NGÔN NGỮ & VĂN HÓA

CHÚC MỪNG NĂM MỚI

Archive for the ‘Di tích’ Category

Cò biệt thự sẽ xóa sổ những con phố Tây?

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Năm 5, 2011

Không chỉ buôn đất dự án, trong những năm gần đây, cũng tại Hà Nội, đã xuất hiện một số nhóm người chuyên mua biệt thự cũ, chủ yếu là các biệt thự xung quanh khu vực trung tâm thành phố. Đây là những biệt thự được xây dựng từ thời Pháp với kiến trúc thuộc địa, được xếp vào biệt thự loại 2 theo quy định của Ủy ban Nhân dân Thành phố Hà Nội (tức là biệt thự cũ, được phép cơi nới, phá dỡ).

Được giới thạo tin cho biết, chủ nhân căn biệt thự tại địa chỉ X, trên phố T, quận Hoàn Kiếm có ý định bán, tôi đã đến gặp để tìm hiểu. Không như giao dịch nhà đất bình thường, việc mua bán biệt thự cũ diễn ra khá âm thầm. Không có thông tin chính thức về căn biệt thự này được công bố hay rao bán từ các trung tâm môi giới hoặc trên mạng. Việc tìm khách mua được chủ nhà giao cho một số cò biệt thự đáng tin cậy, bởi ông là người có vai vế, rất ngại lộ diện.
Biệt thự X là 1 trong 2 căn biệt thự vị này đang sở hữu. Căn này có diện tích gần 800 m2, trong khi căn kia lớn hơn, khoảng 1.000 m2. Cả 2 cùng nằm trên con phố T. Sau khi tiếp xúc với một cò biệt thự được giao bán 1 trong 2 căn trên, tôi đã biết được một số thông tin khá thú vị.

Theo lời anh ta, hiện nay, chủ nhân căn biệt thự cần tiền mua một lô đất lớn ở phía Tây Hà Nội nên phải bán 1 trong 2 căn. Sau khi dẫn tôi đến tận nơi xem vị trí các biệt thự, anh ta bắt đầu nói giá. Hai căn có giá gần 400 triệu đồng/m2. Nghĩa là giá bán biệt thự lên tới vài trăm tỉ đồng.
Một cò biệt thự khác tên Hoa cho biết, có 2 nhóm đại gia bất động sản đang nhờ cô tìm mối quen để mua lại các căn biệt thự cũ. Nhóm thứ nhất là người Việt Nam, thích sở hữu loại biệt thự có diện tích khoảng 800-1.000 m2. Nhóm thứ 2 là những nhà đầu tư nước ngoài, mua để xây dựng căn hộ cho thuê. Cả 2 nhóm này đều yêu cầu Hoa tìm những biệt thự thuộc khu vực trung tâm, không quá gần hồ Hoàn Kiếm nhưng cũng không quá xa.

Lý do là quận Hoàn Kiếm là khu vực rất khó xây công trình cao tầng, thủ tục xin cấp phép xây dựng không dễ dàng. Theo quy định, chiều cao tối đa của các công trình mới ở quận Hoàn Kiếm không được vượt quá 9 tầng. Trên thực tế, vị trí công trình càng gần trung tâm (tức khu vực quanh hồ Hoàn Kiếm), chiều cao càng bị giới hạn. Vì thế, đã có nhiều biệt thự cũ được phá đi để xây văn phòng cho thuê với chiều cao trên 9 tầng, nhưng sau đó đều bị buộc phải ngừng thi công (cho dù chủ nhân mới của chúng đều là những người có “khả năng” xin giấy phép).

Hãy thử làm một phép tính, với số vốn bỏ ra khoảng 300 tỉ đồng, nếu xây thấp tầng theo quy định, nhà đầu tư sẽ không có lời. Giá cho thuê văn phòng hay căn hộ hạng A tại Hà Nội không thể vượt quá 60 USD/m2. Trong khi đó, nếu lấy diện tích sàn cho thuê nhân với giá cho thuê (chiều cao 9 tầng, mật độ xây dựng khoảng 40% và diện tích đất 800-1.000 m2), có thể thấy, giá cho thuê vẫn còn quá thấp so với số vốn bỏ ra. Đó là chưa kể đến chi phí xây dựng, tiền lo thủ tục, giấy phép, phí quản lý tòa nhà. Hoa cho biết, công trình phải cao từ 15 tầng trở lên thì nhà đầu tư mới có lời. Dĩ nhiên, xây càng cao càng tốt.

Một căn biệt thự khác, nằm ngay mặt tiền con phố gần hồ Thiền Quang, cũng được chủ nhân bán lại cho một nhóm nhà đầu tư cá nhân. Hoa cho tôi biết những người này nắm trong tay hàng ngàn tỉ đồng. Vào giữa năm 2010, họ từng hùn vốn mua một biệt thự gần 800 m2 với giá 400 triệu đồng/m2 (tổng số tiền bỏ ra là 320 tỉ đồng). Tuy nhiên, cho đến nay, căn biệt thự này chỉ mới được rào lại xung quanh bởi hàng tôn rất lớn.

Nhóm này đang muốn bán lại căn biệt thự để lấy vốn đầu tư vào nơi khác nhưng chưa tìm được người mua. Ban đầu khi mua căn biệt thự này, họ có ý định xây nhà cao tầng. Tuy nhiên, họ không gặp may bởi người có thể lo được giấy phép xây cao tầng bị chuyển công tác. Hơn nữa, cuối năm 2010 và đầu năm 2011 diễn ra nhiều sự kiện quan trọng của Thành phố nên hầu hết các hồ sơ xin phép xây nhà cao tầng ở trung tâm đều nằm trên bàn giấy.

Theo thống kê chưa đầy đủ, chỉ riêng tại quận Hoàn Kiếm, có không dưới 10 căn biệt thự cũ từ thời Pháp đã được phá dỡ nhưng đất còn bỏ hoang. Những biệt thự có tuổi đời từ vài chục cho đến cả trăm năm, mang dấu ấn lịch sử, kiến trúc, văn hóa của nhiều giai đoạn lịch sử thăng trầm của Hà Nội giờ chỉ là những bãi đất trống.

Kiến trúc sư Hoàng Đạo Kính từng nói, nếu không có sự kiên quyết và một tình yêu sâu nặng với di sản kiến trúc cũ thì chỉ vài năm nữa, tất cả những biệt thự thời Pháp sẽ biến mất. Thay vào đó là những tòa nhà cao tầng hiện đại. Điều đó cũng có nghĩa, những dấu ấn lịch sử làm nên những con phố Tây đẹp đẽ của Hà Nội có thể bị xóa sổ.

theo NHỊP CẦU ĐẦU TƯ
_______________________________________________

Posted in Chuyện kiến trúc, Di tích, Hà Nội nghìn năm, Kinh tế | Tagged: , , | Leave a Comment »

Cuộc vây bắt rùa: Nếu Cụ Rùa biết nói…

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Ba 10, 2011

Một cuộc vây bắt kinh thiên động địa!

Không thể có một cách mô tả khác khi mà hàng hàng nghìn người tập trung kín xung quanh một cái hồ chỉ nhỉnh hơn một cái ao làng. Người ta trèo lên ngồi kín cả các cây. Đoạn đường Lê Thái Tổ bị tắc cục bộ. Hàng trăm cảnh sát đã được huy động để giữ gìn trật tự và bảo đảm giao thông tại khu vực quanh hồ Hoàn Kiếm.
Có hai phương án đưa Cụ Rùa lên chữa trị đã được lập ra.
– Phương án tự nhiên, theo đó Cụ Rùa sẽ tự bò lên qua bốn cửa quanh chân tháp Rùa (mỗi cửa rộng 2m). Xung quanh chân tháp đã lắp hàng rào chắn bằng sắt và lưới để đảm bảo không gây chấn thương cho Rùa. Xung quanh chân tháp sẽ tạo ra môi trường tự nhiên để Rùa có thể phơi nắng, đồng thời dọn các chướng ngại vật như hệ thống đèn chiếu ngược, dây điện, gạch đá để đảm bảo an toàn cho Cụ Rùa.
– Phương án cưỡng bức, sẽ được thực hiện khi Cụ Rùa không tự lên tháp, theo đó sẽ quây lưới bắt Cụ đưa vào bể điều trị.
Cuối cùng, phương án thứ hai được được sử dụng.
Để đảm bảo an toàn khi dùng phương án hai, những người tham gia bắt Cụ Rùa đã được tập luyện trước tại Đầm Long (Ba Vì) và hồ Định Công (Hoàng Mai). Ngoài ra, hai thợ lặn cũng đã được mời về tham gia đội bắt, để trong trường hợp cần thiết sẽ lặn xuống phía dưới gom chân lưới, không để xảy ra các khoảng hở ở chân lưới.
Hai chiếc thuyền dùng để lai dẫn rùa sẽ xuất phát ở khu vực gần nhà hàng Thủy Tạ trông ra phía chân đền Ngọc Sơn.
Cuộc vây bắt do ông Nguyễn Văn Khôi, Chủ tịch HĐQT Tập đoàn KAT đã chỉ đạo.
Bắt đầu từ khoảng 8 giờ sáng ngày 8/3, việc quây lưới bắt Cụ Rùa Hồ Gươm để chữa thương đã được tiến hành ở phía đường Lê Thái Tổ cắt Hàng Trống. Cụ Rùa đã nằm trong lưới nhưng đội đánh bắt vẫn không làm thế nào để đưa được Cụ Rùa lên bờ.
Hai thợ lặn hoạt động dưới mặt nước để bịt chân lưới, không cho Cụ chui ra ngoài. GS Hà Đình Đức, nhà Rùa học Hà Nội, đứng trên một chiếc thuyền để chỉ đạo công việc.
Trận vây bắt diễn ra chậm chạp đến mức đội lai dẫn phải làm việc dưới nước quá lâu nên bị ngấm lạnh và phải có một đội mới đến thay ca.
Trong khi đó các lực lượng chức năng đã phải giăng dây, ngăn không cho người dân tiếp cận khu vực sát Bờ Hồ. Đường Lê Thái Tổ đã cấm các phương tiện đi lại.
Vòng lưới bắt Cụ Rùa được khép lại dần dần.
Công nhân vẫn miệt mài dẫn lưới đưa Cụ Rùa vào gần bờ, phía đường Lê Thái Tổ.
11h20, cách chỗ vây bắt Cụ Rùa khoảng 10m về phía đường Hàng Khay có một con rùa nổi đầu lên. Nhiều người băn khoăn, không biết Cụ Rùa trong lưới đã thoát ra ngoài hay có một Cụ Rùa thứ hai ở Hồ Gươm.
11h40: Đội lai dẫn tiến hành quây lưới mắt bé ngay trong lưới đang quây để bắt Cụ Rùa. Đội bắt Cụ Rùa cho biết khoảng 2-3h chiều ngày 8/3, sẽ cẩu Cụ Rùa lên để đưa ra Tháp Rùa.
11h50: Vòng lưới nhỏ thu hẹp chừng 3m2 thì bất ngờ Cụ Rùa nổi ở bên ngoài vòng lưới (vẫn trong vòng lưới lớn). Đội đánh bắt phải thu lưới nhỏ để quây lại.
Hơn 10 dân quân đã được huy động để kéo lưới.
12h55: Cụ Rùa cắn rách lưới nhỏ rồi lao ra, làm chìm cả phao nổi của lưới ngoài.
Cuộc vây bắt đã thất bại với sự chứng kiến của hàng nghìn người, trong đó có nhiều phóng viên trong và ngoài nước.
Và Cụ Rùa đã được một phen hoảng hồn. Quả này có lẽ Cụ sẽ bị tổn thọ thêm ít năm.

Và nếu Cụ biết nói thì Cụ sẽ nói gì?

Đừng ‘bắt’ Cụ như… đánh cá!

Sau khi các cơ quan chức năng thất bại trong việc lai dẫn rùa Hồ Gươm lên để chữa trị trong ngày 8/3, rất nhiều bạn đọc quan tâm đến vấn đề này đã bày tỏ ý kiến của mình về phương pháp bắt mà các cơ quan chức năng đang tiến hành và đưa ra cách thức mới.

Không cần quây lưới?

