NGÔN NGỮ & VĂN HÓA

CHÚC MỪNG NĂM MỚI

Archive for the ‘Chuyện lễ hội’ Category

Giải mã kiệu quay kỳ bí

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Ba 13, 2010

Đức Lợi

Lễ hội đón Thành hoàng làng ở Hà Trì, Hà Đông (Hà Nội) đã có hàng trăm năm nay. Người dân nơi đây truyền miệng rằng khi rước kiệu không đi theo ý người khênh, mà như có một sức mạnh nào đó điều khiển, lúc nặng lúc nhẹ, lúc như kiệu quay đi tứ tung và nhấc bổng mọi người lên… không thể lý giải nổi. Những giải đáp của các nhà khoa học trong bài viết này sẽ giúp bạn đọc có cái nhìn khách quan về hiện tượng này.

Cứ rước cụ về là kiệu quay

Lễ hội truyền thống làng Hà Trì được tổ chức từ 3 – 5 năm một lần (14, 15 và 16 tháng Giêng). Tại cụm di tích lịch sử (đình, chùa, miếu) của làng Hà Trì, đã được Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa – Thể thao & Du lịch) xếp hạng năm 1993.

Theo sử sách ghi lại Đô Hồ đại vương đã có nhiều công trạng trong việc đánh giặc giữ nước từ thời Trần Dụ Tông, Giản Định, đặc biệt phò tá Lê Lợi đánh tan quân Minh xâm lược đưa đất nước vào kỷ nguyên mới.

[“Hiện tượng thăng hoa cao độ của con người”

Đó là khẳng định của GS.TS Nguyễn Văn Trị, Viện Vật lý Kỹ thuật, Đại học Bách khoa Hà Nội. Theo GS.TS Trị, hiện tượng kiệu quay có thể được thực hiện nhờ Định luật bảo toàn mômen động lực, trong đó 8 người khênh đều thống nhất với nhau. Đây là trạng thái thăng hoa cao độ của con người, gần giống như hình ảnh những người đứng trên không trung. Nhờ sự cân bằng của chiếc gậy nên họ có thể biểu diễn nhiều động tác trên không trung, cả mấy tiếng đồng hồ mà không sợ rơi lơ lửng…]

Chính vì vậy, ông đã được vua phong tất cả là 43 đạo sắc phong, hiện vẫn được lưu giữ tại Viện Hán Nôm. Từ đó đến nay, người dân nơi đây tôn vinh cụ là vị thánh sống của làng.

Theo quy định của người dân làng Hà Trì, ngay từ sáng sớm ngày 14 tháng Giêng, bắt đầu làm lễ đến miếu rước cụ về đình làng và chiều 17 đưa cụ từ đình làng về miếu.

Người dân nơi đây chú ý nhiều nhất vào 2 buổi lễ này, bởi họ cho rằng thành hoàng làng linh thiêng, ứng nghiệm. Kiệu không đi theo hướng người khênh mà như có một sức mạnh siêu nhiên nào đó điều khiển, lúc nặng lúc nhẹ, lúc như kiệu quay đi tứ tung nhưng không vào bất kỳ ai.

Anh Trần Văn Thông (giáo viên trường THPT Nguyễn Huệ) là người trực tiếp khênh kiệu trong lễ hội năm nay. Anh Thông kể: Ban đầu khi kiệu mới ra khỏi miếu thì rất nặng, khi về tới cổng làng thì cứ chạy vù vù, mọi người trong làng phải “cản cụ lại để giảm tốc độ”.

Lúc đưa cụ về miếu, kiệu vừa ra khỏi cổng làng đã ghì lại, rồi nhấc bổng 8 người chúng tôi lên, kiệu cứ quay vòng tròn… Hồi nhỏ đi xem tôi không tin là có thật, nhưng khi trực tiếp khênh kiệu tôi mới thực sự bất ngờ.

Ông Nguyễn Quý Thường, điều hành buổi lễ rước và đưa cụ về miếu cho biết: Chúng tôi là người dân sinh ra và lớn lên trên mảnh đất này nhưng cũng không giải thích được. Mỗi lần đón đưa cụ về kiệu đều quay tít, thậm chí những người đứng khênh kiệu như bay trên không trung. Chỉ đặt tựa kiệu vào vai nhưng kiệu vẫn giữ nguyên như có lực hút, thế mà kiệu vẫn không lao vào ai… Buổi lễ đưa cụ về miếu vì thế dù có đoạn đường nhưng phải mất nửa ngày.

