hề nhỏ. Tuy nhiên, vấn đề khiến chị bức xúc nhiều hơn, đó là mỗi lần tăng học phí, nhà trường không hề họp lấy ý kiến phụ huynh.

Chị cho biết: “Nhà trường nói, thể theo yêu cầu của đông đảo phụ huynh nhưng tôi và rất nhiều phụ huynh đều không hề được hỏi ý kiến. Tìm hiểu ra, tôi được biết là nhà trường chỉ trao đổi với đại diện trong Ban phụ huynh trường và Ban phụ huynh trường trao đổi với ban phụ huynh từng lớp. Ban phụ huynh từng lớp cũng không thông báo đến tất cả phụ huynh. Tại sao trước một vấn đề lớn như tăng học phí, trường lại không thể tổ chức một cuộc họp phụ huynh toàn trường?”

Giống như chị Hà, chị Hoàng Phương có con học tại Trường THDL Lê Quý Đôn cho biết: “Trong buổi họp phụ huynh cuối năm, chúng tôi nhận được giấy thông báo mức học phí nộp trong năm học tới chứ không phải là phiếu lấy ý kiến về việc tăng học phí. Không riêng tôi mà có nhiều phụ huynh khác thắc mắc vì sao chúng tôi không được lấy ý kiến mà chỉ được thông báo mức phí phải nộp. Tất nhiên, trước thời buổi trượt giá, việc trường tăng học phí cũng có thể hiểu được nhưng nếu như trường thực hiện việc lấy thêm ý kiến của phụ huynh trước khi đưa ra văn bản đóng tiền thì các vị phụ huynh sẽ cảm thấy được tôn trọng hơn và chắc rằng sẽ vui vẻ nộp học phí chứ không phải vừa nộp học phí, vừa ấm ức như hiện nay”.

Khối các trường ngoài công lập không nằm trong phạm vi điều chỉnh học phí của UBND TP và Sở GDĐT. Các trường tự hạch toán kinh doanh và đưa ra mức thu dựa trên thỏa thuận với phụ huynh học sinh. Tuy nhiên, nhiều phụ huynh cho biết, họ sẵn sàng đóng học phí cao hơn các trường công lập để con em họ có điều kiện học tập tốt hơn nhưng không có nghĩa là cứ vào học rồi thì nhà trường được quyền tự ý tăng học phí vô tội vạ.
Nhiều phụ huynh kiến nghị đã đến lúc các cơ quan quản lý giáo dục phải có các quy định và hướng dẫn cũng như giám sát cụ thể hơn đối với khối trường ngoài công lập này.

theo Bạch Dương
_____________________________________________________

Posted in Chuyện pháp luật, Chuyện xã hội, Chuyện đất nước, Giáo dục Việt Nam, Kinh tế | Tagged: , , | Leave a Comment »

Xã hội đang quay lưng lại với văn chương?

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Năm 29, 2011

– Năm nay, chưa đến 5% số hồ sơ đăng ký dự thi đại học khối C. Điều đó cho thấy sự báo động đỏ về mất cân bằng trong xã hội. KH&ĐS đã có cuộc trao đổi với GS Phong Lê, nguyên viện trưởng Viện Văn học về vấn đề này.

Ngộ độc bởi không khí kiếm tiền

Ông nghĩ gì trước việc khối C bị quay lưng lại như thế?

Trước hết là buồn. Buồn vì sự xuống cấp của giáo dục và văn hóa. Chỉ nói riêng với môn văn thôi, việc dạy và học trong nhà trường từ lâu rồi đã gây nhiều băn khoăn, lo lắng. Học thì căng thẳng mà hiệu quả thì thấp. Tất cả chỉ lo đối phó với thi cử. Sách giáo khoa thì nặng vô cùng và không chọn những cái đích đáng, cập nhật, không hướng vào giáo dục thẩm mỹ và các giá trị văn chương đích thực. Học văn rất ít hứng thú.