Một bạn đọc có tên là Duyên Hà bày tỏ ý kiến: Tôi thấy phương án này chưa thực sự hiệu quả, vì nó gây ra phản ứng lo sợ cho cụ rùa. Khi chưa “hiểu” ý tốt của “con cháu” là muốn chữa trị giúp cụ thì cụ tìm cách thoát thân là phản ứng hoàn toàn bình thường.

“Không những thế, mỗi lần cụ tìm cách phá lưới sẽ tiếp tục gây ra chấn thương. Vì vậy, tôi có đề xuất một phương án mới, kính mong ban quản lý chữa trị cho cụ lắng nghe ý kiến.
Mục đích cuối cùng là đưa rùa lên Tháp Rùa, vậy thì không nhất thiết là cứ phải quây lưới để bắt cụ rùa như kiểu chúng ta thường dùng để bắt cá. Vì vậy, phương án của tôi là: Tạo đường hành lang lưới theo kiểu mương dẫn đường lên Tháp Rùa, với bề rộng thông luồng khoảng 3m.
Quy trình thực hiện như sau: Đóng sẵn trước một hàng rào lưới cắt ngang hồ, tính từ bờ đến Tháp Rùa. Đóng cọc buộc lưới cho chắc chắn để hành lang lưới này là cố định. Khi đã phát hiện ra vị trí của cụ rùa thì dùng khoảng 4 ca nô không động cơ mang theo hành lang lưới còn lại, chọn vị trí thích hợp (là khoảng cách đường giữa Tháp Rùa và bờ là ngắn nhất) thì thả nốt hành lang lưới này và thu hẹp dần khoảng rộng của hành lang lưới. Dùng người khép kín hàng lang lưới vừa thả, và dồn dần đường dẫn hướng về Tháp Rùa theo kiểu đánh dậm. Mục đích là lùa cụ rùa tự lên tháp.
Ưu điểm của phương pháp này là sẽ không gây thương tích và không lo sợ về môi trường sống của cụ rùa bị đe dọa. Không phải tiêm thuốc mê cho cụ để đưa ra Tháp Rùa, như thế sẽ tránh được rủi ro về sức khỏe cho rùa. Điều mong đợi nhất của mọi người dân là cụ rùa tự bò lên bờ (phải tạo bờ đi lên tháp thuận lợi)”, độc giả Duyên Hà đưa ra giải pháp mới.

Dùng lưới dày, mềm để tránh xây xát

Độc giả Trần Đình Trọng đề nghị nên dùng lưới dày, mềm để đánh bắt tránh bị xây xát; sợi to và chắc để khỏi bị phá bung lưới (lưới bắt cá hương). Hôm 8/3, Ban chỉ đạo đã cho dùng lưới quá thưa và sợi rất mảnh (tôi có xem kỹ lưới này trên báo VietNamNet).
Với con vật sống dưới nước nặng vài tạ, thì lưới đó không thể chịu được và rất dễ bị phá thủng khi rùa mắc lưới hoặc bị quấn chặt lại và bị rối, bó lại thân rùa khó gỡ, dễ gây tổn thương. Lưới đã dùng hôm 8/3 không thể dẫn dắt cụ rùa lên tháp được.

Rùa là động vật lưỡng cư, 4 chân khỏe, khi bị đánh“động” rùa có thể dùng chân và miệng xé rách lưới. Việc kéo bắt rùa bằng lưới vây như bắt cá tôi thấy không ổn. Vì rùa biết có động sẽ nhanh chóng lặn xuống đáy hồ, rụt cổ và ém mình xuống bùn, như 1 tảng đá nhỏ, chì của lưới có thể lướt qua lưng và không thể bắt được.
Ta có thể hình dung khả năng luồn lưới như cá chép trắng vậy, do đó chỉ lúc trời nắng ấm, nhờ quan sát việc sủi tăm của rùa để định vị và giăng lưới xung quanh, cứ khoảng 2m đường chì phải có 1 người giữ chì và phao để dồn dần khi rùa đã đóng vào lưới, sau đó những người kéo lưới lập tức lặn xuống và quấn lưới toàn thân cụ rùa đưa lên cạn.

Ý kiến thứ 3 là nên chuẩn bị xe khi bắt rùa lên cạn, để sẵn sàng đưa về bể gần nơi đánh bắt. Quá trình chữa chạy không nhất thiết phải tiến hành ở Tháp Rùa hoặc ở trong “bể thông minh” mà có thể tiến hành ở 1 bể xi măng hoặc gạch sạch ở đáy chứa 1 ít nước máy (1 ít thôi, không cần nhiều), nước máy sạch có rải 1 ít sỏi. Chỉ cần dùng nước máy sạch là đủ, vì mọi người đều biết Hồ Hoàn Kiếm ngày nay mật độ các loại vi sinh vật vô cùng dày đặc, không thể lọc được và như vậy sẽ phản tác dụng.

Lai dẫn thô bạo là bức tử rùa!

Bác sĩ thú y Hoàng Long hiện đang công tác tại một tổ chức của Úc bày tỏ lo lắng: Lai dẫn gấp rút, thô bạo hoặc gây mê để bắt là bức tử cụ rùa.
Bác sĩ Long viết: Trước hết tôi thấy rằng những nỗ lực mà các cơ quan chức năng và các nhà khoa học đã làm để bảo vệ cụ rùa là rất đáng ghi nhận. Tuy nhiên, là một bác sỹ thú y, tôi cảm thấy không yên tâm khi đọc được các thông tin về dụng cụ và kế hoạch lai dẫn cụ vào nơi điều trị của các cơ quan chức năng mà báo chí đã đăng tải.

Trước hết là lộ trình lai dẫn. Tôi không biết đội lai dấn dự định sẽ phải mất bao nhiêu thời gian để đưa cụ vào tới nơi điều trị kể từ khi quây được cụ vào lưới? Nếu việc này được tiến hành nhanh chóng trong vài chục phút, thậm chí vài giờ như việc bắt một con cá hoặc một gia súc thông thường thì quả là rất nguy hiểm cho cụ.

Nhiều nghiên cứu cho thấy, khi bị stress như từ việc đánh bắt thô bạo, hàm lượng acid lactic trong máu rùa tăng cao rất nhanh làm mất cân bằng kiềm toan trong máu. Ngoài ra phần lớn rùa bị stress đều bỏ ăn hoàn toàn. Hai nguyên nhân sẽ làm cho rùa bị rối loạn trao đổi chất, suy kiệt nhanh và hậu quả là khó lường.

Có nên dùng thuốc mê?

Về việc dùng thuốc gây mê: không biết đội lai dẫn căn cứ vào đâu để xác định liều dùng khi không biết chính xác trọng lượng của rùa? Thuốc mê định dùng là thuốc nào? Thuốc sẽ được tiêm vào đâu? Ngay cả khi có đầy đủ chính xác các thông tin nêu trên, thì việc một con vật bị mê trong nước là quá mạo hiểm. Ngay cả khi chưa bị gây mê rùa đã phải nổi lên mặt nước để thở rồi.
Như vậy, khi bị mê và chìm trong nước liệu cụ rùa có thể sống? Đó là các câu hỏi hoàn toàn mang tính chất cơ học, còn chưa kể đến tác dụng phụ của thuốc! Thực tế cho thấy, nhiều thuốc mê rất an toàn cho động vật có vú, nhưng lại độc với bò sát.
Chính vì vậy, việc dùng thuốc mê là cực kỳ mạo hiểm. Do đó, ngay cả khi phải di dời những bò sát khoẻ mạnh với kích thước lớn như cá sấu chẳng hạn, người ta cũng hiếm khi dùng đến thuốc mê.
Chúng ta không nên mạo hiểm khi còn có nhiều cách khác an toàn hơn. Một là việc lai dẫn cụ nên thực hiện từ từ, có thể mất một vài ngày nhưng sẽ đảm bảo an toàn hơn. Trước hết nên đưa cụ rùa vào tầm kiểm soát đã. Việc này sẽ không khó nếu túc trực đợi khi cụ nổi sẽ bủa lưới xung quanh, nếu có thể được thì để một hướng mở dẫn vào khu vực điều trị tại Tháp Rùa rồi sau đó dần dần thu lưới từ đằng xa, thu nhỏ vòng vây để cụ tự bơi vào nhà điều trị.
Trong thời gian này, chúng ta nên tiếp cận, cho rùa ăn cá tươi để tập dần cho cụ làm quen với người, như thế vừa giảm được stress, vừa thuận lợi hơn khi chữa trị cũng như chăm sóc sau này.

Không nên dùng lưới phế phẩm

Bác sĩ thú y Nguyễn Huy Đăng, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Hà Nội, Chủ tịch hội đồng chữa trị cụ rùa cho hay, sau khi cụ rùa thoát khỏi vòng vây bắt, các nhà chức trách đã nhận ra lớp bùn ở Hồ Gươm rất dày, nên nếu có chì nặng sẽ rất khó kéo.
Trước đó, tại cuộc họp ngay sau khi việc “bắt” cụ rùa thất bại, bên làm lưới đánh bắt đã nhận lỗi là mua lưới ở chợ, thuộc hàng phế phẩm. Còn nhà “rùa học” Hà Đình Đức thì cho rằng, sức khoẻ cụ còn khá tốt nên mới phá lưới được như vậy.
Do vậy, cần lưu ý đến độ bền và bề rộng của lưới. Tránh để cụ rùa “độn thổ” qua bùn để thoát khỏi vòng vây. Lộ trình này có thể làm một số người sốt ruột vì cho rằng rùa đang bị ốm nặng cần gấp rút hơn. Tuy nhiên, chúng ta hoàn toàn có thể lạc quan vì hiện nay rùa vẫn còn tìm kiếm thức ăn, và thậm chí còn ăn cả cá chết. Điều đó cho thấy nếu áp dụng lộ trình trên, được ăn thức ăn và chăm sóc tốt, kết hợp với việc làm sạch hồ, tôi tin là cụ rùa sẽ sớm bình phục.

Cho nên, cùng với việc làm lưới mới, theo ông Đăng, Hội đồng chữa trị sẽ đề xuất thay phương án mới cứu cụ rùa. Theo đó, sẽ làm một cái “rốn” ở giữa hồ (chứ không dồn cụ vào gần bờ như hôm qua), dùng một thiết bị giống như “lồng bàn khổng lồ”, để úp cụ vào trong, sau đó, dẫn cụ ra “nơi an dưỡng” là tháp rùa…

Dự kiến, chiều nay, Hội đồng chữa trị sẽ lại họp, để trình Thành phố phê duyệt phương án mới.

(tổng hợp)
________________________________________________

Posted in Di tích, Hà Nội nghìn năm, Tin tức nổi bật, Truyền thuyết | Tagged: , , | Leave a Comment »

Người khám phá hang động lớn nhất thế giới bị lãng quên!

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Ba 8, 2011

QUỐC NAM

SGTT.VN – Hồ Khanh (Phong Nha, Quảng Bình), người phát hiện hang động lớn nhất thế giới Sơn Đoòng (Quảng Bình) đang bị lãng quên. Hay nói đúng ra, anh như bị bỏ rơi.

Sau phát hiện chấn động đó, chính quyền hứa hẹn tặng bằng khen cho “vua hang động” nhưng đến nay vẫn bặt tăm.

