NGÔN NGỮ & VĂN HÓA

CHÚC MỪNG NĂM MỚI

Archive for the ‘Ngôn ngữ’ Category

Một đô thị có tên nửa tây nửa ta sắp ra đời

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Năm 20, 2011

Một khu đô thị có tên lạ hoắc nửa ta nửa tây sẽ ra đời tại thị xã Sông Công, tỉnh Thái Nguyên. Hóa ra, đó là sự chắp vá của hai cái tên: tên công ty (Kosy) và tên đất (Sông Công). Vấn đề là nhiều người vẫn chưa được biết công trạng của công ty này lớn đến mức nào mà người ta có thể dùng tên của nó để đặt cho một khu đô thị. Và liệu đây có phải là tiền đề để Việt Nam sẽ có thêm rất nhiều khu đô thị mang những cái tên chắp vá như vậy không?

Khu đô thị Kosy Sông Công (không biết nên đọc là ‘co si’, ‘cô si’, ‘co xi’ hay ‘cô xi’) là khu đô thị mới trên địa bàn thị xã Sông Công do Công ty cổ phần Kosy làm chủ đầu tư đã. Dự án này được khởi công xây dựng ngày 18/5.

Với tổng mức đầu tư gần 300 tỷ đồng, khu đô thị mới Kosy Sông Công có diện tích gần 40 ha (thuộc phường Thắng Lợi, thị xã Sông Công) được quy hoạch, xây dựng đồng bộ, hiện đại. Cách tổ chức không gian, khai thác hiệu quả quỹ đất nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững, góp phần phát triển thị xã Sông Công. Sau khi hoàn thành, dự án này sẽ cung cấp chỗ ở cho hơn 5.000 người.

Theo những thông tin quảng bá thì đây là một khu đô thị có đầy đủ hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội, đáp ứng yêu cầu của một đô thị kiểu mẫu, góp phần giải quyết chỗ ở và nâng cao điều kiện sống cho người dân.

Được biết, khu đô thị Kosy Sông Công được quy hoạch và xây dựng mới đồng bộ, nhằm mục tiêu nâng cao điều kiện, môi trường sống, kinh doanh buôn bán của người dân trong khu vực cũng như phát triển trung tâm thương mại hiện đại xứng tầm với tiềm năng và vị trí của thị xã Sông Công. Đây sẽ là điểm nhấn kiến trúc đô thị, với mục đích tạo ra một khu nhà ở phát triển bền vững và hài hòa với thiên nhiên.

Khi hoàn thành, dự án không chỉ cung cấp một khu đô thị mới tiện nghi, hiện đại với đầy đủ hạ tầng kỹ thuật mà còn tạo ra sự kết nối thuận tiện với các khu vực lân cận.

(tổng hợp)
__________________________________________________

Posted in Chuyện pháp luật, Chuyện tiếng Việt, Chuyện đô thị, Chuyện đất nước | Tagged: , , | Leave a Comment »

Nhà nghiên cứu tiếng Việt bậc thày đã ra đi

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Hai 27, 2011

Theo tin từ gia đình, Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn đã từ trần vào hồi 19 giờ 10 phút (giờ Hà Nội) ngày 25 tháng 2 năm 2011 tại Matxcơva sau một thời gian bị bệnh mặc dù đã được các thầy thuốc và gia đình hết lòng chăm sóc, cứu chữa.

Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn sinh ngày 22 tháng 5 năm 1926 ở Thanh Văn, Thanh Chương, Nghệ An trong một gia đình Nho học, đỗ đạt.. Thuở thiếu thời ông học tại Quốc học Vinh, Quốc học Huế và tham gia kháng chiến chống Pháp từ 1946 và học Đại học kháng chiến. Trong thời gian 1953-1954, Ông đảm nhận chức Trưởng phòng chuyên môn giáo dục Liên khu Bốn. Trong những năm 1955-1960, Ông làm chuyên gia giảng dạy tiếng Việt tại Đại học Tổng hợp Leningrad và đã bảo vệ thành công luận án Phó tiến sĩ Ngữ văn (1960). Sau khi về nước Ông được bổ nhiệm làm Chủ nhiệm Bộ môn Ngôn ngữ học ĐHTH Hà Nội và đảm nhiệm chức vụ này cho đến năm 1971. Trong các năm 1971-1974, Ông được biệt phái về Ban khoa giáo Trung ương về công tác Ngữ văn. Năm 1980, Ông được được phong học hàm Giáo sư.
Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn đã từng làm giáo sư thỉnh giảng tại các trường ĐH nước ngoài: Đại học Paris 7 (Pháp) và Đại học Cornell (Mỹ).
Năm 2000,Ông được nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học và công nghệ.
Ông được phong tặng danh hiệu Nhà giáo Nhân dân năm 2008.

Nguyễn Tài Cẩn được giới Việt ngữ học đánh giá là một trong những chuyên gia đầu ngành của ngành Ngôn ngữ học Việt Nam. Ông đã có công lớn trong việc xây dựng chuyên ngành Ngôn ngữ học tại trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, nay là khoa Ngôn ngữ học của trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội.

Năm 2000 Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn đã được Nhà nước Việt Nam tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về cụm ba công trình Ngữ pháp và Lịch sử tiếng Việt:

1. Ngữ pháp tiếng Việt – từ ghép, đoản ngữ – tập hợp một số bài giảng về ngữ pháp tiếng Việt hiện đại cho sinh viên chuyên ngành ngôn ngữ Khoa ngữ văn trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, trong thời gian 1961-1969. Tiếng, từ ghép, đoản ngữ là ba lĩnh vực then chốt của ngữ pháp tiếng Việt, được tác giả nghiên cứu, lý giải một cách khoa học, mà cho tới bây giờ vẫn được đánh giá là chuẩn xác (tuy các thuật ngữ đã có một số thay đổi).

2. Giáo trình lịch sử ngữ âm tiếng Việt – công trình nghiên cứu về quá trình phát triển ngữ âm tiếng Việt trên cơ sở lý thuyết ngữ âm hiện đại, có liên hệ với các ngôn ngữ có liên quan như tiếng Êđê, tiếng Khmer của, âm vận học Trung Quốc.

3. Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán–Việt – công trình nghiên cứu sự ra đời cách đọc Hán–Việt.

_____________________________________________________________

Posted in Giáo dục Việt Nam, Ngôn ngữ | Tagged: , , | Leave a Comment »

Thông điệp dí dỏm năm Tân Mão

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Hai 8, 2011

ĐÀO KHẮC VIỆT

Đầu năm Tân Mão, bàn chuyện con mèo với những thành ngữ tục ngữ có trong dân gian ta. Trong dân gian lưu truyền không ít những câu thành ngục tục ngữ được xây dựng từ loài mèo, và trong số đó có thể có không ít những nhắn gửi dành cho nhiều người, đặc biệt là các bạn trẻ.

Rình như mèo rình chuột Nói đến sự kiên nhẫn và khả năng tập trung cao độ, người ta hay mượn câu Rình như mèo rình chuột. Qủa là hiếm có hình tượng nào hay hơn. Khi con mèo rình mồi, nó kiên trì từ khâu phục kích cho đến khâu rượt đuổi. Và chẳng phải, kiên trì chính là một trong những nhân tố tiên quyết cho bất kỳ sự thành công nào sao. Người trẻ chúng ta rèn luyện được cho mình phẩm chất này, luôn kiên trì với những mục tiêu mình đã đặt ra, thì sẽ sớm đến ngày chúng ta thu lượm thành quả vậy.