Hiện tượng vật lý hay tâm linh?

Cụ Nguyễn Văn Bạch (96 tuổi) nhớ lại, hiện tượng kiệu quay đã có hàng chục năm nay. Khi về đình làng kiệu như đi nhanh hơn. Khi đi về phía miếu, kiệu cứ đứng yên và quay lại như không muốn đi…
Theo ông Nguyễn Phúc Giác Hải, chủ nhiệm bộ môn thông tin và dự báo, Trung tâm phát triển tiềm năng con người thì trong lễ hội tất cả những người khênh kiệu có tấm lòng kính trọng đối với vị thần, đức tin họ cao, nên tâm trạng của họ có trạng thái vô thức.
Trạng thái đó những người lên đồng thường hay gặp phải, lúc đó tiềm năng của con người được phát huy và họ có sức mạnh mà người bình thường không thể có được.

Trong 8 người khênh kiệu thì mỗi người có độ vô thức khác nhau, lực của họ không kiểm soát được, có người có sức mạnh đẩy kiệu lên, người khác cảm thấy nhẹ. Khi rơi vào trạng thái vô thức và bán vô thức thì hành động không theo lý trí của con người.

Có thể do mọi người khênh kiệu không hướng vào một lực, không định được hướng đi nên đã quay và đi lảo đảo, lúc thì quay thế này, lúc thì quay thế kia và không cân bằng lực giữa mọi người với nhau.
Ông Hải phỏng đoán, cũng không thể loại trừ những người khênh kiệu đã bị điều khiển bằng lực lượng siêu nhiên.

Tuy nhiên, tất cả vẫn chỉ là bí ẩn.

[Đây là hiện tượng văn hóa đã ăn sâu trong đời sống nhân dân, nó chịu ảnh hưởng của chủ quan và khách quan và là cơ sở để thu hút sự quan tâm của mọi người đến lễ hội. Khi kiệu quay, thể hiện niềm tin của dân chúng đối với đối tượng thần thánh mà người dân thờ cúng.
Hiện tượng này có nét riêng biệt, tạo thành bản sắc riêng biệt của các địa phương. Xuất phát từ niềm tin, khi đặt vào khung cảnh, thời gian không gian tưng bừng của buổi lễ hội, sự ngưỡng mộ của dân chúng về vị thánh của mình thì sự bùng phát khả năng kỳ diệu có thể xảy ra.

TS Dương Văn Sáu (Trưởng khoa Văn hóa Du lịch, trường Đại học Văn Hóa Hà Nội)]

____________________________________________________

Advertisements

Posted in Chuyện lạ, Chuyện lễ hội, văn hóa | Tagged: , , | Leave a Comment »

Nhiều bản ấn Đền Trần hóa ra ‘ban phúc không mạnh’

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Ba 12, 2010

Trường Phong

TP – Những năm gần đây, lễ khai ấn Đền Trần đã trở thành một hoạt động văn hóa tâm linh đặc biệt, thu hút sự quan tâm của nhiều tầng lớp nhân dân.

Hy vọng không phải ấn của Đền Trần đóng !

Thay vì “Tích phúc vô cương”, nghĩa là “ban phúc vô bờ”, thì giờ đây, ấn lại khắc bốn chữ “Tích phúc vô cường?”, nghĩa là “Ban phúc không mạnh”.

Chẳng lẽ quả ấn mà nhiều người cho là linh thiêng, tâm thành đến Đền Trần làm lễ xin về với bao niềm kì vọng lại có lỗi khiến chỉ còn là quả ấn “Ban phúc không mạnh” thôi sao?

Chúng tôi hy vọng rằng những bản ấn có sai sót mà chúng tôi xem là thứ thau lẫn trong vàng, do một quả ấn không phải của Đền Trần đóng.

Vào dịp này, hàng vạn người không quản ngại đường đất xa xôi, thức thâu đêm suốt sáng, có mặt tại Đền Trần (Nam Định) để xin ấn. Nào quan, nào dân, xe lớn xe nhỏ nối đuôi thành hàng dài, cảnh ùn tắc, thậm chí là giẫm đạp lên nhau đã xuất hiện trong một số thời điểm.