Bặt tăm lời hứa

Người dẫn đường số 1 của SGTT từng có mặt trên các trang truyền thông lớn như BBC, Daily Mail, The Sun…. Các báo ở Việt Nam chạy trang nhất về Hồ Khanh, người phát hiện hang động lớn nhất thế giới Sơn Đoòng. Nhưng hai năm qua, sau phát hiện chấn động đó, Hồ Khanh như bị lãng quên trong khốn khó xót xa.
Đầu tháng 5.2009 khi Hiệp hội hang động Hoàng gia Anh (British Caving Association) công bố phát hiện hang động lớn nhất thế giới, hầu như mọi chuyên gia nghiên cứu về địa mạo địa chất các châu lục đều hướng về Phong Nha – Kẻ Bàng, cái tên bình dị Hồ Khanh được xướng lên từ giới chuyên môn, khoa học gia, quản lý địa phương và truyền thông thế giới.
Khi đó, UBND tỉnh Quảng Bình từng phát ngôn sẽ tặng bằng khen và có phần thưởng cho Hồ Khanh nhưng hình như lời hứa cứ nhạt dần theo năm tháng. Ban quản lý di sản thiên nhiên thế giới cũng từng hứa báo cáo điển hình Hồ Khanh để tỉnh quan tâm, nhưng nó như “lời nói gió bay”. Mọi báo cáo về việc phát hiện ra Sơn Đoòng sau đó hầu như không nhắc đến “vua hang động”. Mỗi nhiệm kỳ mười hai tháng tổng kết, đánh giá hoạt động di sản đều không có một chiết từ nào nhắc đến công lao người thợ rừng đam mê hang động.
UBND xã Sơn Trạch đã từng hai lần đánh công văn gửi UBND huyện Bố Trạch, đề nghị Hồ Khanh xứng đáng được tặng bằng khen vì đã khám phá nhiều hang động tuyệt đẹp, trong đó có Sơn Đoòng nổi tiếng toàn cầu. Nhưng cho đến nay huyện Bố Trạch vẫn phớt lờ không có phản hồi.
Chúng tôi đã tìm gặp nhiều quan chức huyện, tỉnh thắc mắc vì sao Hồ Khanh xứng đáng thế không được xướng tên trong một bằng khen, nhiều người ngạc nhiên và nói một câu nhẹ hều: “Để xem xét lại”. Hồ Khanh đã bỏ cuộc đời lâm tặc là xứng đáng khen, Hồ Khanh đã tìm ra cho Việt Nam hàng chục hang động đẳng cấp thế giới là xứng đáng khen, sao cần phải xem lại? Bởi đó là công lao của lòng quả cảm cắt rừng lội suối và cảm hứng của niềm đam mê vô bờ.

Thất nghiệp

Giữa tiết trời giá rét, Hồ Khanh thu mình trong mái nhà ẩm thấp bên miền di sản. Nhắc đến những hang động đã tìm ra, Khanh say sưa kể, say sưa mô tả với tất cả mê hoặc của tâm hồn. Nhưng ẩn ức trong lồng ngực là nỗi buồn vô biên của một người bị bỏ rơi sau bao khám phá.
Kể từ ngày thế giới biết đến Sơn Đoòng thì Hồ Khanh lại khuất buồn sau nương rẫy mưu sinh. Không nghề nghiệp, Khanh phải tảo tần với ngô sắn để qua ngày. Trận lũ lịch sử năm 2010 quét qua làng nhỏ Phong Nha, nhà Khanh trôi mất 6 con dê, báo cáo thiệt hại vẫn không được trợ cấp cân gạo hoặc gói mì tôm. Tự lực kiếm sống, người chị ruột thấy anh không tấc đất làm ruộng đã cho gia đình anh mượn tạm chục thước đất cấy mỗi năm một vụ để cấp cứu trước mắt.
Biết anh là người phát hiện ra động Thiên Đường dài 31km, tập đoàn Trường Thịnh đầu tư khai thác du lịch đã mời anh làm hướng dẫn viên với mức lương 1,4 triệu đồng mỗi tháng. Nhưng từ nhà đến điểm làm việc cả đi lẫn về mỗi ngày hơn 40km, hạch toán lại mức lương, thấy lỗ, Khanh đành trả lại hợp đồng, ở nhà quần quật với nương rẫy vì không kham nổi mức lương đó.
Nhà Khanh phải vật lộn với bốn miệng ăn, hai đứa con phải đi học, có khi phải vay mượn để sống. Khó khăn vô biên. Nhưng trong muôn vàn hiểm nghèo đó, Khanh vẫn cháy bỏng ngọn lửa tìm kiếm hang động mới. Anh nói: “Đoàn chuyên gia hang động Anh phán đoán tại khu vực Phong Nha – Kẻ Bàng còn có một hang động ngang bằng hoặc hơn Sơn Đoòng và đang nhờ mình tìm kiếm”.
Khanh cho biết, trong năm 2011 anh sẽ thực hiện 4 chuyến đi rừng để tìm hang động bí ẩn này, mỗi chuyến đi kéo dài khoảng 10 ngày, và mọi thứ đều vay mượn để thực hiện. Bởi đó là đam mê không thể lột bỏ. Không thể bào mòn.
Hồ Khanh (42 tuổi, ở Phong Nha, Sơn Trạch, Bố Trạch, Quảng Bình) là người khám phá ra 12 hang động tuyệt đẹp tại Phong Nha – Kẻ Bàng và anh được các chuyên gia hang động thế giới ưu tiên quyền đặt tên 12 hang động trên. Trong số các hang động đó có Sơn Đoòng lớn nhất thế giới, Thiên Đường 31km. Số còn lại được đánh giá là kỳ quan của lòng đất và các kiến tạo địa mạo.

__________________________________________________________

Posted in Chuyện du lịch VN, chuyện khó tin, Chuyện xã hội, Chuyện đất nước, Di tích | Tagged: , , | Leave a Comment »

Thành nhà Hồ – Tác phẩm đẹp nhất của kiến trúc Việt

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Hai 26, 2011

Quốc Việt

Đã có nhiều đoàn chuyên gia trong nước và quốc tế đến thăm Thành nhà Hồ (huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa), với mong muốn “bỏ phiếu” để ủng hộ Thành nhà Hồ trở thành Di sản thế giới. Liệu “giấc mơ” Di sản thế giới của Thành nhà Hồ có trở thành hiện thực hay không, còn phụ thuộc quyết định từ Hội nghị lần thứ 35 của Ủy ban Di sản văn hóa Thế giới tổ chức tại Bahrain vào tháng 6 tới…

Thành nhà Hồ sẽ trở thành Di sản thế giới?

Nhà nghiên cứu người Pháp L.Bezacier đã từng nhận xét: “Công trình Thành nhà Hồ là một trong những tác phẩm đẹp nhất của kiến trúc…”. Công trình này, được Hồ Quý Ly xây dựng vào mùa Xuân năm Đinh Sửu (1397), đời vua Trần Thuận Tông. Sách “Đại Việt Sử ký toàn thư” của Ngô Sĩ Liên thời Lê sơ có ghi: “Tháng Giêng năm Đinh Sửu (1397) Hồ Quý Ly sai Thượng Thư Lại bộ kiêm Thái sử lệnh Đỗ Tỉnh về Yên Tôn khảo sát thực địa, đo đạc, đắp thành, đào hào, lập nhà tông miếu, xây đàn thờ thần, mở phố sá lập đường ngõ, công việc làm 3 tháng thì xong. Cuối năm đó ép vua Trần Thuận Tông dời đô về đây và đầu năm ấy lại bức nhường ngôi cho Thái tử An. Tháng 3 năm Mậu Dần (1398) Thái tử An lên ngôi ở cung Bảo Thanh…”. Không lâu sau, Hồ Quý Ly lên ngôi vua, nơi đây, trở thành kinh đô của nước Đại Ngu những năm đầu thế kỷ 15 (1400-1407). Xưa thành nhà Hồ có tên là An Tôn, rồi Tây Đô (để phân biệt với Thăng Long – Đông Đô), Thạch Thành, Tây Giai… tên Thành Nhà Hồ mới có từ sau Cách mạng tháng Tám.

Thành nhà Hồ được xây dựng và gắn chặt với một giai đoạn đầy biến động của xã hội Việt Nam, với những cải cách của vương triều Hồ và tư tưởng chủ động bảo vệ nền độc lập dân tộc. Theo PGS, TS Tống Trung Tín (Viện trưởng Viện khảo cổ học Việt Nam): “Bên ngoài Thành nhà Hồ được xây bằng đá nguyên khối, bên trong chủ yếu là đắp đất”. Thành được xây dựng trên bình đồ kiến trúc gần vuông, hai mặt Nam – Bắc dài hơn 900m, Đông – Tây dài hơn 700m. Đặc biệt thành vẫn còn nguyên 4 cổng theo hướng chính Nam – Bắc – Tây – Đông gọi là các cổng Tiền – Hậu – Tả – Hữu. 4 cổng ở các mặt thành xây cuốn vòm, trong đó cổng phía Nam là cổng lớn nhất với chiều rộng là 38m, cao 10m cùng 3 mái vòm lớn. Cho đến nay, Thành nhà Hồ là thành cổ duy nhất được xây dựng bằng cách ghép những khối đá xanh lớn, đục đẽo tinh xảo, vuông vức, có khối dài tới 4 – 5m; cao 1,2m; rộng 1,2m và nặng tới hơn 15 tấn, được xếp chồng khít lên nhau một cách tự nhiên theo hình chữ “Công” tạo thành vách thẳng đứng. Đặc biệt, có tấm ở cửa Tây dài tới 5,1m, rộng 1,59m, cao 1,30m. Tường thành cao trung bình từ 5-6m (có nơi lên đến 10m ở cổng Nam). Sau chuyến thăm thực địa tại Thành nhà Hồ đầu năm 2011, bà Katherine Muller-Marin, Trưởng đại diện UNESCO tại Việt Nam đã chia sẻ: “Tôi rất ấn tượng với việc xây Thành nhà Hồ bằng việc gắn những phiến đá rất lớn lại với nhau mà không cần đến một chất kết dính nào trong một khoảng thời gian rất ngắn, lại thực hiện hoàn toàn bằng sức người. Đây là một trong rất nhiều bí ẩn của Thành nhà Hồ mà các nhà khoa học Việt Nam cần tiếp tục nghiên cứu, tìm hiểu”…

Theo nhà nghiên cứu Lưu Trần Tiêu: “Thành nhà Hồ là một trong số ít các di tích lịch sử – văn hóa ở nước ta được nhà nước xếp hạng đợt đầu tiên năm 1962. Quy định khu vực bảo vệ Thành nhà Hồ gồm có hai khu vực: Khu vực bất khả xâm phạm là toàn bộ thành đá và khu vực đất trong nội thành, toàn bộ hào quanh thành và toàn bộ khu đất làm đền thờ Bình Khương. Khu vực 2 là khu vực bảo vệ gồm phần đất rộng gần 500m tính từ hào trở ra chạy quanh thành”. Hiện tại, Trung tâm Bảo tồn Di sản Thành nhà Hồ và huyện Vĩnh Lộc đã cắm hơn 200 cột mốc chỉ giới tại 3 vùng lõi: Thành nội, Đàn tế Nam Giao và khu vực La thành (đê Đại La), nhằm mục đích công khai phạm vi khoanh vùng bảo vệ vùng đề cử tại Di sản Thành nhà Hồ, mặt khác giúp chính quyền và nhân dân địa phương chủ động trong kế hoạch bảo vệ và tuyên truyền cho di tích.

Ngày 29-9-2009, Hồ sơ khoa học di sản văn hóa Thành nhà Hồ đã được gửi đến Trung tâm Di sản Thế giới. Với những giá trị lịch sử, văn hóa và kiến trúc nổi bật toàn cầu, cộng với tâm huyết nguyện vọng của nhân dân Thanh Hóa cùng sự quan tâm giúp đỡ của Ủy ban Quốc gia UNESCO Việt Nam; Hội đồng quốc tế về Di tích và Di chỉ – Cơ quan tư vấn của UNESCO; Đoàn ngoại giao các nước Thường trực Ủy ban Di sản thế giới; Cục Di sản Văn hoá, Viện Khảo cổ học Việt Nam…, hy vọng Thành nhà Hồ sẽ được ghi danh là Di sản văn hóa thế giới. Nhưng cho dù Thành nhà Hồ có trở thành di sản thế giới hay không, thì ngay từ lúc này, nếu có điều kiện, chúng ta hãy tới chiêm ngưỡng công trình kiến trúc lịch sử vĩ đại một thời của ông cha, để cảm nhận được sức sống mãnh liệt nơi mảnh đất cố đô…

_____________________________________________________

Posted in Chuyện du lịch VN, Chuyện kiến trúc, Di tích | Tagged: , , | Leave a Comment »

“Bà Tây di sản”

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Hai 4, 2011

Người ấy là bà Katherine Muller – Marin, Trưởng đại diện Văn phòng UNESCO tại Việt Nam. Bà đã được nhiều người Việt Nam gọi bằng cái tên “Bà Tây di sản”, bởi đã dành nhiều công sức và tâm huyết với các di sản của Việt Nam.