Làm như mèo mửa Làm công việc gì mà không chu toàn, không nhiệt tình và trách nhiệm thì ắt sẽ tự gây hại cho chính mình. Có lẽ nhân qua cách nói này, chúng ta cũng nhận ra được một lời nhắn gửi đầy ý nghĩa, luôn tận tâm và trách nhiệm với mỗi công việc của mình, cho dù đó là việc nhỏ nhất.

Mèo bé bắt chuột bé, mèo lớn bắt chuột lớn. Sức đến đâu, ta đặt mục tiêu đến đó. Mục tiêu vừa sức bao giờ cũng tạo ra cảm hứng để giúp ta kiên trì theo đuổi và đạt được dễ dàng hơn. Không nên tự cao tự đại Mèo khen mèo dài đuôi, để rồi làm những việc hoài công Mèo uống nước biển chẳng bao giờ cạn. Lại càng không nên hạ thấp năng lực của mình để rồi nuối tiếc đánh vuột mất khỏi những điều tuyệt vời của cuộc sống ra khỏi tầm tay.

Chưa biết mèo nào cắn mỉu nào. Mỗi người bạn, mỗi con người đều ẩn chứa những sức mạnh riêng, chưa chắc ai đã hơn ai. Ẩn đằng sau vẻ quê quê nhút nhát của cô bạn tỉnh lẻ biết đâu là một cái đầu hết sức thông minh và đầy ắp ý tưởng. Ẩn đằng sau vẻ ngổ ngáo của cậu bạn có thể là một trái tim đầy nhân hậu với biết bao dự án tình nguyện đầy ý nghĩa cho cộng đồng. Chó trông nhà, Mèo bắt chuột Mỗi người đều có một lĩnh vực riêng để tỏa sáng, mỗi người đều đáng trân trọng, vậy thì ta đừng nên tị nạnh nhau, mà hãy giúp đỡ nhau để cùng phát triển.

Có ăn nhạt mới biết thương mèo Mèo là giống ưa ăn mặn, nên ăn nhạt với mèo chẳng dễ chịu chút nào. Khi chúng ta lâm vào những cảnh nghèo khổ, chúng ta mới biết thương cho những người trước đây chẳng may lâm vào tình cảnh không may. Vậy thì, những người trẻ luôn hướng tới một cách sống thiện nguyện, làm nhiều việc tốt lành, để hoàn thiện bản thân và làm choxã hội thêm phần tốt đẹp. Vì còn đó là câu Mèo lành ai nỡ cắt tai. Những người sống hiền lành tử tế, trượng việc nghĩa lúc nào cũng gặp được những điều tốt lành và được sống trong yêu thương.

Mèo tha miếng thịt xôn xao, Hùm tha con lợn nào thấy nói chi Xã hội có trở nên minh bạch hay không, quyền quyết định nằm trong tay người trẻ có dũng cảm đấu tranh chống lại sai trai, gian tà. Không chỉ là dũng cảm trước những việc nhỏ, mà cho dù đó là một vấn đề mang tính đại sự, đụng chạm thì càng rất cần những trái tim can đảm. Là những người trẻ, chúng ta được kỳ vọng sống chân thật và dũng cảm. Thấy điều chướng tai gai mắt, thấy điều bất bình dù nhỏ dù to đâu thể nhắm mắt bỏ qua. Trong một thế giới không bao giờ hết thách thức, trong một xã hội không bao giờ ngừng biến động, thì những trái tim quả cảm, những con người dám đấu tranh chống lại điều thị phi để xã hội thêm minh bạch và yên bình lại càng được mong đợi hơn bao giờ hết.

Nên chăng kiên cường như mèo
Ngã không phơi bụng, đứng vèo ngay lên!

__________________________________________________________

Posted in Chuyện tiếng Việt, Chuyện đời sống, Ngôn ngữ | Tagged: , , | Leave a Comment »

12 con giáp gốc Việt

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Hai 6, 2011

Đình Chung

Xưa nay như người ta vẫn lầm lẫn lần tương rằng 12 con giáp có xuất xứ từ Trung Hoa. Tuy nhiên, mới đây trong một công trình nghiên cứu về ngôn ngữ Việt cổ- nhà nghiên cứu ngôn ngữ học Nguyễn Cung Thông phát hiện ra nguồn gốc 12 con giáp có xuất xứ từ Việt Nam.

Ngôn ngữ là “lá bùa” tổ tiên để lại

Theo văn hóa Phương Đông, lịch được xác lập theo chu kỳ thay đổi đều đặn của Mặt trăng . Do đó 12 con giáp ứng với 12 giờ trong ngày, 12 tháng trong năm, 12 năm trong một giáp – đó là những nền tảng quan trọng để tính lịch và là dấu hiệu để nhận đoán về số mệnh của từng người theo cung Hoàng Đạo.
Trong lịch sử, Việt Nam và Trung Hoa có một thời kỳ giao lưu văn hoá ít nhất 2000 năm. Những đợt giao lưu văn hóa cứ tiếp biến và chồng chất lên nhau khiến cho dấu hiệu nhận biết nét riêng của từng dân tộc rất khó khăn. Thêm vào đó, các tài liệu xưa không còn nhiều, nếu còn cũng chỉ trong kho thư tịch Hán cổ khiến cho việc nghiên cứu hết sức rắc rối và phức tạp. Chính điều này đã đốc thúc nhà nghiên cứu ngôn ngữ Nguyễn Cung Thông cố công đi tìm cho bằng được những bí ẩn ngôn ngữ của tổ tiên mà theo ông đó là những “lá bùa” con cháu cần tìm lời giải.