Không riêng gì phổ thông mà đại học cũng thế. Và một khi xã hội quay lưng lại với văn chương nghệ thuật thì tức là cái nền móng văn hóa và đạo đức của nó bị rệu rã. Điều đó cho thấy sự mất cân bằng trong xã hội. Một xã hội lành mạnh (chưa cần phải phát triển cao) là một xã hội cân đối giữa vật chất và tinh thần, giữa kinh tế và văn hóa. Một xã hội như thế sẽ tạo điều kiện cho mỗi người được làm theo nguyện vọng của mình.

Nhưng nếu nguyện vọng của nhiều người hiện nay là kiếm được nhiều tiền?

Sự không bình thường là ở chỗ đó. Chúng ta đang phải sống trong môi trường nhiễm độc bởi không khí kiếm tiền, làm giàu và tiêu tiền… Khi mà một vé xem ca nhạc là 4 triệu đồng, bằng 1 tháng lương hưu của một giáo sư đại học. Đó là sự bất công, là nghịch lý đến khó hiểu. Với một xã hội như thế tất yếu sẽ tạo nên tâm lý phải đi kiếm tiền. Vào tài chính, ngân hàng thì lương 10 – 20 triệu đồng/tháng, còn vào sư phạm với lương 2 – 3 triệu đồng mà xin việc lại khó thì tất nhiên ai muốn vào. Điều đó tạo ra trong xã hội tâm lý không bình thường chút nào và nó hủy hoại tất cả những ước muốn lành mạnh và trong sáng.

Nhưng đó là tất yếu của kinh tế thị trường?

Kinh tế thị trường phải trải qua những cái đó. Tất nhiên, không thể coi nhẹ đồng tiền. Đồng tiền là phương tiện để phát triển xã hội. Không ai lại không khuyến khích kiếm tiền lương thiện. Phải có tiền thì xã hội mới giàu có. Nhưng nếu biến nó thành mục đích cho từng cá thể thì sẽ gây tội ác vì người ta phải kiếm tiền bằng mọi giá.

Nếu là tất yếu thì tức là ta buộc phải chấp nhận?

Kinh tế thị trường sẽ đưa đến như thế nhưng phải có cách kiềm chế chứ nếu buông thả, nó sẽ như con ngựa bất kham. Chính do nền tảng tinh thần và văn hoá không lành mạnh mới tạo ra như thế. Sự quay lưng lại với khối C cũng là cái hỏng của giáo dục, chứ không phải tự nhiên mà thế. Muốn người ta vào những ngành này, anh phải có các chính sách, chế độ, cách khuyến khích về lương, học bổng, điều kiện làm việc… thì mới cân bằng được. Cân bằng rồi con người mới trở lại với cái khả năng của người ta. Về sâu xa là phải có điều tiết vĩ mô. Phải có một chiến lược, có tầm đón xa cho sự phát triển.

Bà mẹ không bị sức ép về kinh tế

Còn trong mỗi gia đình, chúng ta có thể làm được gì?

Trong gia đình tôi, con cháu thích cái gì, chỉ cần nó bộc lộ khuynh hướng thôi là mình cho nó theo cái đó ngay. Đứa trẻ có ao ước là đứa trẻ tốt. Đi học là phải yêu thích chứ không phải bị thúc ép. Vẫn có nhiều gia đình có học và quan niệm không phải sống cho sướng mà là sống cho tốt. Họ luôn tạo điều kiện cho con cái được làm cái mà chúng muốn mà không hề bị áp lực bởi việc kiếm tiền.

Tôi biết một em học sinh giỏi văn, yêu văn, hiện đang học chuyên văn trường Amsterdam. Mẹ em thì muốn em thi sư phạm, nhưng em đó lại quyết định thi kinh tế.

Tôi rất cảm kích về bà mẹ đó. Bà mẹ không bị sức ép về kinh tế, buộc con mình sau này phải làm việc này việc kia để thoát nghèo. Con thích văn, cho học văn, nhưng khi con đổi hướng, thì vẫn tôn trọng quyết định của nó.

Vấn đề là ở chỗ em ấy thích văn, nhưng không theo nghề văn, mà thi kinh tế để có một công việc khác tốt hơn.