Đến Việt Nam đảm nhận vai trò Trưởng đại diện Văn phòng UNESCO mới hơn 1 năm, nhưng bước chân của bà đã in dấu ở hầu hết các di sản của Việt Nam. Thường xuyên có mặt trước công chúng trong tà áo dài Việt Nam với nụ cười cởi mở, bà Katherine Muller thực sự gắn bó với các di sản của Việt Nam bằng trách nhiệm và tình yêu…

“Tôi yêu tất cả các di sản của Việt Nam”

Bà Katherine Muller nhấn mạnh như vậy trong cuộc gặp gỡ với các nhà báo viết về lĩnh vực di sản văn hóa dịp Tết đến, Xuân về.

Người phụ nữ Costa Rica gốc Đức này được nhiều người Việt Nam âu yếm gọi là “bà Tây di sản”, bởi bà có rất nhiều tư vấn và đóng góp cho Việt Nam trong việc gìn giữ cũng như quảng bá các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể tiêu biểu.

Năm 2010 có thể coi là năm được mùa của di sản Việt Nam, với 4 di sản được UNESCO công nhận là Di sản thế giới. Đó là 82 Bia Tiến sỹ ở Văn Miếu – Quốc Tử Giám; Khu Di tích Trung tâm Hoàng thành Thăng Long; Hội Gióng và Cao nguyên đá Đồng Văn – Hà Giang.

Trong tất cả các sự kiện liên quan đến di sản của Việt Nam, công chúng đều thấy bà Katherine Muller – Marin, Trưởng đại diện UNESCO tại Việt Nam với vóc dáng cao lớn, mái đầu điểm bạc, phong thái ung dung xuất hiện trong bộ áo dài Việt Nam trang nhã…

Nhận nhiệm vụ ở Việt Nam từ tháng 9/2009, đến nay bà Katherine Muller đã có mặt ở rất nhiều vùng miền của đất nước ta, từ Cà Mau, Kiên Giang, Bà Rịa – Vũng Tàu đến Hà Giang…

Với cái nhìn của một nhà nghiên cứu văn hóa sâu sắc, bà Katherine Muller nhận xét: “Các di sản ở Việt Nam là sự hội tụ, tổng hòa của nhiều yếu tố, là sự liên kết giữa vật chất và tâm linh. Tất cả đều đẹp và có sự khác biệt, không trùng lắp. Thật khó nói là tôi yêu thích cái nào hơn cái nào, chỉ biết tôi dành tình yêu cho tất cả các di sản này”.

Đóng góp nhiều tâm huyết để giúp những di sản của Việt Nam được vinh danh ở tầm quốc tế, Katherine Muller cho biết bà luôn luôn hồi hộp chờ đợi kết quả bầu chọn và không giấu được niềm vui mỗi khi một di sản của Việt Nam được ghi danh.

Bà Katherine Muller đến Việt Nam công tác đúng vào khoảng thời gian có rất nhiều hoạt động sôi động kỷ niệm 1000 năm Thăng Long-Hà Nội. Bà chắc cũng không ngờ rằng mình sẽ có một nhiệm kỳ sôi động ở Việt Nam đến vậy. Bà vinh dự thay mặt UNESCO trao Bằng công nhận của tổ chức này cho nhiều di sản của Việt Nam. Năm 2010- đúng dịp Thủ đô tròn nghìn năm tuổi, 3 di sản của Hà Nội được UNESCO công nhận và với bà Katherine Muller đó là sự thành công ngoài mong đợi. Bà không giấu sự ngưỡng mộ về điều này bởi đây là lần đầu tiên trong lịch sử 60 năm của UNESCO, 1 thành phố có đến 3 di sản được vinh danh trong 1 năm.

Điều khiến bà vui mừng là sau khi được công nhận, các di sản của Hà Nội đang phát huy giá trị của mình. Những thành công của Hà Nội trong lĩnh vực di sản có tác dụng lan tỏa tới các địa phương khác và chúng ta càng thấu hiểu sự đóng góp của việc phát triển văn hóa, du lịch với sự phát triển kinh tế- xã hội của một đất nước.

Bà Katherine mong muốn người dân Thủ đô hãy nghĩ nhiều hơn tới việc bảo vệ môi trường bền vững của các di sản. Bà nói: “Tôi cũng muốn kêu gọi toàn thể nhân dân Hà Nội cùng nắm tay nhau làm cho Hà Nội trở thành thành phố sạch nhất châu Á – Thái Bình Dương. Trong môi trường đó, di sản sẽ được bảo vệ tốt hơn”.

Luôn đồng hành với các di sản Việt

Bà Katherine nhấn mạnh việc UNESCO sẽ đồng hành với Việt Nam trong việc bảo tồn các di sản, trong đó sẽ sẵn sàng giúp Việt Nam quản lý di sản, đặt trọng tâm vào việc vừa phát triển du lịch, vừa bảo vệ được di sản, bảo vệ hệ sinh thái vùng di sản mà UNESCO đã công nhận.

Điều bà quan tâm là cần phải để các di sản “sống” trong thời hiện đại mà không bị “bóp méo”. Bà Katherine Muller cũng cảnh báo nếu không thận trọng, di sản Việt Nam có thể bị “biến thành khu vực thương mại hóa” nhằm vừa lòng du khách. Điều này sẽ dẫn đến tình trạng khu vực di sản la liệt rác thải, hàng quán và sẽ khiến người dân cũng cảm thấy nghẹt thở vì tác động không mong muốn này.

Với các di sản phi vật thể ở Việt Nam việc bảo tồn còn khó khăn, bởi nhiều di sản khi được công nhận cũng đồng nghĩa với việc phải bảo vệ khẩn cấp để chúng khỏi biến mất. Theo bà Katherine Muller, với di sản phi vật thể, cần nghiên cứu để bảo đảm tính nguyên gốc của nó, đào tạo bồi dưỡng để thế hệ sau yêu thích và tiếp thu. Chẳng hạn với cồng chiêng Tây Nguyên, địa phương đã thành lập hàng trăm câu lạc bộ giới thiệu cho giới trẻ cách biểu diễn cồng chiêng để nối dài đời sống của di sản, hoặc cần để thế hệ trẻ hiểu biết sâu sắc về Hội Gióng.

Coi Việt Nam là quê hương thứ hai

Ở Hà Nội một thời gian ngắn mà cuộc sống của bà Katherine Muller đã có rất nhiều thay đổi. Bà thường xuất hiện trước công chúng trong những chiếc áo dài truyền thống mềm mại mà sang trọng, làm từ chất liệu lụa tơ tằm Hà Đông. Bà tâm sự: “Tôi đã phải lòng tà áo dài khi sang đất nước này. Đó là trang phục truyền thống của Việt Nam. Nó có một vẻ đẹp đáng kinh ngạc. Tôi rất thích màu sắc, chất liệu lụa và hiện đã có một bộ sưu tập áo dài”.

Bà rất thích không khí đón Tết của người Việt Nam. Năm ngoái, bà đã đón Tết Canh Dần với đủ đào, quất, mâm ngũ quả. Và năm nay, bà lại rất vui khi được đón Tết Tân Mão ở Việt Nam.

Bà Katherine Muller mong muốn được ở lại làm việc lâu dài tại Việt Nam và học tiếng Việt. Ở Việt Nam, bà nhận thấy sự ấm cúng của gia đình, tình bạn bè thân thiết và cũng chính vì thế, bà luôn mong muốn phải làm gì đó cho Việt Nam. Bởi với bà, Việt Nam như nhà, như quê hương thứ hai của bà vậy.

Theo VGP News

_____________________________________________

Posted in Chuyện đô thị, Chuyện đất nước, Di tích | Tagged: , , | Leave a Comment »

Hé lộ bí ẩn về những báu vật Hoàng cung

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Mười 18, 2010

Lê Quân

Từ ngàn năm trước, hoàng cung hiển nhiên đã là chốn thâm nghiêm, bí ẩn đối với người đời. Các báu vật của hoàng cung như ngọc tỷ, kim ấn, kiếm vàng, mũ miện, đồ ngự dụng của vua và hoàng tộc lại càng muôn phần bí ẩn, không phải ai cũng đã một lần nhìn thấy.

Cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Bảo Đại, vị hoàng đế cuối cùng của vương triều Nguyễn tuyên bố “Vui lòng làm dân một nước tự do hơn làm vua một nước nô lệ”, đồng ý thoái vị và giao nộp toàn bộ những biểu tượng quyền lực tối thượng trong chế độ phong kiến cho chính quyền cách mạng. Qua 65 năm lưu giữ và bảo quản, 50 năm sau lần trưng bày đầu tiên (9/1961), Bảo tàng Lịch sử Việt Nam lại mở cuộc triển lãm “Bảo vật Hoàng cung”, bức màn bí ẩn ấy cũng chỉ hé lộ phần nào.

Báu vật cũng trải truân chuyên

Ông Phạm Quốc Quân, nguyên Giám đốc Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, là một trong những người được tiếp xúc nhiều nhất với các báu vật hoàng cung tâm sự: “Tôi cũng chỉ được mắt thấy tay sờ các hiện vật này từ năm 2007, khi kho báu này được cơ quan chức năng bàn giao lại cho Bảo tàng để gìn giữ và phát huy giá trị. Ngày 30/8/1945, chúng ta tiếp nhận kho báu từ vua Bảo Đại.
Tiếp đó, do đất nước mới giành độc lập gặp nhiều khó khăn về tài chính, Bác Hồ đã phát động Tuần lễ Vàng kêu gọi mọi người ủng hộ ngân sách quốc gia, có nhiều hiện vật được hiến tặng là của các thân nhân trong hoàng tộc. Khi đó, cũng có nhiều ý kiến cho rằng, nên đem hủy hết các báu vật hoàng cung đi, vừa để dùng tiền vàng ấy phục vụ kháng chiến vừa tận diệt tàn dư chế độ phong kiến, nhưng Bác Hồ yêu cầu giữ lại vì những giá trị văn hóa, lịch sử của nó.
Gần nửa thế kỷ (từ năm 1961- 2007), lãnh đạo bảo tàng chúng tôi có nhiệm vụ là cứ đến dịp Tết thì đến kho ngân hàng để kiểm tra các hòm đựng bảo vật đang được niêm phong rất cẩn thận. Trước năm 2007, bản thân tôi làm Giám đốc Bảo tàng hơn 10 năm, cũng như các thế hệ giám đốc khác, đều chỉ được nhìn, kiểm tra niêm phong, còn hiện vật như thế nào thì chỉ được biết qua các bức ảnh đen trắng, chưa từng được mắt thấy tay sờ”.
Hiện tại, ở triển lãm “Bảo vật hoàng cung”, chỉ trưng bày một chiếc ấn ngọc, hai chiếc ấn vàng, hai bộ sách vàng, hai chiếc mũ miện, hai thanh kiếm báu, hai chiếc đai vàng cẩn ngọc, cùng một bộ ấm chén ngọc bịt vàng, là một phần nhỏ trong hàng trăm hiện vật quý của vương triều Nguyễn được chế tác từ trước và sau khi vua Gia Long lên ngôi.

Chiếc ấn ngọc có khắc dòng chữ “Đại Nam thụ thiên vĩnh mệnh truyền quốc tỷ”, làm bằng ngọc trắng, được coi là quốc bảo của nhà Nguyễn, thường được cất giữ đặc biệt nghiêm mật, đến nhà vua cũng hiếm khi dùng. Hai chiếc ấn còn lại đều bằng vàng ròng, có tên “Sắc mệnh chi bảo” (nặng 8,5kg, có hình vuông, trên ấn có hình rồng ngẩng đầu, 2 sừng dài, xòe dải đuôi như ngọn lửa), “Hoàng đế tôn thân chi bảo” (nặng 8,95kg, cũng có hình rồng lớn tương tự).
Theo sách Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, quốc bảo của nhà Nguyễn có 24 chiếc ấn báu, trong đó, có 4 chiếc ấn đúc từ thời chúa Nguyễn (3 bằng vàng, 1 bằng ngọc); có 14 chiếc đúc bằng vàng, 6 chiếc đúc bằng ngọc dưới thời Gia Long, Minh Mạng. Ngoài ra, còn nhiều ấn triện quý khác cũng làm bằng vàng ngọc khác dưới các triều vua sau đó.