Ông Thông cho biết, ông bắt đầu việc nghiên cứu tiếng Việt của mình vào những năm đầu thập niên 1970 tại nước Australia. Trong một lần nghiên cứu về nguồn gốc 12 con giáp để lần tìm cội nguồn tiếng Việt ông đã phát hiện ra một số từ Việt cổ mà người Việt đã dùng để chỉ về 12 con giáp có nguồn gốc lâu đời trước khi 12 con giáp xuất hiện ở Trung Hoa. Vào những ngày cuối năm con trâu, tại Viện Việt học ở thành phố Westminster (Califomia, Mỹ) ông đã có một buổi thuyết trình những khám phá thú vị của mình với chủ đề “Vết tích của tiếng Việt cổ trong tiếng Hán”.
“Tìm hiểu về gốc của tên mười hai con giáp là một cơ hội để ta tìm về cội nguồn tiếng Việt. Tên 12 con giáp là Tý/ Tử, Sửu, Dần, Mão/ Mẹo, Thìn/ thần, Tỵ, Ngọ, Mùi/ Vị, Thân/ khôi, Dậu, Tuất, Hợi. Thoạt nhìn thì thập nhị chi trên có vẻ bắt nguồn từ Trung Quốc vì là những từ Hán Việt, nhưng khi phân tách các tiếng Việt, và thấy có những khác lạ, tôi đem so sánh trong hệ thống ngôn ngữ vay mượn thì sự thật không phải vậy” – ông Thông nói.
Theo ông Thông thì tên 12 con giáp nếu đọc theo tiếng Bắc Kinh và bằng cách ghi theo phiên âm (pinyin): zi, chou, yín, mào, chén, sì, wè, wèi shèn, yòu, xù, hài … hoàn toàn không liên hệ đến cách ghi tên 12 con giáp trong tiếng Trung Quốc hiện nay. Ngay cả khi phục hồi âm Trung Quốc thời Thượng Cổ thì vẫn không tương đồng với các cách gọi tên thú vị thời trước. Như vậy nếu có một dân tộc nào đó dùng tên 12 con thú tương tự như tên 12 con giáp ngày nay thì dân tộc đó phải có liên hệ rất khăng khít với nguồn gốc tên 12 con giáp này.
Từ điều này, khởi đầu cho việc nghiên cứu ông đi tìm nguyên do vì sao trong 12 con giáp của Trung Quốc, con Mèo bị thay bởi Thỏ. “Người Trung Quốc dùng thỏ thay cho mèo (biểu tượng của chi Mão/mẹo) vì trong văn hóa người Trung Quốc thỏ là một loài vật rất quan trọng và thường được ghi bằng chữ tượng hình là Thố, giọng Bắc Kinh, là từ viết bằng bộ nhân không có từ để chỉ mèo. Hầu như chỉ có dân Việt mới dùng mèo cho chi Mão: nguyên âm e hay iê là các dạng cổ hơn của a như kẻ/giả, vẽ/hoạ, xe/xa, khoe/khoa, hè/hạ, chè/trà, keo/giao, beo/ báo… Vì thế mà mèo cũng là loài vật hiện diện trong đời sống dân Việt thường xuyên hơn” – ông Thông lý giải.
Thời tiền Hán, tiếng Việt không có nhiều thanh điệu như bây giờ, nên sự khác biệt về thanh điệu không có gì lạ. Trong khẩu ngữ người Việt có cách dùng “chờ một tý” hay “chờ một chút”, “đưa chút tiền”, “đưa tý tiền”… vào thời tiền Hán, các câu trên đọc như giọng Huế (ít thanh điệu hơn so với giọng Hà Nội) thì thấy chút hay chụt /chuột chính là các cách đọc của Tý sau này.

Vì sao Việt Nam không giữ được “thương hiệu”?

Thực tế, đã từng có nhiều công trình của nhiều tác giả cố gắng chứng minh văn hóa Trung Quốc có xuất phát từ văn hóa Việt Nam như tác giả Lê Mạnh Thát qua cuốn “Lịch sử âm nhạc Việt nam từ thời Hùng Vương đến thời kỳ Lý Nam Đế” hay tác giả Nguyễn Thiếu Dũng với cuốn “Nguồn gốc Kinh Dịch”… Hầu hết các cuốn sách này đều cho thấy chiều vay mượn văn hóa là từ phương Nam vào thời thượng cổ, chứ không phải là từ Bắc xuống Nam (cũng như các nước chung quanh) vào các đời Hán, Đường lúc văn hoá Trung Quốc cực thịnh. Tuy nhiên không tác giả nào đề cập đến nguồn gốc tên 12 con giáp, và rất ít dùng, cấu trúc của chữ Hán, Hán cô cùng các biến âm trong cách lý giải.
Theo ông Thông, ngoài hai chi Tý/ Tử/ chuột, Mão/ Mẹo/mèo là dễ nhận thấy nhất thì những chi còn lại khi so sánh trong tương quan ngữ âm, ngữ nghĩa cũng đều cho ra những kết quả khá bất ngờ.

Ví dụ với trường hợp của Thân là chi thứ 9 trong bản đồ Hoàng Đạo. Nếu xem cách viết chữ Thân bằng bộ điền với nét giữa dài hơn với cách viết chữ Khôn (một căn bản của Kinh Dịch có từ thời Thượng cổ) thì ta thấy bộ thổ hợp vài chữ Thân hài thanh. Đây là liên hệ trực tiếp giữa Thân và Khôn, tuy nhiên tiếng Việt cổ có chữ khôn là con khỉ (người Huế hay người xứ Nghệ hiện nay một số chỗ vẫn còn những câu cửa miệng “tuồng mặt cọp khọn” để ám chỉ những người vô tích sự, chẳng làm chẳng nên trò trống gì). Thành ra, Thân chính là khỉ, tiếng Việt cổ dù biến âm th-kh rất hiếm gặp trong tiếng Việt ngày nay nhưng nó vẫn còn dấu tích của những từ cặp đôi như thân- cận- gần, thận- cẩn (thận trọng, cẩn trọng).

Tương tự với trường hợp của con Rồng. Xưa nay nhiều người vẫn cho rằng rồng là một con vật tiêu biểu cho vương quyền của phương Bắc và sau đó nó được chọn làm một trong 12 con vật có mặt trong 12 con giáp của cung Hoàng Đạo. Nhưng ít ai biết được rằng rồng thực sự là con vật chủ của người Việt cổ và ngày xưa người Việt đã có những từ ngữ riêng để nói đến rồng hay thìn. Thìn/Thần dấu tích còn lại trong giọng Bắc Kinh hiện nay chỉ còn chén – âm này có thể tương ứng với các âm trần, trầm, thần của Hán Việt. Tuy nhiên, theo nhà nghiên cứu Nguyễn Cung Thông thì nếu phục hồi âm cổ của Thìn/ Thần là tlan (Tiếng Việt cổ – âm r chuyển thành l) và trăn, lươn (âm ts- mất đi), rắn, trình (loài cá giống con lươn), rồng/1ong (nguyên âm o thay cho a như nôm/nam, vốn bản…) và khuynh hướng đơn âm hoá để cho ra các dạng từ ghép như tlăn – thằn lằn, tlian- thuồng luồng… cho thấy vết tích của rồng trong các ngôn ngữ phương Nam.
Lý giải về nguyên nhân dẫn đến việc bị “lẫn lộn” về nguồn gốc 12 con giáp, ông Thông cho rằng “Với ảnh hưởng quan trọng của nền văn hoá Trung Quốc, từ đời Hán và sau đó là Đường, Tống… với sức ép của giai cấp thống trị từ phương Bắc tên 12 con vật tổ đã từ từ được thay thế bằng hình ảnh con người, mang nặng màu sắc văn hoá Trung Hoa hơn. Từ tính chất cụ thể của các loài vật láng giềng, 12 con giáp đã trở nên trừu tượng và còn ảnh hưởng đến vận mạng con người nữa (bói toán) Tuy nhiên, cái vỏ hào nhoáng của chữ Hán, Hán Việt không thể thay đổi được nền văn hoá bình dân (khẩu ngữ) trong đời sống người Việt”
Sự phát hiện mới mẻ này đã chứng minh cho sự phát triển của người Việt xưa trong cách tính lịch và làm nên một nền văn minh lúa nước rực rỡ ở phía Nam Đông Nam Á.