Cô bé này, có thể vì thấy xung quanh người ta chăm lo kiếm tiền nhiều quá nên muốn theo một nghề như thế. Trong hoàn cảnh này thì cũng phải tôn trọng em. Nếu có thể theo một ngành khác mà vẫn nuôi nguyện vọng làm văn chương thì hoàn toàn tốt. Tất nhiên vẫn có những em rất có bản lĩnh, tin vào bản lĩnh thì có khó đến mấy, khổ đến mấy em ấy cũng theo.

Nhưng tôi vẫn thấy tiếc, vì nếu theo nghề văn em ấy có thể phát triển năng lực của mình tốt hơn.

Không có gì phải tiếc. Tư duy về văn chương là tư duy về hình tượng, nhạy cảm, có thể diễn đạt mọi thứ một cách rất nhạy cảm. Được như thế thì làm bất cứ công việc gì cũng vẫn hay hơn những người không có năng lực này. Nhiều người vẫn có thể làm một nghề khác mà vẫn viết văn chương giỏi.

Nhiều cái lạ, nhưng chưa mới

Nhưng dường như chính vì không được đi đến cùng đam mê nên ngày nay ta thiếu vắng những nhà văn giỏi?

Có thể đào tạo một cô giáo dạy văn, một giáo sư về văn chương nhưng không đào tạo được nhà văn, nhà thơ. Cái đó là thiên bẩm và do trường đời dạy.

Thời nào cũng có những nhà văn giỏi. Nhưng nhà văn trẻ bây giờ khác trước vì họ cố đi tìm sự khác nhau. Trước kia các nhà văn lớn tôn trọng nhau, tạo ra một từ trường chung: Nam Cao – Vũ Trọng Phụng tạo ra một từ trường văn học hiện thực, Nhất Linh- Khái Hưng là Tự lực văn đoàn. Bây giờ nhà văn trẻ ai cũng đi tìm cái lạ, vì xã hội khuyến khích cái đó. Năng lực thì cũng có nhưng hăm hở đi tìm cái lạ nhiều quá, ít đi tìm cái đồng cảm chung nên không thể tạo được vang hưởng trong công chúng. Vì thế, không tạo thành phong cách, trường phái, chỉ làm cho cái dòng chảy đã có cồn lên rồi đâu lại trở lại đấy, chứ không tạo nên dòng chảy mới. Tình hình văn học từ năm 1995 đến nay chưa tạo được cái gì mới, mặc dù có nhiều cái lạ.

Ông có thấy mình may mắn vì được làm và thành công trong lĩnh vực mà mình say mê?

Hồi bé tôi đã mê văn, nhất định phải theo ngành này, chứ không vào Bách khoa hay Y dược. Cũng không nghĩ sau khi ra trường thì sẽ làm gì, chỉ biết mình sẽ là người viết văn, như những nhà văn mà mình yêu thích… Chứ không nghĩ phải có chức này, chức kia hoặc tiền lương phải thế này, thế khác. Đúng là mình cũng may mắn thật, vì vừa ra trường là được nhận luôn về Viện Văn học, được làm việc với các nhà văn lớn như Đặng Thai Mai, Hoài Thanh…

Xin cảm ơn ông về buổi trò chuyện này!

[GS Phong Lê tên thật là Lê Phong Sừ, sinh năm 1938 tại Hà Tĩnh. Sau khi tốt nghiệp khoa Ngữ văn, Đại học Tổng hợp Hà Nội khoá đầu tiên năm 1959, ông về công tác tại Viện Văn học. GS Phong Lê là nhà nghiên cứu, phê bình văn học hiện đại, nguyên viện trưởng Viện Văn học. Ông được nhận Giải thưởng Nhà nước về Khoa học và Công nghệ năm 2005.]

Nhật Minh (Thực hiện)
(đầu đề do chúng tôi đặt)
_______________________________________________________________

Posted in Chuyện xã hội, Chuyện đất nước, Giáo dục Việt Nam, Kinh tế, Văn học | Tagged: , , | Leave a Comment »