Quanh chiếc ấn vàng và thanh kiếm mà vua Bảo Đại giao nộp cho chính quyền cách mạng tại Ngọ Môn (Huế) năm 1945, có một hành trình lưu lạc khá lạ. Ấn vàng có tên “Hoàng đế chi bảo” là biểu tượng của vua, nặng khoảng 10,7kg, được đúc vào thời vua Minh Mạng (năm 1823).
Ấn kiếm được đem ra Hà Nội dự lễ độc lập vào ngày 2/9. Rồi toàn quốc kháng chiến, ấn kiếm được cất giữ tại một ngôi chùa cổ ở ngoại thành Hà Nội, bị thực dân Pháp tình cờ phát hiện khi đập phá chùa để lấy gạch xây đồn bốt. Năm 1952, Pháp tổ chức trao lại ấn kiếm cho Bảo Đại trên tư cách “Quốc trưởng” chính phủ bù nhìn.
Bảo Đại cho mang chúng sang Pháp, trao cho hoàng hậu Nam Phương và hoàng tử Bảo Long, rồi cất giữ chúng vào két sắt của Ngân hàng Châu Âu. Nghe nói về sau, vì tranh giành sở hữu ấn ngọc và kiếm vàng, hai cha con đã đưa nhau ra tòa, tòa xử Bảo Đại được giữ chiếc ấn, Bảo Long giữ thanh kiếm. Đến nay, hai bảo vật này vẫn còn lưu lạc nơi xứ người, chưa trở về với nhân dân ViệtNam.
Còn về chiếc ấn “Hoàng hậu chi bảo” của Nam Phương hoàng hậu (vị hoàng hậu duy nhất được phong khi còn sống của nhà Nguyễn, cũng là hoàng hậu cuối cùng của chế độ phong kiến Việt Nam) cũng không còn trong tay nhân dân ta nữa. Đó là chiếc ấn vàng có đôi rồng chạm nổi ở tay cầm, nặng 4,9kg, bị mất trộm vào ngày 4/7/1961 tại Viện Bảo tàng Lịch sử khi trưng bày.
Cùng mất trong vụ trộm này còn có một âu đựng trầu thuốc bằng vàng nặng 0,5kg. Một thời gian sau, kẻ gian lại tiếp tục lấy trộm một ấn bạc mạ vàng khắc hàng chữ “Cao đức Thái hoàng Thái hậu” và hai quyển kim sách cũng bằng bạc mạ vàng, một quyển khắc chữ “Bảo Long” và một quyển khắc chữ “Khải Định thập niên”.
Cơ quan Công an tìm ra thủ phạm là Nguyễn Văn Thợi, 33 tuổi, có 17 tiền án tiền sự về tội trộm cắp và buôn lậu, nhưng chiếc ấn vàng của Nam Phương hoàng hậu đã bị thủ phạm chặt phá thành từng thỏi nhỏ để tiện bán lấy tiền tiêu xài. Chỉ có chiếc ấn bạc mạ vàng ghi “Cao đức Thái hoàng Thái hậu” được thu giữ nguyên vẹn, cùng khá nhiều tang vật là vàng bạc khác.
Như vậy, những chiếc ấn vàng quan trọng liên quan đến vợ chồng vua Bảo Đại đều đã mất, một chiếc đang trong tay người nước ngoài, một chiếc đã bị hủy.

Kỳ công phục chế

Ông Phạm Quốc Quân, người trực tiếp chỉ đạo việc phục chế các bảo vật nhớ lại: “Khi chúng tôi tiếp nhận các hiện vật về bảo tàng, có một thực tế rằng, sau thời gian dài kháng chiến, rồi 46 năm bảo quản tại ngân hàng, tình trạng của các hiện vật rất đáng báo động vì hư hại nghiêm trọng. Nhất là các vật có chất liệu hữu cơ như đồi mồi, ngà, vải, da, san hô…

Bốn chiếc mũ của nhà vua thì được bọc trong chiếc bao đựng bột mì và hư hại biến dạng đến mức không thể hình dung ra đó là chiếc mũ miện uy nghi ngày xưa. Bộ di vật cành vàng lá ngọc, khay ngà thì bị mốc xanh, mọt ruỗng. Các vỏ kiếm báu bằng đồi mồi nạm vàng bị phong hóa hết. Tình cảnh này buộc chúng tôi phải đặt ra các phương án phục chế để giữ gìn các bảo vật. Sau nhiều năm tháng kỳ công tìm hiểu, thu thập tài liệu, lấy ý kiến của các nhà nghiên cứu văn hóa, tìm nghệ nhân, thợ giỏi, cuối cùng cũng có những thành tựu”.
Những người có công lớn trong việc phục chế là tốp thợ kim hoàn do ông Vũ Kim Lộc (quê ở xã Dị Chế, huyện Tiên Lữ, Hưng Yên) hiện đang sinh sống ở TP HCM, đứng đầu. Ông Vũ Kim Lộc tâm sự: “Năm 2008, ông Phạm Quốc Quân khi ấy còn là Giám đốc Bảo tàng, gặp tôi tại TP HCM, có đề nghị tôi về việc phục dựng mũ miện triều Nguyễn, vì biết tôi đã từng phục dựng thành công một chiếc mũ có từ thế kỷ VII của hoàng tộc Chăm. Quả thực, ban đầu tôi rất băn khoăn.
Trải qua nhiều ngày tìm hiểu, rồi ra tận Hà Nội nghiên cứu, tôi mới dám nhận lời. Âu nó cũng là một duyên ngầm định nào đó, bởi trước đó không lâu, tôi bỗng tìm cuốn Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ của các sử gia triều Nguyễn viết để đọc, và nghiên cứu rất kỹ phần viết về các quy định, ý nghĩa của từng loại mũ mãng. Nên chỉ nhìn vài chi tiết, tôi đã ngầm ướm được đó là loại mũ gì.
Bắt tay vào công việc, chúng tôi phối hợp cùng nhau đặt ra các phương án, sưu tầm các tư liệu về mũ các triều đại ở Trung Quốc, Hàn Quốc, các bức ảnh, tượng vua chúa, như tượng vua Khải Định, ảnh vua Duy Tân, sưu tập các loại mũ thờ ở đình chùa, đọc lại các tài liệu ghi chép, sử chính văn của triều Nguyễn về mũ… Nhưng thực hành việc chế tác mới thật là khó khăn.
Thứ nhất, với mớ châu báu hỗn độn dính đầy đất cát này, cần xác định vị trí từng chi tiết, thứ nào còn nguyên trạng, thứ nào cần duỗi thẳng vàng hay uốn cong lại. Tiếp đó, hình dung và đặt thử nó trên một mô hình chiếc mũ miện bằng xốp, tỉ mẩn thử nghiệm từng vị trí, rồi chụp ảnh, ghi chép lại nếu cảm thấy nó đã hợp lý. Mỗi lần đặt thử hay chỉnh sửa lại phải cùng các nhà khoa học hội thảo để xin ý kiến, có đến khoảng 20 lần.

Khi các ý kiến đã đồng thuận, chúng tôi mới bắt đầu làm cốt mũ bằng gỗ, rồi tiến tới làm khung đồng cho chiếc mũ. Đến như loại vải nào đặt trên cốt đó cũng phải dựng lại khung để dệt lại, vì sử sách ghi nó màu đen, nhưng đen như thế nào, dệt từ cái gì cũng là những bài toán hóc búa. Khi đã chuyển sang bước hoàn thiện thì những khó khăn khác nảy sinh.
Đó là những chi tiết nhỏ của hoa văn như chân rồng, râu rồng, hạt ngọc bị mất hoặc thiếu thốn, khiến không ít nghệ nhân kim hoàn lắc đầu khuyên chúng tôi dừng lại vì độ tinh xảo của các nghệ nhân cung đình không dễ gì bắt chước, không khéo lại làm mất đi vẻ đẹp của hiện vật gốc. Sau hơn 1 năm, chúng tôi có thể hài lòng vì đã đưa 4 chiếc mũ trở về với trạng thái hoàn hảo”.
Bảo tàng Lịch sử Việt Nam cũng đã phục chế thành công những chiếc khay ngà, thanh kiếm vàng “An dân”… bị hư hại, dù việc đi tìm những chất liệu quý và có tuổi đời tương đương là cả một công trình đòi hỏi tâm huyết, nghệ thuật sáng tạo và sự kỳ công của các thợ thủ công Việt Nam hôm nay.

__________________________________________________________

Posted in Chuyện lịch sử, Di tích | Tagged: , , , , | Leave a Comment »

Cổ Loa- kinh đô bi tráng

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Năm 30, 2010

HÀ LẬP NHÂN

Lần đầu tiên người Việt phát hiện ra những điều sâu kín nhất trong chính tâm hồn mình. Đó là tích truyện An Dương Vương quay lại chém chết con gái Mỵ Châu yêu quí của Người sau khi kinh đô Cổ Loa thất thủ. Vì vậy cho dù bản thân An Dương Vương không phải là một nhà tư tưởng, nhưng tích truyện về ông thì lại có một tầm tư tưởng thật sâu sắc.

Có lẽ không một người Việt Nam nào khi đọc câu truyện trên lại không tin vào “sự kiện” đó. Vì vậy việc đặt câu hỏi: Có thật như vậy không? sẽ trở nên thừa. Bởi vì vấn đề ở đây không phải là đi tìm để chứng minh hay bác bỏ một sự kiện lịch sử. Và nếu trong thực tế đã có một sự kiện lịch sử như vậy được chứng minh, thì có lẽ ý nghĩa của tích truyện sẽ bị thu hẹp đi nhiều, bởi lẽ trong trường hợp này, huyền thoại sâu sắc hơn và rộng lớn hơn một sự kiện. Một sự kiện lịch sử chỉ liên quan tới số phận của một con người cụ thể, dù đó là con người ở trên đỉnh cao của danh vọng, quyền lực, và đại diện cho cả một quốc gia như cha con An Dương Vương. Còn trong câu chuyện này, cái chết của Mỵ Châu đã trở thành ý chí của nhân dân – một nhân dân không bao giờ chịu khuất phục. Vì vậy, sự tồn tại ngắn ngủi của quốc gia Âu Lạc của Thục Phán, hay nói cách khác, thất bại đầu tiên của người Việt cần phải được lý giải. Và chính việc cố gắng lý giải ấy đã trở thành động thái người Việt nhìn lại bản thân mình.

Dù cho đó là cách nhìn muộn mằn của thời Lý, thời Trần, thời Lê hay có thể sớm hơn, ngay từ thời Bắc thuộc – và nhiều khả năng là như vậy – thì vẫn là Cổ Loa, chứ không phải bất cứ một kinh đô nào khác đã được lịch sử lựa chọn để làm công việc đó, bởi vì cái kinh đô bi tráng ấy đã có một số phận thật đặc biệt. Lần đầu tiên trong lịch sử hình thành nhà nước Việt cổ, kinh đô Cổ Loa đã trở thành giao điểm của mọi mối quan hệ mà kịch tính đã được đẩy lên tới đỉnh điểm. Cổ Loa đã trở thành biểu tượng của sự xung đột giữa Tình yêu và Quyền lực, giữa Mất và Còn, giữa Tình cảm và Lý trí, giữa Cha và Con, giữa Vợ và chồng, giữa Bạn và Thù, giữa Hợp và Tan, giữa Sáng và Tối, giữa Phút giây và Muôn thuở, giữa Thủy chung và Phản bội. Những mâu thuẫn ấy dường như không có bất cứ một lời giải nào ngoài cái chết, đổ vỡ, và mất mát. Nhưng với cái chết của Mỵ Châu, mọi mâu thuẫn đã được hóa giải. Những xung đột đã trở thành cái ầm ào trên bề mặt đại dương, còn lòng biển sâu hùng vĩ vẫn lặng như tờ. Với tích truyện Mỵ Châu, người Việt đã tìm thấy cái bản thể vĩ đại ẩn sâu sau mỗi sự kiện, cho dù tầm vóc của sự kiện có to lớn đến đâu.