Nguồn: Gia đình và xã hội
______________________________________________________

Posted in Chuyện tiếng Việt, Chuyện đất nước, Thuần phong mĩ tục | Tagged: , , | Leave a Comment »

Những bài học sống sâu sắc trong tục ngữ về mèo

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Hai 4, 2011

Mèo vốn là con vật quen thuộc của nhiều gia đình, là người bạn thân thiết của trẻ con và các thiếu nữ. Không chỉ vậy, mèo còn là con vật đóng góp rất nhiều trong ca dao, tục ngữ Việt Nam.

Thanh cảnh, tao nhã chính là mèo; ăn vụng, tội nghiệp cho đến khó “quản lý” cũng là mèo…Tục ngữ, ca dao còn để lại nhiều bài học sống sâu sắc từ những câu ca, câu chuyện về mèo. Có thể nói, chuyện mèo là chuyện nhân sinh.

Lấy mèo để ngợi khen

Từ xa xưa, hình ảnh những người trẻ tuổi có khí phách và chí lớn được ví von với “Mèo con bắt chuột cống.” Hình ảnh này còn gửi gắm rằng bản thân mỗi người đều có thể chiến thắng đối thủ lớn hơn mình khi dám dũng cảm đối diện với nó, cũng như họ có thể làm được sự nghiệp lớn.

Không chỉ biểu tượng về tài cao, mèo còn ẩn dụ cho trí thông minh trong câu “Mèo già hóa cáo.” Nhắc đến cáo khiến người ta nghĩ ngay đến sự khôn ngoan, một khi ai đó có được sự trải nghiệm và tích lũy được vốn sống thì họ cũng sẽ trở nên khôn ngoan như vậy.

Bên cạnh đó, mèo còn mang hình ảnh của sự thanh lịch, tế nhị, cái ngoan của người phụ nữ biết ăn uống duyên dáng, nhỏ nhẻ như mèo ăn trong “Nam thực như hổ, nữ thực như miu” (đàn ông ăn như hổ, phụ nữ ăn như mèo).

Ngoài ra, mèo còn đại diện cho những người biết lượng sức mình: “Mèo nhỏ bắt chuột con.” Thực tế cuộc sống, những người làm ăn nhỏ cũng thường tự lượng vốn, lượng mình theo câu này.

Trong mối quan hệ giữa con người với con người cần đề cao sự khiêm nhường bởi chưa biết “Mèo nào cắn mỉu nào” (không biết con mèo nào cắn con mèo nào). Hình ảnh này dụng ý là sống trên đời chưa biết ai hơn ai, vì vậy mỗi người không nên coi thường kẻ khác bởi biết đâu họ hơn mình.

Có lẽ ở thời buổi nào thì sự khiêm tốn của con người cũng đều cần thiết, vì thế mà “Mèo nào cắn mỉu nào” vẫn thấm thía biết bao.

Con vật được lấy ra để “đùa”

Mèo có công bắt chuột bảo vệ mùa màng, điều này thì ai cũng biết. Tuy nhiên, cha ông ta nhiều khi đã đứng từ phía họ hàng nhà chuột để “chống lại mèo,” làm tăng sức mạnh quyết liệt của mèo, một con vật có ích cho nhà nông. Thế nên, hình ảnh mèo có trở nên “hung bạo” hay “ghê gớm” chính là cái nhìn trong mắt…chuột.

Vận dụng điều này, người ta nói về những ai có thể làm hại người khác nhưng lại tỏ ra thái độ xót thương: “Mèo khóc chuột.”

Mèo là con vật hay nằm khoanh nên bị coi là hiện thân của sự lười nhác. Thế nên có những câu như: “Mèo nằm bồ lúa khoanh đuôi/ Vợ anh đẹp lắm: đuổi ruồi không bay,” hay “Chồng người đi ngược về xuôi/Chồng tôi ngồi bếp sờ đuôi con mèo.”

Không chỉ vậy, mèo còn nói những kẻ hay tự mãn về bản thân như “Mèo khen mèo dài đuôi.”

Mèo còn được đùa hóm hỉnh trong câu ca: “Còn duyên anh cưới ba cheo/ Hết duyên anh cưới con mèo cụt đuôi.” Qua đây, người xưa nhắc khéo các cô con gái đừng quá kén mà trở thành “già kén kẹn hom.”

Thấp thoáng những nụ cười sau câu ca khiến ta còn thấy tội nghiệp cả… con mèo!

Nỗi oan con mèo…

Trong kho tàng ca dao, tục ngữ Việt Nam, dù con mèo không ít lần phải đại diện cho loại người mạt hạng của xã hội.

Thương con mèo phải biểu tượng cho loại người vô lại, trai trộm cắp, gái lăng loàn khiến người đời khinh ghét: “Mèo hoang lại gặp chó hoang/ Anh đi ăn trộm gặp nàng bứt khoai.”

Khi chê những người đần độn, ngu ngốc hoặc không có tài năng người xưa cũng lôi mèo vào “Chó gio, mèo mù.”

Tuy nhiên, những hình ảnh đó không đơn thuần chỉ là chê trách mà dân gian còn gửi gắm khát vọng sống của mình. Phải chăng, xã hội phong kiến đã bóp nghẹt con người đến mức, họ luôn giãy giụa muốn được thoát ra khỏi cái “vòng kim cô” đó?/.

Theo Vietnam+
____________________________________________________

Posted in Chuyện tiếng Việt | Tagged: , , | Leave a Comment »

Tiếng Việt trên nhiều bài báo cũng đang khá “lạ”

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Chín 18, 2010

TTO – Thời gian gần đây, báo chí đã đề cập rất nhiều đến việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Nổi cộm là những đoạn văn “ngu ngơ”, lủng củng của các sĩ tử và ngôn ngữ “chat” hết sức “đặc biệt” của các em trong độ tuổi mới lớn.

Thế nhưng, ngay chính lối viết của một số bài báo cũng thiếu sự trong sáng của tiếng Việt, nhất là trong những bài báo được dịch từ các bài báo nước ngoài.

Đọc những bài viết này, độc giả có thể nhận thấy một thứ tiếng Việt rất lạ và tối nghĩa. Đó là kết quả của cách dịch ngô nghê, thiếu cẩn thận. Hiện tượng này ảnh hưởng không nhỏ đến việc giữ gìn cái hay, cái đẹp và cả “cái thần” của tiếng Việt.

Theo kiến thức chủ quan của mình, tôi xin được góp ý một số lỗi thường gặp:

1. Lỗi sử dụng các câu bị động: các câu dạng bị động thường được sử dụng rất thường xuyên trong tiếng Anh – nhất là khi chủ thể của hành động không cần được nhắc tới. Tuy nhiên, trong tiếng Việt, các câu dạng chủ động phổ biến hơn. Vì thế việc dịch quá sát nghĩa sẽ làm cho câu văn rất chói tai và tối nghĩa.