Những người đi xin ấn thảy đều tâm niệm rằng đây là “bảo ấn” (ấn báu), “quốc ấn vua ban”; có bản in từ ấn này sẽ được các đấng anh linh phù trợ cho thuận lợi trên quan lộ, làm ăn phát đạt, mãi hưởng phúc lành.

Một vị cao niên tại Đền Trần cho biết, trong dịp khai ấn đầu năm, có rất nhiều vạn bản ấn được đóng sẵn để phục vụ nhân dân thập phương, sao cho nhân dân về lễ Đền Trần, ai ai cũng có tấm ấn “vua ban”.
Sự thực là rất nhiều người đã xin được bản ấn tại Đền Trần, nhưng dường như rất ít người để ý tìm hiểu về bản ấn mà họ đã xin được.

Tuy nhiên, mặc dù không dám nói là tất cả các bản in quả ấn có tiếng linh thiêng là có vấn đề, nhưng chắc chắn có nhiều bản in trong đó thể hiện quả ấn dùng được đóng có nhiều khiếm khuyết và sai sót. Kèm theo bài là ảnh chụp bản in quả ấn mà nhiều người đã xin được từ Đền Trần.

Quan sát bản in quả ấn, dễ nhận thấy đây hiển nhiên chỉ là quả ấn mới làm, không phải là thứ “quốc ấn” trân quý như người ta lầm tưởng. Bỏ qua sự non nớt về nghệ thuật khắc ấn, chỉ nói về chữ khắc trên ấn đã thấy nhiều điều bất ổn. Quả ấn khắc bốn chữ lớn: “Trần miếu tự điển”, nghĩa là “điển lễ tế tự ở miếu nhà Trần”.

Bốn chữ này được khắc theo lối chữ “khải”, chữ khắc nổi (trong nghệ thuật khắc ấn, kiểu khắc này gọi là “dương văn” hay “chu văn”). Riêng chữ “tự”, nửa “khải”, nửa “tiểu triện”. Người sành chữ, nhìn sơ qua có thể biết bốn chữ trên vốn lấy từ phông chữ vi tính mà ra.

Xưa, khắc ấn được coi là một bộ môn nghệ thuật. Ấn chương cổ tuyệt đại bộ phận được khắc theo lối chữ “triện” (cho nên ấn, và cả việc đóng ấn còn được gọi là “triện”).

Lối chữ “triện” được đưa vào ấn chương, khiến quả ấn thêm cổ kính, đẹp về đường nét, thêm vào đó, người khắc ấn sẽ dùng kĩ thuật khắc ấn cùng cảm quan nghệ thuật của mình để tạo ấn, sao cho sản phẩm được tạo tác đảm bảo hai tiêu chí quan trọng, đó là tính thẩm mĩ và tính độc bản.

Tiền thân của ấn chương ở nước ta (theo Nguyễn Công Việt: Ấn chương Việt Nam từ thế kỉ XV đến cuối thế kỉ XIX) có thể thấy qua các con dấu có hoa văn niên đại khoảng thế kỉ XV-XVI tr.CN tìm thấy tại Hoa Lộc – Thanh Hóa năm 1974.

Cũng tại Thanh Hóa, các nhà khảo cổ đã phát hiện được 6 chiếc ấn nhỏ trong một ngôi mộ cổ, được đúc khoảng cuối thời Tây Hán đến đầu thời Đông Hán (tương đương với thời An Dương Vương, từ 257-147tr.CN), được coi là “chứng tích của ấn chương xuất hiện tại Việt Nam”. Riêng ấn chương thời Trần, hiện chí ít vẫn còn quả ấn “Bình Tường Thổ châu chi ấn”, khắc năm Đại Trị thứ 5 (1362).
Việc sử dụng ấn chương tại Việt Nam nếu chỉ tính đến hết thời Nguyễn, sơ bộ đã có lịch sử hơn hai nghìn năm.

Tất nhiên, việc sử dụng ấn chương không thể tách rời nghệ thuật chế tác ấn. Xem thế đủ biết, về mặt ấn chương, nước ta cũng là một nước có bề dày truyền thống.