Lâu nay, không ít sử gia đã từng đặt câu hỏi: Nếu không có sự xâm lược của Phương Bắc thì quốc gia Âu Lạc đã phát triển theo đường hướng nào? Lịch sử thiên về việc giải thích các sự kiện bằng các qui luật, nên nó không nhìn nhận quá khứ theo cách giả định như vậy. Tuy nhiên có một thực tế là việc người Việt chuyển kinh đô từ Phong Châu xuống đất Cổ Loa là một bước tiến mang tính lịch sử lớn lao. Kinh đô Phong Châu dẫu là một thánh địa của người Việt cổ trong buổi đầu dựng nước, nhưng khi biển rút đi, một đồng bằng phì nhiêu trải rộng đến tận chân trời đang chờ được khai phá. Nếu trước đây Phong Châu là đầu mối giao thông thuận lợi, đặc biệt với các vùng sản xuất đồ đồng phát triển như quốc gia Điền thì đến thời An Dương Vương đồng không còn đóng vai trò quyết định nữa. Đồ sắt ra đời đã trở thành một ưu thế tuyệt đối so với đồ đồng. Trung tâm sản xuất sắt lúc này là vùng đất Trung Nguyên của đế quốc Tần Hán. Con đường vận chuyển, buôn bán sắt giờ đây là tuyến đường ven biển. Công cụ sắt ra đời thúc đẩy nông nghiệp phát triển vượt bậc. Cùng với nó là việc cải thiện các loại giống, kỹ thuật canh tác, tăng các vật nuôi, làm cho giá trị thặng dư nông nghiệp trở thành đầu bảng. Lúc đầu, vùng Lĩnh Nam và Âu Lạc đều nhập khẩu những thứ đó từ Trung Nguyên thông qua tuyến đường biển. Vì vậy so với Cổ Loa nằm giữa đồng bằng sông Hồng, Phong Châu đã trở thành nơi hẻo lánh. Những biến động chính trị tại khu vực này trở nên dồn dập hơn. Các bộ tộc tự trị cũng cảm thấy cần liên hợp lại với nhau để trở thành nhà nước. Những thiết chế bộ lạc không còn thích hợp cho một tình thế nóng bỏng nữa, mà nó cần phải được thay thế bằng một hình thức nhà nước có tổ chức cao hơn. Chính vì vậy, câu chuyện tranh giành ngôi báu giữa Hùng Vương và An Dương Vương, dù có xô sát, có đổ máu, nhưng vẫn được huyền thoại kể đến như một cuộc nhường ngôi nội bộ để chuẩn bị cho một cuộc đối đầu quyết liệt với ngoại nhân. Đó chính là cuộc đấu tranh một mất một còn giữa An Dương Vương và Triệu Đà, dù rằng cuộc hôn nhân Mỵ Châu- Trọng Thủy đã tưởng chừng gắn bó hai thế lực chính trị- nhà nước ấy lại với nhau để chống một kẻ thù chung còn to lớn hơn.

Như mọi người đều biết, trong các xã hội bộ lạc, hôn nhân là một hình thức trao đổi, mặc cả, và trên hết là một cam kết hình thành các liên minh quyền lực. Nhưng với trường hợp Triệu Đà và Thục Phán, giữa Mỵ Châu và Trọng Thủy thì lại hoàn toàn khác. Ngay từ đầu, cuộc hôn nhân giữa đôi trai tài gái sắc đã là một âm mưu đánh cắp bí mật quân sự của đối phương, để loại trừ và thôn tính đối phương. Một bên quá mạnh và quá tin tưởng vào sức mạnh nỏ thần của mình nên đã thất bại, đó chính là An Dương Vương, biểu tượng của quyền lực trong sự đối đầu với một quyền lực khác là Triệu Đà. Đây là típ quan hệ đơn giản Còn- Mất. Nhưng cặp quan hệ Mỵ Châu- Trọng Thủy thì lại không hề đơn giản như vậy. Trong mối quan hệ này, Trọng Thủy mạnh vì một âm mưu đã được thực hiện quá trọn vẹn, dễ dàng. Mỵ Châu yếu vì đã quá dễ dàng để bị lừa dối. Nhưng kết cục Trọng Thủy vẫn phải bỏ lại tất cả để đi theo nàng, bằng cách gieo mình xuống giếng mà chết. Một kết cục thật có hậu, bởi vì My Châu chỉ trở thành ngọc trai quí sáng khi ngọc ấy được rửa bằng nước giếng Cổ Loa, nơi Trọng Thủy đã ký thác số phận mình. Cái chết ấy có phải là một trả giá cho lỗi lầm? Hay chỉ có như vậy thì tình yêu mới được bù đắp và trở nên trọn vẹn? Giếng Ngọc Cổ Loa đã trở thành biểu tượng của một mối hận tình, nó đã muôn đời gột rửa nỗi oan khuất cho nàng Mỵ Châu.

Nhưng còn Thục Phán, một ông Vua sai lầm và một người cha sai lầm, ai sẽ gánh chịu tội lỗi cho ông? Với ông mọi sự không còn chỉ là huyền thoại nữa. Sử cũ ghi rằng: Khi nhà Tần đổ, Triệu Đà đã giết hết các trưởng lại do nhà Tần đặt ra rồi đưa thân thích lên thay, mưu lập nước riêng. Đà dùng kế đưa Trọng Thuỷ vào làm con tin tại triều đình Cổ Loa để phá lẫy nỏ thần của An Dương Vương, rồi tiến đánh nhà vua. Vua không biết lẫy nỏ đã mất, vẫn ngồi đánh cờ mà cười bảo rằng: “Đà không sợ nỏ thần của ta sao?” Khi Đà phá thành, vua đem nỏ ra bắn, nhưng không công hiệu. Rồi vua thua, đưa Mỵ Châu ngồi trên mình ngựa chạy về phía nam. Khi cùng đường, Thần Kim Qui nổi lên nói “Kẻ ngồi sau ngựa là giặc đấy, sao không giết đi?”. Vua rút gươm chém Mỵ Châu, cầm sừng tê bước xuống biển rẽ nước mà đi.

Tích truyện vua chém Mỵ Châu có lẽ không gây ấn tượng cho người nghe bằng câu hỏi của nhà vua: “Đà không sợ nỏ thần của ta sao?”. Câu hỏi ấy có một dư vị thật đặc biệt. Nó không hẳn là một lời tự đắc, không hẳn là một lời đe dọa, cũng không hẳn là một tin tưởng thái quá vào sức mạnh kỹ thuật của mình, cũng không hẳn là một sự ngờ vực nào đó. Nó có tất cả những cái đó. Nhưng nhà vua chỉ thiếu cái bản lĩnh mà Đà có thừa. Vì vậy cho dù cuộc chiến giữa An Dương Vương và Triệu Đà giống như một cuộc tranh giành quyền lực giữa hai bộ lạc ngang sức, ngang tài, thì Triệu Đà vẫn là một cái gì đó nằm ngoài tầm hiểu biết của tư duy Việt. Ông ta không chỉ đại diện cho một sức mạnh quân sự, mà còn đại diện cho một cái gì khác thế, một thế lực hắc ám mà lần đầu tiên người Việt vấp phải. Đó chính là cái hắc ám của những mưu đồ khao khát thống trị lâu dài của một nền văn minh này với một nền văn minh khác, của một dân tộc này với một dân tộc khác.

Nếu đằng sau Triệu Đà là cả một bề dày 2000 nghìn năm người Trung Hoa hợp tung, liên hoành, tách nhập, chinh phạt, âm mưu, giết chóc, biến tất cả thành phương tiện để đạt được quyền lực, và người ta đã tìm được hầu hết các chủ thuyết chính trị thích ứng với bất cứ tình huống nào của lịch sử, thì đằng sau An Dương Vương là một bầu trời huyền thoại, đầy chất bao dung, mơ mộng. Trong nước, người ta tôn trọng người hiền tài, với người ngoài đối xử như khách quí. Các cuộc va chạm bộ lạc dường như nặng chất nghĩa hiệp. Người ta phục tài nhau mà đi theo nhau. Và đôi khi cái tài đó cũng mơ hồ như một thứ gì xa lạ vậy. Cuộc đụng đầu giữa An Dương Vương và Triệu Đà là một cú va đập giữa hai vũ trụ quá chừng khác biệt bỗng rơi vào giao điểm của hai quĩ đạo đang tìm đường vận động, trong đó riêng An Dương Vương không hề được chuẩn bị.

Cái bi kịch của nhà nước Âu Lạc là nó quá mới mẻ. Về phương diện nhà nước, chắc chắn An Dương Vương chưa tìm được cho mình một ý thức hệ nhất quán hay một chủ thuyết để làm chỗ dựa tinh thần. Di sản kinh nghiệm của các Vua Hùng trong trường hợp này không còn hữu dụng nữa., vì một tổ chức xã hội kiểu gia đình mở rộng thời bộ lạc không còn là một qui mô thích hợp trước một nhiệm vụ lịch sử nặng nề gấp bội. Giờ đây trên vai ông là cả một sứ mệnh. Ông đã gánh quốc gia từ huyền thoại đi thẳng vào lịch sử. Anh sáng êm dịu của quá khứ dường như đã cho An Dương Vương một lối nhìn khác vào hiện thực. Ông nhìn nó trong màu sắc huyền thoại. Vì vậy ông mới vừa đánh cờ vừa hỏi: “Đà không sợ nỏ thần của ta sao?”. Câu hỏi của ông có vẻ thừa, vì Đà đã thực sự sợ nỏ thần của ông. Chính vì biết sợ mà Đà đã vô hiệu hóa được nỏ thần của An Dương Vương. Trong cuộc đấu giữa ông và Đà, ông đã thua vì kẻ thù của ông đã biết dùng trí một cách hữu hiệu. Tích truyện về An Dương Vương là một kinh nghiệm tổ chức nhà nước, mà trong đó không đơn giản chỉ là vấn đề quân sự. Triệu Đà đã được rèn luyện để có thể tổ chức được một nhà nước hoàn chỉnh, còn An Dương Vương thì vẫn đang đi tìm một hình thức nhà nước thích hợp trong một hoàn cảnh lịch sử đã trở nên nóng bỏng.

Tính bi tráng của tích truyện là ở chỗ cả An Dương Vương, Mỵ Châu lẫn Trọng Thủy đều rất chân thành. Mỗi người chân thành theo cách của mình. Mỵ Châu vì chân thành tin yêu chồng nên đã lầm lỗi. Trọng Thủy vì chân thành với sự nghiệp của cha mà lừa dối vợ. An Dương Vương chân thành với vương vị và cương thổ mà giết oan ái nữ. Kinh đô Cổ Loa trong bối cảnh ấy không khác gì một sân khấu với các nhân vật, các sự kiện đều ở điểm nút. Tích truyện đã xây dựng thành công một nàng Mỵ Châu tột cùng trong trắng, bởi cuộc đời nàng đã bị đặt vào một mê cung quyền lực không có lối ra. Trong bối cảnh ấy, cuộc đời nàng đã thăng hoa trở thành thuần túy tinh thần, trở về với cõi mênh mang vô định của bản thể. Vì vậy một vị vua phàm trần như Thục Phán không còn cách thức nào khác để thăm dò cái bản thể tinh thần ấy bằng cách chia tách, xé lẻ. Nói bằng một ngôn ngữ khác thì đó chính là phương pháp phân tích. Nhát gươm của Thục Phán giết con chính là nhát cắt vào một nguyên biểu tượng để quan sát nó và nhận thức nó.

Vậy là một thời đại vụt qua như một tia chớp. Nó là ranh giới giữa bán khai và văn minh. Nó chẳng khác nào một trạng thái liễu ngộ chân lý để thoát ra khỏi đêm thẳm vô minh tiền sử. Kinh đô Cổ Loa chính là tia chớp của ý thức Việt. Nó rạch đôi bầu trời tình cảm và lý trí, hệt như lưỡi gươm đã cắt ngang cuộc đời trong trắng của nàng Mỵ Châu để dòng máu của nàng mãi mãi sinh sôi thành trai ngọc. Cổ Loa trở thành Kinh đô Bi tráng vì lần đầu tiên người Việt nếm trải thất bại trong tuổi trưởng thành.

H.L.N
_____________________________________________________________

Posted in Chuyện lịch sử, Chuyện đất nước, Di tích, Hà Nội nghìn năm | Tagged: , , | Leave a Comment »

Bộ xương của người rừng

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Năm 24, 2010

Nguyễn Cảnh Dũng

– Từ trước đến nay các tài liệu vẫn nói rằng, đười ươi đã không còn xuất hiện ở lục địa cách đây 8.000 năm. Thế nhưng năm 1998, một người dân vô tình tìm thấy bộ xương của mẹ con đười ươi còn khá nguyên vẹn ở xã Cao Răm (Hoà Bình). Từ bộ xương này, các nhà khảo cổ đã chứng minh, đười ươi chỉ mới biến mất cách đây 4.000 năm.