“Trong những ngày đầu, đất đai ở miền trung Brasilia, nay là một địa điểm được Unesco công nhận là di sản thế giới, bắt buộc phải mua và được giao cho các bộ của chính phủ.” [1]

“Không có hành động nào được thực thi cho tới ngày 10 của tháng này, khi quan tài được quật lên để chuyển tới khu chôn cất của gia đình tại hạt Henderson” [2]

“Không có con phố nào là ít được đi ở khu vực này” [3]

2. Lỗi sử dụng giới từ

“Chi Cục Kiểm lâm tỉnh Thừa Thiên – Huế vừa tìm ra một con gà Lôi Lam, hiện đang nằm vào sách đỏ của thế giới” [4]

3. Lỗi sử dụng từ:

“Sau gần 10 ngày rực sáng tại Sân vận động Trung tâm Lào, lúc 19 giờ 10 phút tối nay (18.12), ngọn lửa SEA Games 25 – ngọn lửa của tinh thần thể thao Olympic, của tình hữu nghị các nước Đông Nam Á – đã chính thức khép lại, đánh dấu một mùa đại hội thể thao khu vực đầy thành công” [5]

Trong tiếng Việt, cách nói “ngọn lửa chính thức khép lại” là cách nói không chuẩn.

“Họ đã thể hiện lòng dùng cảm cao độ khi định xông lên. Xe rất đông người và chỉ có một đường đi ở giữa. Nhưng một khi bạn đã lên xe, không có gì ngạc nhiên nếu bạn bị bắn. Đội xông lên như thế phải là những người rất đặc biệt, được đào tạo đặc biệt và được tuyển chọn vì đức tính dũng cảm, quyết đoán, cộng với sự hiếu chiến. Trong trường hợp này, họ lại hành động như 99% dân chúng làm, đó là quay đầu trở ra. Họ có vẻ như không có sự quyết đoán, hiếu thắng cần thiết để theo vụ việc đến cùng” [6]

“Hiếu chiến” và “hiếu thắng” ở đây mang nghĩa tiêu cực. Liệu một người hiếu chiến và hiếu thắng sẽ được chọn vào “đội xông lên”? Hơn nữa, độc giả sẽ ngạc nhiên vì cách dịch “đội xông lên” của người viết.

“Bẻ khóa điện thoại nội: ‘Đơn giản như…đan rổ’” [7]

Cách so sánh này rất khập khiễng. Trước giờ chưa ai nghĩ việc “đan rổ” là chuyện đơn giản cả.

4. Lỗi diễn đạt

“Với 56.500 foot vuông, chưa tính gác mái, căn nhà quá rộng tới mức Candy Spelling không chắc là nó có bao nhiêu phòng” [8]

“Quy tắc luôn phải là nếu trong quá trình đàm phán, có một cơ hội nổi lên để chấm dứt tình hình, phải chớp ngay lấy”, ông Shoebridge nói (…) Charles Shoebridge nói. “Một lời hứa được đưa ra vì sức ép không phải là một lời hứa mà bạn cần phải bảo toàn danh dự” [6]

“Quy chế mới, thể lệ mới. Nội quy mới lần đầu quy định cho thí sinh từ vòng thi sơ khảo khu vực, chặt chẽ nghiêm ngặt cho cả thí sinh và liên quan giám khảo. Nội quy thí sinh phục vụ kết quả khảo thí (…) Thời điểm kỷ niệm nghìn năm Thăng Long – Hà Nội gợi nguồn cảm hứng cho cuộc thi qua chủ đề Nghìn năm hương sắc. Vừa bản sắc vừa hiện đại trong con người phụ nữ và cảnh sắc quê hương” [9]

Độc giả rất khó hiểu thông tin người viết (hay người dịch) các câu trên muốn truyền tải.

“Giáo viên và các quản lý trường học cho biết trong cuộc phỏng vấn rằng: Ricks đến nhờ sự giới thiệu và một hồ sơ không có vết nhơ. Tuy nhiên, một số cho biết riêng họ đã lo ngại về sự gần gũi của ông với học sinh và có tin đồn về sự lạm dụng, nhưng họ cảm thấy bất lực để làm bất cứ điều gì” [7]

Tiếng Việt chưa từng có một chức danh nào là “quản lý trường học”, và cách nói “cảm thấy bất lực để làm bất cứ điều gì” cũng không phải là cách nói của người Việt.

“Tuy nhiên, nếu Tây Tạng là một Đài Loan mới, thì vấn đề trên đòi hỏi chiến lược ngoại giao cực khéo léo. Phương Tây thường đánh giá thấp sự sẵn sàng chống lại phong trào độc lập nào ở Đài Loan của Trung Quốc, nhưng thực tế, nước này đã phóng tên lửa cảnh báo như trong năm 1996, và điều tương tự giờ đây cũng có thể xảy ra ở Tây Tạng”

“…Nhưng Ấn Độ cần thận trọng để không hành động quá đáng: nước này coi là báo động với hàng chục nghìn lính Trung Quốc được triển khai ở biên giới kể từ cuộc bạo động Lhasa năm 2008, nhưng hầu hết những động thái này là nhằm đòi lại quyền kiểm soát Tây Tạng. Tiến sĩ Taylor Fravel, chuyên gia MIT về tranh chấp biên giới Trung – Ấn, cho hay, nhiều lính Trung Quốc được triển khai tại Tây Tạng là lực lượng an ninh bên trong, thiếu vũ trang hạng nặng hay pháo binh, cho thấy nó không đe dọa Ấn Độ như cánh diều hâu tại Ấn Độ vẫn nghĩ” [10]

Các cụm danh từ, câu phức thường được sử dụng rất nhiều trong tiếng Anh. Vì thế, nếu không khéo léo, người dịch có thể tạo ra một thứ tiếng Việt rất khó hiểu.

5. Lạm dụng tiếng Anh, độc giả không khỏi khó chịu khi đọc một bài báo với “lổn nhổn” từ tiếng Anh trộn với tiếng Việt.

“Khi hỏi muốn unlock điện thoại nội tại một số cửa hàng ở quận Thanh Xuân (Hà Nội), đa số các chủ cửa hàng đều yêu cầu để máy lại (…) Muốn bẻ khóa phải có account của hãng mới can thiệp được (…) Tuy nhiên, hiệu quả đến đâu thì thật khó, bởi hacker cũng sẽ có đủ “ngón nghề, giải pháp” để đối phó” [11]

NGHĨA KB (Đại học Erasmus Rotterdam – Hà Lan)
__________
[1] Báo Dân Trí: http://dantri.com.vn/c36/s36-359851/iran-va-ke-hoach-chuyen-thu-do-ra-khoi-tehran.htm
[2] Báo VietnamNet: http://www.vietnamnet.vn/thegioi/201002/Rung-ron-nhung-vu-chon-song-nguoi-893844/
[3] Báo VnExpress: http://vnexpress.net/GL/The-gioi/Nguoi-Viet-5-chau/2010/07/3BA1E463/?p=3
[4] Báo Dân Trí: http://dantri.com.vn/c20/s20-367271/phat-hien-ga-loi-lam-trong-sach-do-the-gioi.htm
[5] Báo Thanh Niên: http://www.thanhnien.com.vn/thethao/Pages/200951/20091218194421.aspx
[6] Báo Dân Trí: http://dantri.com.vn/c36/s36-417968/10-sai-lam-dan-den-vu-giai-cuu-con-tin-dam-mau-cua-philippines.htm
[7] Báo VietnamNet http://203.162.35.99/cntt/200910/Be-khoa-dien-thoai-noi-Don-gian-nhu-dang-gion-876201/
[8] Báo VietnamNet: http://vietnamnet.vn/kinhte/201004/Rao-ban-ngoi-nha-dat-nhat-the-gioi-gia-150-trieu-USD-906763/
[9] Báo VietnamNet: http://vietnamnet.vn/thegioi/200910/Trung-Quoc-muon-kim-chan-An-Do-873902/
[10] Báo Tiền Phong: http://www.tienphong.vn/Page/PrintView.aspx?ArticleID=508608
[11] Báo VietnamNet: http://vietnamnet.vn/giaoduc/201008/Thay-giao-lam-dung-tinh-duc-be-trai-suot-30-nam-926768/