Trên thế giới ấn chương được sử dụng rộng rãi, do đó đã có hẳn môn Ấn chương học (Sigillographie hoặc Sphragistique) chuyên nghiên cứu về hệ thống ấn chương qua các đời. Tại nước ta cũng có chuyên gia về ấn chương học, có công trình nghiên cứu về ấn chương đã xuất bản.

Đền Trần là một ngôi đền cổ, nổi tiếng là linh thiêng thì lẽ ra quả ấn nhân danh Đền Trần cũng phải đạt những tiêu chí cần có của một quả ấn bình thường.

Nếu muốn tạo tác một quả ấn riêng cho Đền Trần ta có thể tham khảo quả ấn “Bình Tường Thổ châu chi ấn” nói trên, cùng nhiều mẫu ấn cổ khác, đồng thời tham khảo thêm ý kiến của các chuyên gia về ấn chương và các nghệ nhân khắc ấn.

Còn như việc dùng mẫu chữ “khải” vi tính để khắc ấn phục vụ ngôi đền thiêng này (với kĩ thuật chế tác quá non kém) thì thật là một việc rất không nên.

Chưa dừng lại ở đó, cạnh dưới của quả ấn từ Đền Trần còn khắc thêm 4 chữ, “nghe nói” đó là bốn chữ “Tích phúc vô cương? ”. Xem vào bản in quả ấn mà nhiều người đã xin tại Đền Trần, 4 chữ này khắc chìm (trong nghệ thuật khắc ấn, kiểu khắc này gọi là “âm văn” hay “bạch văn”); khi nhìn kĩ, không rõ vì lí do gì, người ta đã khắc thiếu bộ “thổ” trong chữ “cương khiến chữ “cương”, biến thành chữ “cường” (nghĩa là “mạnh mẽ”).

Thay vì “Tích phúc vô cương”, nghĩa là “ban phúc vô bờ”, thì giờ đây, ấn lại khắc bốn chữ “Tích phúc vô cường?”, nghĩa là “Ban phúc không mạnh”.

Chẳng lẽ quả ấn mà nhiều người cho là linh thiêng, tâm thành đến Đền Trần làm lễ xin về với bao niềm kì vọng lại có lỗi khiến chỉ còn là quả ấn “Ban phúc không mạnh” thôi sao? Chúng tôi hy vọng rằng những bản ấn có sai sót mà chúng tôi xem là thứ thau lẫn trong vàng, do một quả ấn không phải của Đền Trần đóng.

_______________________________________________________

Posted in Chuyện lễ hội, Chuyện phong tục | Tagged: , , | Leave a Comment »

Mùa xuân, về Đồng Kỵ xem “tung ông đám”

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Hai 21, 2010

Hội Đồng Kỵ mở từ mùng bốn tết, sớm nhất trong các lễ hội ở các làng quê Bắc bộ. Du khách và các tay săn ảnh về dự hội như mối duyên đến hẹn lại lên. Hội Đồng Kỵ độc đáo vì lễ rước pháo và thi pháo. Hội Đồng Kỵ còn có tục “tung ông đám” độc đáo để chọn người chủ lễ rước pháo sang năm…

Chỉ cách Hà Nội chừng hai mươi cây số, Đồng Kỵ (Từ Sơn, Bắc Ninh) ngày thường nổi tiếng là làng nghề mộc mỹ nghệ cao cấp. Đồng Kỵ ngày hội làng lại thu hút khách gần xa vì sắc màu văn hóa độc đáo đã định hình từ ngàn xưa và còn được bảo tồn đến ngày nay dù thế gian đã qua nhiều biến cải…