Phát hiện của thợ săn

Anh Bùi Văn Long là một thợ săn có hạng ở Cao Răm. Một hôm đi săn trên núi Sáng, anh lạc vào hang đá lúc nào không hay. Hang đá nằm giữa đỉnh núi, muốn vào hang phải bắc thang dây mới trèo lên được. Lần đó vì mải đuổi theo một con trăn khổng lồ nên anh quên cả hiểm nguy. Anh Long là người đầu tiên ở Cao Răm dám đặt chân vào hang đá giữa đỉnh núi này (sau này người dân đặt tên là hang núi Sáng).

Vừa lọt vào cửa hang, hơi lạnh phả ra khiến toàn thân anh ớn lạnh. Càng đi sâu vào trong hang mùi ẩm mốc bốc lên ngột ngạt. Vào tới đáy hang trời tối như hũ nút.

Dưới ánh sáng lờ mờ của ánh đèn săn, anh Long bỗng giật bắn mình khi phát hiện ra một cái đầu lâu nổi lên trên vũng đất mềm, hai hốc mắt to tròn, những chiếc răng cửa còn nguyên vẹn. Sau một phút giật mình, anh Long đã trấn tĩnh lại rồi tiến lại nhấc chiếc đầu lâu lên phát hiện thấy không chỉ một mà có đến hai cái đầu lâu, một lớn, một bé.

Hoảng hốt, anh chạy về bản và hỏi những cụ cao niên nhưng chẳng ai biết gì. Sáng sớm hôm sau anh lên báo cho UBND xã Cao Răm biết, cả đoàn tức tốc leo lên hang đá một phen. Sau những miệt mài tìm kiếm dưới lớp đất bùn nhão, đoàn đã thu hồi được nhiều xương cốt.

Viện Khảo cổ học Việt Nam về giám định và đã khẳng định những di cốt trên là hai bộ xương đười ươi. Một bộ còn khá nguyên vẹn là di cốt của một cá thể đã trưởng thành, còn bộ di cốt không còn nguyên vẹn là di cốt của một con chưa trưởng thành.
Ông Lê Quốc Khánh, phó giám đốc Bảo tàng Hoà Bình nhận định: “Có thể hai mẹ con đười ươi đã vào hang kiếm ăn nhưng do hang tối nên bị rơi xuống và chết ở đó bởi chỗ tìm thấy xương là giếng sâu hàng chục mét”.

Mở ra những nhận định mới

Từ phát hiện mới này, đặt ra vấn đề liệu đười ươi ở Việt Nam bị tuyệt chủng từ giai đoạn nào? Các nhà nghiên cứu cho rằng đười ươi hầu như bị tuyệt chủng trên dải đất này từ thời đá mới. Trong các di chỉ khảo cổ học thuộc Văn hoá Hoà Bình chưa hề tìm thấy xương răng của đười ươi.

Di tích muộn nhất được biết đến của giống đười ươi ở Việt Nam là các di tích răng hàm dưới của đười ươi tìm thấy ở Mái Đá Ngườm trong vùng Thần Sa (Thái Nguyên) xác định niên đại bằng phương pháp phóng xạ cacbon (C14) thì cách đây 23.000 năm.

Ông Khánh nhận định: “Di cốt đười ươi tìm thấy ở núi Sáng chứng minh đười ươi chỉ cách chúng ta 4.000 – 5.000 năm chứ không phải là 8.000 năm như từ trước đến nay vẫn khẳng định”.

Đã có giả thuyết cho rằng khoảng 20.000 năm trước đây, mực nước biển ở toàn vùng Đông Nam Á ở vào thời kỳ cực thấp. Khi ấy con người và động vật có thể di chuyển dễ dàng khắp vùng Đông Nam Á hải đảo. Khí hậu toàn vùng lúc đó ấm áp, rừng cây nhiệt đới phát triển rất mạnh, đười ươi sinh sôi và phát triển cả trên một vùng rộng lớn.

Sau thời kỳ ấm áp này là một đợt lạnh toàn cầu xuất hiện và những đàn đười ươi phải di chuyển dần về phương Nam, đến các vùng mà nay là hải đảo của Đông Nam Á. Tiếp đó khí hậu toàn cầu ấm trở lại, đồng thời mực nước biển dâng cao nhấn chìm nhiều vùng trước đây là lục địa và phân cách đất liền với hải đảo.
Lúc này những con đười ươi đã di chuyển về phương Nam nay không thể vượt biển để trở về đất liền. Bởi vậy, trong khoảng một vạn năm trở lại đây, các nhà khảo cổ đã không thể tìm thấy chứng tích của đười ươi trong các di chỉ. Người ta tin rằng đười ươi đã bị tuyệt chủng ở Việt Nam từ thời điểm này.

Hai bộ di cốt trên theo cảm nhận của giới chuyên môn thì mức độ hoá thạch chưa cao và sẽ trả lời nhiều câu hỏi khoa học mà từ trước đến nay vẫn còn tranh cãi.

_________________________________________________

Posted in Chuyện Sinh học, Di tích, Khảo cổ | Tagged: , , , | Leave a Comment »

“Vương quốc” của người Việt cổ

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Năm 23, 2010

Nguyễn Cảnh Dũng

– Tỉnh Hoà Bình có nhiều địa điểm mà xưa kia người nguyên thuỷ đã chọn làm nơi sinh sống. Thế nhưng, hiếm có nơi nào sự sống lại tập trung nhiều như ở xã Cao Răm, huyện Lương Sơn. Tại đây, nhiều hang động trên dãy núi đá Sáng cao chất ngất nối dài hàng trăm mét là nơi tổ tiên ta đã sinh sống.

Thung lũng cổ

Vẫn còn đó cái nghèo cái đói trên mảnh đất này nhưng ai đó đã bảo Cao Răm như một bức tranh hoàn mỹ của đất trời thật chẳng sai. Ở giữa thung lũng bằng phẳng, rộng lớn người dân đang ở là những dãy núi cao hùng vĩ bao bọc. Xuyên qua thung lũng là con sông Bùi bốn mùa tắm mát cho cánh đồng luôn xanh ngát. Những người Mường sống trên mảnh đất này tự hào lắm, họ bảo đây là mảnh đất tổ tiên người Việt đã từng sống và bây giờ con cháu họ tiếp tục sinh sôi phát triển ở đây.

Cụ Bùi Ngọc Nghê, một người cao niên của xã Cao Răm bảo, cụ cũng không nhớ rõ người Mường đã sinh sống ở thung lũng Cao Răm này từ lúc nào nhưng phải có từ lâu lắm. Hết thế hệ này đến thế hệ khác nối tiếp nhau định cư bên chân dãy núi Sáng.

Sống giữa nơi núi rừng âm u, bà con hay kể câu chuyện về một hang đá được gọi là hang Chổ, nơi linh thiêng nhất của bản. Ngày đó, chẳng ai dám bén mảng lại gần cửa hang vì các cụ bảo nơi đó là nhà của tổ tiên trước đây. Những ngày lễ, Tết, bà con phải tổ chức cúng lễ. Nếu ai xâm phạm vào đó sẽ bị thần linh phạt nặng.

Những câu chuyện nhuốm màu truyền thuyết được các đời sau “thêu dệt” ngày một huyền bí hơn, ăn sâu vào tiềm thức của những cư dân Mường nơi đây. Đời nọ truyền cho đời kia nên họ rất thận trọng mỗi khi vào các hang đá.

Dấu ấn thời gian

Những hang đá dưới chân núi Sáng là niềm tự hào đối với người dân xã Cao Răm. Ông Bùi Tiến Ất, Chủ tịch UBND xã mỗi khi nhắc tới địa danh đó cũng tỏ ra rất thành kính. Riêng hang Chổ được ông Ất giải thích: Nguồn gốc của từ Chổ theo tiếng Mường nghĩa là hang ốc vì trong hang có nhiều ốc. Năm 1930, bà Ma đơ Len Cô Ni, một nhà khoa học người Pháp đã tìm về đây nghiên cứu. Những phát hiện của bà đã được báo cáo tại Hội nghị tiền sử Đông Nam Á. Báo cáo đó đã làm các nhà khảo cổ hết sức ngạc nhiên và thích thú.

Khi chúng tôi có ý định đến thăm hang Chổ, ông Ất đã tận tình cử cán bộ địa phương am hiểu địa bàn dẫn đường. Nhìn từ xa, dãy núi Sáng cao sừng sững giữa trời. Cửa hang Chổ rộng thênh thang ở ngay ngọn núi cao nhất. Phía trước là thung lũng rộng, đất đai phì nhiêu, cây cối tươi tốt. Đứng từ cửa hang phóng tầm mắt ra là cả xã Cao Răm rộng lớn.

Anh Bùi Hải Quân, cán bộ văn hoá xã Cao Răm cho biết, trước kia hang này có hàng nghìn, hàng vạn con dơi sinh sống. Bà con thường vào đây lấy phân dơi về làm thuốc súng. Nhiều hơn cả vẫn là những lớp vỏ ốc. Lần đầu đến đây ai cũng bất ngờ về những lớp ốc hoá thạch dày đến 2 – 3m. “Điều này chứng tỏ tổ tiên của ta phải sống ở trong hang này rất nhiều năm. Họ sống gần sông, gần suối nên có thể dễ dàng tiến hành việc săn lượm kiếm tìm thức ăn. Ở trên một ngọn núi cao thế này cũng rất an toàn”, anh Quân khẳng định.

Sau lần nữ khảo cổ học người Pháp về đây khai quật, do điều kiện sống khó khăn, chiến tranh kéo dài nên mãi sau này các nhà khảo cổ học trong nước mới tiếp tục nghiên cứu. Sau mỗi lần khai quật đều phát hiện được rất nhiều hiện vật có giá trị.
Qua kết quả điều tra, thám sát và nghiên cứu các nhà khảo cổ học đều cho rằng, hang Chổ là mái nhà cổ của người nguyên thuỷ. Căn cứ vào số lượng cũng như các hiện vật tìm được, các nhà khảo cổ khẳng định: Hang Chổ có những yếu tố biểu hiện của một giai đoạn cao của Văn hoá Hoà Bình, có niên đại trên dưới 10.000 năm trong giai đoạn chuyển tiếp sang trung kỳ đá mới ở nước ta.

Ngoài hang Chổ, ở Cao Răm còn có hang Mãn Nguyện, hang Khụ Thượng… đều là nơi được người nguyên thuỷ chọn làm nơi trú ngụ. Cao Răm trở thành cái nôi của tổ tiên người Việt cổ.
Xứ Mường (Hoà Bình) là cái nôi của người Việt cổ, nơi đây ẩn chứa nhiều di chỉ của người nguyên thuỷ. Nhiều nhà khoa học trên thế giới đã tìm về đây để nghiên cứu và có những phát hiện gây chấn động. Tất cả những phát hiện đều khẳng định, nền văn hoá thuộc thời đại đồ đá tập trung nhiều nhất vẫn là ở Việt Nam chúng ta.

______________________________________________________

Posted in Chuyện lịch sử, Di tích, Văn hóa các dân tộc | Tagged: , , , | Leave a Comment »

Cứu Hoàng thành Thăng Long: “Muộn nhưng còn kịp”

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Năm 9, 2010

Riêng đoạn đê Hoàng Hoa Thám vừa bị phá, chúng tôi thật sự rất tiếc, vì đoạn này thể hiện rất rõ tính chất của Hoàng thành Thăng Long cổ, vừa là lũy thành, vừa là đê trị thủy, còn lại được thế này với thế giới sẽ là rất quý hiếm. Vậy mà ta thì thản nhiên phá bỏ- PGS Tống Trung Tín.

Không nên lập luận “không biết” mãi

GS Phan Huy Lê khẳng định đoạn đường Hoàng Hoa Thám cắt phố Văn Cao, nơi đang là công trường xây dựng quy mô lớn, là một đoạn Hoàng thành Thăng Long thời Lê. Đã trực tiếp có mặt ở hiện trường, ông và các đồng nghiệp đã tìm thấy những dấu tích kiến trúc, những di vật gì để khẳng định ý kiến này?