_______________________________________________

Posted in Chuyện tiếng Việt | Tagged: , , , | Leave a Comment »

5 kiến nghị cho tiếng Việt

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Sáu 21, 2010

LAM ĐIỀN

TT – Có đại biểu phải dùng đến khái niệm “sụp đổ”, “suy thoái”, “đau đớn”… để nói về thực trạng tiếng Việt hiện nay trong đời sống xã hội tại một hội thảo được tổ chức ngày 18-6 ở TP.HCM. Và hội thảo đáng chú ý này đã thống nhất gửi năm kiến nghị lên các cơ quan chức năng để giữ gìn và phát triển sự trong sáng của tiếng Việt.

Hội thảo khoa học toàn quốc “Phát triển và giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt trong thời kỳ hội nhập quốc tế hiện nay” diễn ra tại TP.HCM trong suốt ngày 18-6 do Trường đại học Ngoại ngữ – tin học và Ðại học Sài Gòn đồng tổ chức với 91 báo cáo, tham luận gửi về từ 25 tỉnh thành.

Nhìn dưới góc độ tác động của xã hội, GS.TS Nguyễn Văn Khang (phó viện trưởng Viện Ngôn ngữ học) nêu vấn đề cần chuẩn hóa tiếng Việt, trong đó có nội dung quan trọng là việc chuẩn hóa về mặt ngữ pháp ở những mô hình câu tiếp nhận từ ngôn ngữ nước ngoài. Bởi như nhận định của GS Bùi Khánh Thế, “tiếng Việt có một lịch sử đứng vững trước sự tác động của những ngôn ngữ khác. Từ vựng thì chúng ta có thể vay mượn, nhưng ngữ pháp là của chúng ta, ngữ pháp là lời ăn tiếng nói của dân ta”.

Hội thảo đã thông qua bản kiến nghị gồm năm vấn đề chính:
1/ Cần có quy chuẩn quốc gia cho việc sử dụng tiếng Việt: tên gọi thống nhất các chữ cái; cách viết chính tả; cách viết tên riêng; nguyên tắc mượn từ ngữ ở các ngoại ngữ; chủ trương đối với chữ Hán, chữ Nôm đưa vào chương trình giáo dục phổ thông.
2/ Cần có một dự án cấp quốc gia để hệ thống hóa thành luật từ những quy định đã có.
3/ Về mặt tổ chức, cần lập một cơ quan vừa làm nhiệm vụ nghiên cứu, vừa có chức năng trọng tài, tư vấn để giúp Chính phủ giải quyết các vấn đề liên quan đến chính sách ngôn ngữ của đất nước.
4/ Tăng cường giáo dục ngôn ngữ trong nhà trường, chú trọng vào thực hành để con em chúng ta nói đúng, viết đúng tiếng Việt.
5/ Bảo vệ, giữ gìn tiếng Việt cần đi đôi với việc phát triển tiếng Việt. Không chỉ bảo toàn sự giàu đẹp mà còn cần đưa vào tiếng Việt những nhân tố mới, làm cho tiếng Việt đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu giao tiếp trong thời hội nhập.
Những kiến nghị trên sẽ gửi tới Ủy ban Văn hóa – giáo dục, thanh niên, thiếu niên và nhi đồng của Quốc hội, Bộ Giáo dục – đào tạo, Viện Khoa học xã hội, Bộ Văn hóa – thể thao và du lịch, Bộ Thông tin và truyền thông.
Ðiều đáng quý của hội thảo về tiếng Việt lần này là ban tổ chức đã tập hợp tham luận, ý kiến từ nhiều ngành nhiều giới. Thạc sĩ Võ Anh Tuấn – hiện đang là giám đốc một công ty xây dựng – đã đăng đàn yêu cầu Viện Ngôn ngữ học phải có “chiến lược chuẩn hóa ngôn ngữ tiếng Việt, chí ít cũng làm theo kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, lần thứ hai…”. Trong khi đó, nhà giáo lão thành Nguyễn Xuân Tư đưa ra một phát hiện thú vị: Tên gọi của hội thảo này có cụm từ “Phát triển và giữ gìn sự trong sáng…”, trong khi ông Tư nhớ lại một phát biểu của Bác Hồ, Bác đã dùng: “Giữ gìn và phát triển sự trong sáng của tiếng Việt”.
Và ông Tư so sánh: “Giữ gìn trước rồi mới phát triển sau, như thế hợp logic hơn. Nói thế cũng chỉ là khởi đầu của thực trạng đang rất ngổn ngang của tiếng Việt hiện nay. Ông Tư cho rằng việc dùng từ sai trên các báo, lạm dụng tiếng lóng, cố đặt ra các từ mang nghĩa riêng, kiểu như “bật mí”, “quái xế” đang làm cho tiếng Việt không trong sáng.
Một góp ý bất ngờ đến từ Phạm Nguyễn Huy Tùng – sinh viên năm 1 khoa văn Trường đại học Sài Gòn. Tùng cho rằng ở bậc phổ thông hiện nay, số giờ dạy tiếng Việt cho học sinh rất ít. Ðiều này khiến vốn tiếng Việt của các em học sinh quá ít. Các em đọc không hiểu tiếng Việt nên đâm ra lười đọc sách văn học. Giờ văn, học phân tích tác phẩm mà học sinh không chia sẻ được với cô giáo…
“Ðến như hiện nay, tôi dùng từ “võ đoán” mà trong bạn bè vẫn có người không hiểu” – Huy Tùng bộc bạch.