Thi pháo nổ…

Tiếng pháo trong tiết xuân xưa là một nét tín ngưỡng của cư dân nông nghiệp – mô phỏng tiếng sấm của mưa thuận gió hòa, của được mùa no ấm. Hội Đồng Kỵ nổi tiếng xa gần vì có lễ rước pháo và thi pháo. Khác với làng pháo cổ truyền Bình Đà (thuộc Hà Tây trước đây) vang bóng ngày xưa thường thi các cây pháo bông, ở Đồng Kỵ lại thi pháo nổ. Các thôn ngầm đua nhau làm những quả pháo lớn. Kích thước quả pháo của thôn được giữ bí mật tuyệt đối. Có câu chuyện một thôn dò biết được địa chỉ chế tạo quả pháo thi của thôn khác liền cho “tình báo” đến bí mật đo chiều rộng cổng ngõ mà quả pháo sẽ được khiêng ra. Sau khi lấy được số đo, cả thôn hỉ hả cho rằng chỉ cần làm pháo của thôn mình lớn hơn cổng ngõ đó một chút là đủ để thắng giải. Chẳng ai ngờ đến ngày hội, trước khi rước pháo ra đình, cái cổng ngõ (mà “tình báo” đã đo) đó được đập toang để khiêng pháo ra. Quả pháo phải “đập cửa mà ra” đã khiến tất cả người dự hội ngỡ ngàng. Quả pháo ấy giành luôn giải nhất năm đó.

Ngày trước, sau khi làm lễ ở đình trước thần linh chứng giám, các quả pháo lớn được khiêng ra bãi đất trống để đốt và chấm giải. Ngoài tiêu chuẩn về kích thước: chiều dài, đường kính; trang trí: màu sắc, hoa văn, kiệu rước, thì tiêu chí quan trọng nhất là tiếng nổ phải lớn, xác pháo màu hồng điều rực rỡ phải nhỏ vụn, tan đều. Ngày nay, không còn đốt pháo nổ, không còn thi pháo lớn nhưng tục rước pháo (mô hình) trong lễ hội Đồng Kỵ thì vẫn được người dân ở đây trân trọng giữ gìn trong tâm thức và long trọng tiến hành mỗi dịp hội làng hàng năm.

…và “tung ông đám”

Sau khi rước pháo vào làm lễ ở đình, kính cáo với thành hoàng, tổ tiên, khoảng sân đình là nơi huyên náo “tung ông đám” để chọn người chủ lễ rước pháo năm sau. Đồng Kỵ có bốn thôn, mỗi thôn chọn một “ông đám” để “tung”. “Ông đám” được thôn chọn phải quá tuổi 50, gia đình phải song toàn, “có nếp, có tẻ”, làm ăn phát đạt, là người có uy tín trong thôn và được mọi người cùng bầu chọn. “Ông đám” sẽ được các thanh niên trai tráng trong thôn rước lên cao và chạy nhiều vòng quanh sân đình để thi với các “ông đám” của thôn khác. Vừa được rước chạy, ông đám vừa diễn tả sự hùng dũng, khỏe mạnh, vui vẻ bằng nét mặt, bằng những động tác múa ước lệ. Cuộc “tung ông đám” chỉ kết thúc khi tìm ra được “ông đám” cuối cùng còn sung sức trụ vững trên tay các chàng thanh niên sau khi ba ông còn lại bỏ cuộc chịu thua. “Ông đám” thắng cuộc mang về niềm tự hào suốt năm cho cả thôn và mọi người cùng vui vẻ ăn mừng sự kiện đó.

Nhìn cuộc “tung ông đám” Đồng Kỵ qua nhiều lớp phủ của thời gian vẫn có thể nhận ra ảnh xạ của phong tục “thi đấu chọn thủ lĩnh” giữa một vùng quê nông nghiệp thuần thành. Những tiêu chuẩn “sơ tuyển” để chọn “ông đám” đi “tung” đã mang ước vọng của cộng đồng về một mẫu “điển hình tiên tiến” – theo cách gọi ngày nay. Là người được cả thôn nhất trí bình chọn để dự thi nhưng ngoài những tố chất, điều kiện của bản thân, “ông đám” của thôn chỉ có thể chiến thắng với sự đồng tâm nhất trí giúp sức của cả cộng đồng. “Ông đám” của làng (thủ lĩnh – dù chỉ mang ý nghĩa tượng trưng) được chọn sau một cuộc “đấu loại trực tiếp” công khai, công bằng. Cuộc tuyển chọn đó như một mẫu hình dân chủ sơ khai giữa làng quê Việt. Và hội Đồng Kỵ còn bảo lưu được những nét văn hóa đó…

Ngữ Thiên
____________________________________________________

Posted in Chuyện lễ hội | Tagged: | Leave a Comment »