PGS. Tống Trung Tín: Ngày 29/4/2010, sau khi nhận được thư kiến nghị của những người dân xung quanh khu vực, tôi đã xuống trực tiếp hiện trường để quan sát. Hiện trường đã bị đào phá đoạn Văn Cao – Hồ Tây cắt qua đường Hoàng Hoa Thám. Có những hố móng rất sâu ở giữa tim đường Hoàng Hoa Thám. Trên các vách hố đã nhận thấy rải rác các mảnh gạch và gốm cổ. Đặc biệt có một đoạn lớp gốm cổ nằm ngay trên lớp mặt cho thấy ngay bên dưới lớp nhựa rải đường đã là dấu tích của lớp đất văn hoá khảo cổ rồi.

Vương vãi trên mặt các hố đào, chúng tôi đã nhặt được gạch vỡ thời Lê, các mảnh gốm tiền Thăng Long và Thăng Long dưới các thời Lý-Trần-Lê. Có thể khẳng định đoạn đường Hoàng Hoa Thám đã đào phá chính là một đoạn tường Hoàng thành Thăng Long thời Lê (thế kỷ XV-XVI) đúng như ý kiến của GS. Phan Huy Lê.

Những người đã “lỡ” phá đoạn Hoàng thành đường Hoàng Hoa Thám để mở đường có thể đưa ra nhiều lý do, như họ không biết đây là đoạn Hoàng thành, thậm chí khi họ làm đường, có phát hiện được di vật nào đâu? Liệu có thể tin những lý do ấy không?

PGS Tống Trung Tín: Đúng là có thể họ không biết thật do chúng ta chưa có hình thức thích hợp như một quy chế, quy định hay hình thức tuyên truyền nào đó để bảo vệ đoạn thành. Ngay cả khi thấy gốm, thấy tường thành mà không có chuyên môn thì cũng có thể họ không dễ nhận dạng được di tích. Nhưng khi báo chí đã đưa tin cách đây vài tháng rồi mà họ vẫn “lờ” đi thì thật đáng trách hay nói thẳng ra là đã vi phạm Luật Di sản văn hoá.
Cũng qua đây, càng thấy cần lắm quy định với các chế tài cho việc bảo vệ di sản. Vì cứ như trường hợp này và cứ lý do kiểu này, chúng ta sẽ phá hoại hết các di sản dưới lòng đất của Hà Nội. Chẳng hạn việc xây dựng những tòa nhà đồ sộ ở chợ Hàng Da, chợ Cửa Nam…đều là thuộc khu vực Hoàng thành Thăng Long và cận Hoàng thành. Ở đây chắc chắn sẽ có tầng văn hóa dày và có thể còn các di tích quan trọng, giờ xây đã gần xong rồi mà không thấy một cơ quan quản lý văn hóa nào lên tiếng cần phải khảo cổ.
Đáng lẽ cơ quan xây dựng phải tham khảo các cơ quan quản lý văn hóa, để có kế hoạch thám sát, khai quật di dời di tích, di vật đi trước khi xây dựng ở các khu vực vốn đã được dự báo suốt từ ngày phát hiện di tích Hoàng thành Thăng Long năm 2002 đến nay. Cũng cần phải nói rằng ở những cơ quan xây dựng lớn như thế, thường “đụng chạm” nhiều như thế thì không nên lập luận “không biết” mãi (!).
Ở các cơ quan đó đều có các nhà trí thức, hoặc các nhà quản lý có trình độ cao. Họ phải biết Luật Di sản văn hoá đã quy định trong quá trình xây dựng, nếu phát hiện có di tích, di vật thì phải tạm dừng lại để báo với các cơ quan văn hóa. Còn đằng này báo chí lên tiếng rồi, thậm chí tôi được biết Cục Di sản cũng có văn bản rồi mà họ vẫn phớt lờ thì thật đáng trách.

“Tiếng kèn ngập ngừng” của giới khảo cổ học

Còn lập luận HN đụng đâu chẳng là di sản, nếu chỗ nào cũng phải bảo tồn thì còn đâu đất cho phát triển thì sao, thưa PGS?

PGS Tống Trung Tín: Cũng không thể lập luận như thế được. HN một năm xây dựng biết bao nhiêu công trình, mở biết bao nhiêu con đường, giới khảo cổ học- sử học có ý kiến gì đâu? Chỉ vài địa điểm thuộc trung tâm của kinh thành Thăng Long qua suốt chiều dài hàng nghìn năm lịch sử, đã được xác định tương đối rõ ràng, thì chúng tôi mới buộc phải lên tiếng như di tích Đàn Xã Tắc, di tích Nam Giao.
Ngay trong khu vực ấy khai quật xong rồi vẫn xây dựng đấy chứ. Chỉ có những vùng tối quan trọng như khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long thì chúng tôi đã đề nghị nhà nước cho phép bảo vệ nguyên trạng. Tức là khoa học chúng tôi cũng lên tiếng nhưng cũng rất phải chăng, chứ không phải chỗ nào cũng kêu, chỗ nào cũng bảo tồn. Mà thực ra khoa học cũng chỉ là tham mưu, kiến nghị dưới ánh sáng của Luật Di sản văn hoá với các cấp có thẩm quyền thôi.
Riêng đoạn đê Hoàng Hoa Thám vừa bị phá, chúng tôi thật sự rất tiếc, vì đoạn này là một trong những đoạn thể hiện rất rõ tính chất điển hình của Hoàng thành Thăng Long thời Lê, vừa là lũy thành, vừa là đê trị thủy. Trong các kinh đô cổ ở Đông Á giữa lòng đô thị hiện đại rất hiếm còn loại thành luỹ rất đặc trưng của Việt Nam và HN như ở ta vậy. Vậy mà ta cứ thản nhiên dự án, thản nhiên phá bỏ.

Giờ đã “lỡ” phá rồi, PGS có đề xuất cách xử lý nào hợp lý nhất không?

PGS Tống Trung Tín: – Tuy đoạn thành đã bị phá, nhưng vẫn còn có thể tạm dừng cho giới khảo cổ – lịch sử vào nghiên cứu đoạn thành đó. Có thể nhân đây đào 01 hố thám sát xuống tận sinh thổ (đất cái) để xác định chính xác các “lớp” đất đắp thành thời Lê sơ. Rồi lại tìm xem dưới lớp thời Lê sơ có lớp đất đắp thành của các thời kỳ Lý – Trần hay không? Kỹ thuật đắp thành, đặc điểm lịch sử văn hóa mỗi thời kỳ thể hiện qua vật liệu xây dựng? Đó là cách “vớt vát” để có những tư liệu chính xác, góp phần giải đáp phần nào về quy mô, tính chất của vòng thành qua thời kỳ lịch sử biến diễn ra sao.
Người ta thường nói “trong cái rủi, có cái may”. Nếu ta “vớt vát” khảo cổ như thế để “vớt vát” lấy chút tư liệu khoa học thì ta có thể có chút ít “may mắn” nào đó mà thực ra chẳng nhà khoa học nào muốn như vậy. Tức là bình thường chúng ta khó có cơ hội để đụng chạm những tầng văn hóa ở sâu trong lòng đất mà lại đang là công trình dân sinh như đoạn đường này.
Nay nhân việc đào đường, khảo cổ học kết hợp “chữa cháy” lấy một ít tư liệu. Và cũng từ kết quả nghiên cứu ấy, hai bên có thể cùng bàn thảo để đưa ra thiết kế tốt nhất cho dự án mở đường đang tiến hành rầm rộ này. Những trường hợp kết hợp nghiên cứu di tích với công trình dân sinh như vườn hoa Đàn Nam Giao (thuộc khuôn viên của trung tâm thương mại Vincom) là một ví dụ cho thấy, luôn có thể tìm ra giải pháp phù hợp nếu hai bên cùng có tâm. Muộn, nhưng vẫn còn kịp!

Phải chăng chính giới khảo cố học cũng có “chút” lỗi khi không lên tiếng mạnh mẽ hơn từ sớm? Để đến giờ, giải pháp thế nào cũng có vẻ dang dở?

PGS Tống Trung Tín: – Đúng là chúng tôi có lỗi lên tiếng chậm. Nhưng từng có ý kiến cho rằng giới khảo cổ học chuyên làm chậm dự án và đòi nghiên cứu như thế chỉ để “có thêm chút tiền”, khiến giới khảo cổ học mà cụ thể là bản thân tôi cũng ở tình trạng “tiếng kèn ngập ngừng”. Nhưng tôi nghĩ lại rồi, đã là Luật thì mình vẫn phải nói thôi.

Kiến nghị về một kiến nghị đã bị lãng quên

Để tránh tình trạng bị động như bấy lâu nay, ngoài việc trông chờ thái độ hợp tác của của các chủ đầu tư, giới khảo cổ học phải chủ động đưa ra quy hoạch khảo cổ học của Thủ đô HN chứ?
PGS Tống Trung Tín: – Đúng là để tránh những hiện tượng tương tự xảy ra, việc đầu tiên phải tiến hành xây dựng quy hoạch khảo cổ học, trong đó xác định tương đối những khu vực nào có các di tích khảo cố học dày đặc và quan trọng, khu vực nào di tích vừa phải, khu nào không có di tích. Rồi quy hoạch, đó phải được chính thức hóa về mặt nhà nước, được phê duyệt, công bố bởi các cấp có thẩm quyền.
Thực ra đã từng có một quy hoạch như thế của HN. Trước đây, năm 2001-2002, Viện Khảo cố học và Sở Văn hóa- Thông tin HN (khi đó), do ông Nguyễn Viết Chức- nguyên Giám đốc Sở chủ trì, Viện Khảo cổ học thực hiện, phụ trách đề án là GS. Hà Văn Tấn, người thực hiện là tôi và các cộng sự. Đề tài nghiệm thu xuất sắc, vẽ ra quy hoạch khảo cổ học ở vùng nội đô, Đông Anh, Từ Liêm, Thanh Trì, Gia Lâm và có cả các kiến nghị hẳn hoi, Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường HN quản lý.
Chúng tôi trình kiến nghị năm 2002. Sau đó không thấy có tiến triển gì thêm, . Tên đề tài là “Khảo cổ học với việc gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc ở Thủ đô HN – kiến nghị và giải pháp”, thuộc chương trình gìn giữ và phát huy những giá trị lịch sử văn hóa 1000 năm Thăng Long. Nay xem lại nó cũng có nhiều điều đã lạc hậu. Nhưng rõ ràng người đứng đầu ngành văn hoá HN thời đó đã có trách nhiệm rất cao với việc bảo vệ di sản văn hoá HN. Nay công việc nghìn năm bận rộn quá. Nhân việc đào phá một đoạn thành, đã đến lúc ta nên suy nghĩ về kế hoạch bảo tồn tổng thể này.

Riêng với những đoạn còn lại của La thành hay Hoàng thành, Viện Khảo cổ có kiến nghị gì không?

PGS Tống Trung Tín: – Để bảo vệ và phát huy tốt giá trị lịch sử văn hoá của những đoạn thành đất này, chúng tôi sẽ kiến nghị Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, UBND thành phố HN xem xét chỉ đạo các cơ quan chuyên môn liên quan xây dựng kế hoạch khảo sát điều tra tổng thể để đề ra các giải pháp tối ưu cho việc bảo vệ nguyên trạng và lâu dài các đoạn thành còn lại. Có thể là xếp hạng các đoạn thành tiêu biểu chẳng hạn. Cũng có thể là những sơ đồ, bản đồ đánh dấu các đoạn thành luỹ cổ đó để mọi người đều biết đó là một loại di tích cho biết rõ quy mô của một Thăng Long lớn rộng ngày xưa.
Cũng chẳng còn nhiều đâu, giờ có giữ lại mới mong sau này các thế hệ con cháu học lịch sử còn được biết “mặt mũi” của những đoạn tường của kinh thành Thăng Long chứ và khi đã có giải pháp, việc bảo vệ cũng không phải là quá khó vì toàn bộ di tích đã nằm yên dưới mặt đường nhựa. Nó chỉ cao hơn tất cả các con đường khác, thể hiện rõ đặc trưng của một loại thành luỹ của Thăng Long. Khi cần có cải tạo, xây dựng, hai bên văn hoá- xây dựng cùng thảo luận với nhau để bàn bạc thống nhất cách giải quyết.

Khánh Linh (thực hiện)
_____________________________________________

Posted in Chuyện đất nước, Di tích, Hà Nội nghìn năm | Tagged: , , | Leave a Comment »