Nhắc lại bối cảnh của Nhật Bản từ mấy chục năm trước, khi ngôn ngữ nước này cũng gặp vấn đề suy thoái, một học giả đã lên tiếng bằng quyển sách bán chạy: Sự sụp đổ của tiếng Nhật, PGS.TS Ðoàn Lê Giang cho rằng tiếng Việt chúng ta đang trong tình trạng tương tự. Và đau đớn hơn, ông Giang nêu thực trạng: giới trẻ Việt Nam đang vong bản ngay trên đất nước mình.
Một sinh viên Nhật Bản khi viếng chùa Vĩnh Nghiêm, đọc thấy phả ký, biết đây là chùa thuộc dòng Lâm Tế, đã tâm sự với ông rằng: “Em thấy chùa Vĩnh Nghiêm rất thân thuộc, giống như ngôi chùa gần nhà bà ngoại em”. Nhưng TS Ðoàn Lê Giang nói thêm: “Với các thanh niên Việt Nam, khi họ đến chùa Vĩnh Nghiêm hay chùa Tây Phương, chùa Bút Tháp…, nhìn lên bảng hiệu, hoành phi, câu đối hay bài vị, họ cũng cảm thấy xa lạ như bất kỳ ngôi chùa nào ở Trung Quốc hay Hàn Quốc”.
Nguồn gốc của việc ấy, theo ông Giang, là do chúng ta đã từ lâu không dạy chữ Hán trong trường phổ thông. Ông gọi não trạng ấy là “thoát Hán học” và khẳng định: “Hán học có mặt ở nước ta hàng nghìn năm nay, gắn bó với dân tộc này nên nó đã trở thành một phần của Quốc học. Vì thế thoát Hán học cũng mở đường cho thoát Quốc học”.
Sự thật này được nhìn thấy từ khi nhà ngôn ngữ học Cao Xuân Hạo còn tại thế: nhìn ra các nước Ðông Á, không có nước nào đoạn tuyệt với chữ Hán. Chỉ có riêng Việt Nam là hoàn toàn không dạy chữ Hán trong chương trình phổ thông. Ông Ðoàn Lê Giang kêu gọi phải từng bước xây dựng lại chương trình dạy chữ Hán cho học sinh.
Giáo sư Bùi Khánh Thế đưa ra cái nhìn sâu sắc mà điềm đạm. Ông dẫn lời một giáo sư nước ngoài nhận định rằng ngôn ngữ cũng như cái cây, nó tự có thế đứng của nó. Cái cây muốn đứng phải chịu tác động của các luồng gió bên đông, bên tây, mặt trước, mặt sau… là chuyện bình thường. Nếu chịu không nổi, cái cây ấy trốc gốc. Còn nếu nó đứng được thì gốc nó càng ngày càng vững.
“Nhìn lại lịch sử tiếng Việt, trải qua bao thời kỳ, chúng ta từng học chữ Hán và dùng chữ ấy để viết Bình Ngô đại cáo… Tiếng Việt của chúng ta là một nồi chưng cất. Tôi tin tiếng Việt của ta đứng vững” – GS Bùi Khánh Thế khẳng định.

__________________________________________________

Posted in Chuyện tiếng Việt | Tagged: , , | Leave a Comment »

Truyền thuyết cà phê chồn và sản xuất cà phê bền vững

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Năm 26, 2010

Hồng Văn

(TBKTSG Online) – Mới nghe qua thì con chồn chẳng có liên quan nhiều tới sản xuất cà phê nhưng nhờ nó, các doanh nghiệp chế biến cà phê Việt Nam có thể chọn một hướng đi trong quy trình sản xuất bền vững ngành hàng cà phê.

Giá cà phê trên thị trường thế giới và trong nước giảm sâu, ở mức dưới giá thành sản xuất gần cả năm nay có lẽ là tác động xấu cuối cùng buộc ngành cà phê Việt Nam phải tính chuyện đi vào sản xuất bền vững sau hơn một thập kỷ tăng nóng cả về diện tích, sản lượng và xuất khẩu.

Cà phê chồn và cách chế biến ướt

Dân gian truyền tụng rằng con chồn lựa những quả cà phê chín mọng trên cây để ăn và sau đó ị ra những hạt cà phê nhân mà dạ dày của nó không tiêu hoá được. Người ta đem những hạt cà phê này rang xay, tạo nên thứ cà phê có biệt danh là cà phê chồn thơm ngon nổi tiếng mà nhiều người nghe nói chứ ít ai được thưởng thức. Còn cà phê chồn mà các cửa hàng bán cà phê nói với khách hàng thường chỉ là cà phê rang xay tẩm hương liệu tổng hợp na ná cà phê chồn thứ thiệt.

Sở dĩ hạt cà phê nhân mà con chồn thải ra có vị thơm ngon khác thường là do quả cà phê đi qua dạ dày của con chồn, được dịch vị trong dạ dày giúp quả cà phê lên men tự nhiên, rồi dạ dày của con chồn lấy tiêu hóa phần vỏ và thịt của quả cà phê một cách tự nhiên. Một yếu tố khác là con chồn chỉ ăn những quả cà phê chín mọng trên cây, không ăn quả xanh; cho nên cà phê chồn trước tiên là quả cà phê chín cây, có độ đồng đều cao.

Theo một số doanh nghiệp cà phê thì đầu thế kỷ 20, nguời Pháp đã đưa vào Việt Nam cách bóc vỏ và thịt của quả cà phê để lấy nhân bằng phương pháp chế biến ướt – giống như cách chế biến trong da dày của con chồn.

Theo cách chế biến ướt, cà phê khi thu hoạch phải chín đều, không lẫn lộn quả xanh, rồi dùng dùng nước để bóc tách vỏ và thịt cà phê. Phương pháp này khác với cách chế biến khô đang áp dụng hàng chục năm qua, chỉ hái cà phê (cả chín lẫn xanh), rồi phơi khô, sau đó đưa vào máy để bóc tách vỏ và thịt, lấy nhân.

Kể từ khi Việt Nam vươn lên trở thành cường quốc xuất khẩu cà phê hơn một thập kỷ qua, khá nhiều doanh nghiệp đã đầu tư máy móc thiết bị để áp dụng phương pháp chế biến ướt nhằm tăng chất lượng cho cà phê nhân. Thế nhưng máy móc dùng để chế biến ướt mà các doanh nghiệp đầu tư đa phần đành phải “đắp mền” bởi tập quán thu hoạch của người nông dân đã trở thành thói quen khó dứt bỏ là dùng tay lặt cả quả chín lẫn quả còn xanh (còn gọi là tuốt sạch cả cành), ít tốn công hơn rất nhiều nếu so với chỉ lựa quả chín.
Thứ nữa, các doanh nghiêp cũng ngại chế biến ướt vì thấy chế biến khô cũng xuất khẩu được cà phê thì ai dại gì mạo hiểm chế biến ướt, lỡ không có khách mua thì nguy to.

Thay đổi thói quen để tăng giá trị

Sau hơn một thập kỷ phát triển nóng, ngành cà phê Việt Nam gia tăng cả về diện tích và sản lượng, chạy theo cà phê nhân chất lượng thấp, không thương hiệu, nên khi khủng hoảng giá nổ ra, người nông dân trồng cà phê lẫn doanh nghiệp lao đao.

Theo ông Nguyễn Văn An, Tổng giám đốc Công ty cổ phần tập đoàn Thái Hòa, một nhà xuất khẩu cà phê lớn hiện nay, chỉ trong chục năm qua, ngành cà phê đối mặt với hai cuộc khủng hoảng giá: Khủng hoảng thừa cà phê giai đoạn 2000-2004 và khủng hoảng tài chính tác động xấu tới giá cà phê kéo dài từ năm ngoái tới nay.
Để phát triển ngành cà phê Việt Nam phải chuyển hướng sang sản xuất bền vững. Hướng sản xuất cà phê bền vững ở tầm vĩ mô, theo ông An là không tăng diện tích (và thực tế có muốn tăng cũng không dễ) mà tập trung tăng giá trị xuất khẩu thông qua việc nâng cao chất lượng, cải tiến cung cách thu hái và chế biến, đi cùng với xây dựng sản phẩm và thương hiệu.

“Chế biến ướt là cách đơn giản nhất để tăng chất lượng, giá trị cho hạt cà phê”, ông An nói. Công ty Thái Hòa của ông An áp dụng phương pháp chế biến ướt có giá bán cà phê cao hơn 15-20% so với chế biến khô. Nhưng theo ông Đoàn Triệu Nhạn, một chuyên gia lâu năm về cà phê từng là người sáng lập Hiệp hội cà phê Việt Nam, thay đổi phương pháp chế biến từ khô hiện nay sang ướt là phải thay đổi cả tập quán, thói quen của người nông dân và cả chuỗi ngành hàng cà phê.

Ông An cũngcho rằng muốn chế biến ướt để gia tăng giá trị, người nông dân và doanh nghiệp phải thay đổi tập quán sản xuất. Trước tiên, nhà nông phải thay đổi thói quen thu hoạch cà phê, chấp nhận tốn công thu hoạch, chỉ lựa quả chín, bù lại giá trị sẽ tăng cao hơn. “Nông dân nếu chỉ lựa quả chín để hái thì sản lượng cà phê Việt Nam đã tăng 10%, tức hơn 100.000 tấn mỗi năm, mà không cần tăng diện tích, giúp gia tăng thêm thu nhập cho ngành cà phê 150 triệu đô la Mỹ, một con số không nhỏ”, ông An phân tích.

Các doanh nghiệp thì đầu tư nhà xưởng chế biến ướt và thay đổi tập quán mua cà phê. Hiện nay đa phần các nhà máy cà phê mua của nông dân cà phê đã bóc tách vỏ, về nhà máy sàng lọc sơ để xuất khẩu. Muốn chế biến ướt, nhà máy phải đầu tư thiết bị, nhà xưởng và thay đổi thói quen từ mua cà phê nhân sang mua cà phê chín chưa bóc tách vỏ.

Ông Đoàn Triệu Nhạn cho biết hiện tại, cà phê chế biến ướt có giá bán tăng thêm 15-20%, tức 1 triệu tấn cà phê nhân xuất khẩu hàng năm của cả nước, nếu chế biến ướt, sẽ tăng thêm giá trị 250 triệu đô la Mỹ, gộp với cả tăng sản lượng nhờ hái quả chín, thu nhập tăng thêm của ngành cà phê lên tới 400 triệu đô la Mỹ mà không cần phải tăng diện tích.

Có lẽ cũng nhận thấy ngành cà phê cần phải đi vào sản xuất bền vững, vào tháng 8 tới, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn sẽ trình Chính phủ phê duyệt quy hoạch phát triển cà phê Việt Nam giai đoạn 2010 – 2015 và định hướng năm 2020, trong đó trọng tâm là phát triển bền vững, không tăng diện tích, hạn chế tái canh cà phê robusta mà tăng diện tích cà phê arabica có giá trị cao hơn trên thương trường.

Viện Chính sách và chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn (Ipsard) cùng Hiệp hội cà phê Việt Nam (Vicofa) thì đang đề xuất các bộ ngành chức năng, vận động doanh nghiệp, nông dân trồng cà phê và các cơ quan khoa học thành lập Ban điều phối ngành hàng cà phê, học tập từ mô hình chuỗi ngành hàng cà phê ở Brazil và Colombia.

Nếu được thành lập, tổ chức này sẽ đảm nhận việc tư vấn hoạch định chính sách cho cà phê, cung cấp thông tin thị trường, chiến lược trồng, chế biến, thương mại cà phê trong nước, xuất khẩu và thông qua ngân sách hàng năm cho quỹ cà phê. Nhưng quan trọng hơn, tổ chức này có mục tiêu liên kết cả chuỗi ngành hàng cà phê, từ nhà nông, hội nông dân, nhà doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp, nhà khoa học, các cơ quan quản lý, cơ quan khuyến nông, tiến tới thực thi chính sách phát triển bền vững.

Năm 2009, cả nước có 537.000 héc ta cà phê, tăng tới 48.000 héc ta so với năm 2008 và tính ra trong vài năm gần đây, diện tích cà phê Việt Nam tăng bình quân 2,5%/năm. Ngành cà phê ở Việt Nam là một trong những ngành hàng nông sản mới so với các ngành lúa gạo, cao su, chè nhưng có tốc độ phát triển khá nhanh.

Từ chỗ sản lượng và giá trị xuất khẩu không đáng kể trước năm 1990, nay Việt Nam trở thành nước xuất khẩu đứng thứ 2 thế giới (chiếm 14% sản lượng cà phê thế giới) và đứng thứ nhất về xuất khẩu cà phê robusta. Cà phê đã trở thành một trong 5 mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực với sản lượng xuất khẩu trên 1 triệu tấn/năm và đạt kim ngạch xuất khẩu gần 2 tỉ đô la Mỹ/năm, đứng thứ 2 sau gạo trong nhóm hàng nông sản.

_________________________________________________________________

Posted in Khoa học & Công nghệ, Ngôn ngữ | Tagged: , , | Leave a Comment »

Hán Nôm với văn hóa Việt Nam hôm nay

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Năm 25, 2010

(TBKTSG) – Nhiều ý kiến cho rằng, trong khuynh hướng tái sinh những giá trị văn hóa cổ xưa, nguồn tri thức Hán Nôm đang bị trưng dụng một cách vô tội vạ, thậm chí là có nhiều sai lệch đến lố bịch. Ông Trần Trọng Dương, nghiên cứu viên Viện Nghiên cứu Hán Nôm, cho rằng đó là hậu quả của sự “đứt gãy văn hóa”.

TBKTSG: Trong những năm gần đây, một số địa phương có xu hướng phục dựng nhiều lễ hội cổ truyền cùng với sự đa dạng thư pháp Hán Nôm. Ông nhìn nhận hiện tượng này thế nào?

Ông Trần Trọng Dương: Sự tái sinh văn hóa cổ là nét tích cực trong sinh hoạt văn hóa ngày nay. Nhiều người đã ý thức hơn về những giá trị của nền văn hóa Hán Nôm xưa. Nhiều người già sau khi nghỉ hưu, nhiều bạn trẻ trong khi đang ngồi trên ghế nhà trường đã chủ động học chữ Hán, chữ Nôm để tìm lại những giá trị nhân văn của văn hóa cổ truyền. Nhiều di tích, đình chùa, miếu mạo trong quá trình xây dựng, trùng tu cũng đã thể hiện sự mong muốn tìm lại nguồn mạch tâm linh xưa cũ. Tuy nhiên, việc phục dựng các giá trị văn hóa cổ mà thiếu tính tổ chức của hoạt động chuyên môn thì dễ có nguy cơ gây ra tác dụng ngược.

TBKTSG: Có người coi kho tàng Hán Nôm đã thuộc về quá khứ, không mấy ý nghĩa đối với đời sống hôm nay. Ông nghĩ thế nào?

– Với cha ông chúng ta, chữ Hán cùng với chữ Nôm do chính người Việt sáng tạo, là phương tiện để ghi chép lại toàn bộ tri thức văn hóa, lịch sử, khoa học, tôn giáo, tư tưởng… trong suốt một thời kỳ dài của dân tộc. Hán Nôm là một ngành khoa học tổng hợp, đa-liên-ngành, là chìa khóa để đi vào mọi cánh cửa của văn hóa Việt Nam trong quá khứ.

TBKTSG: Ông có thể nói rõ hơn kho tàng Hán Nôm có thể đóng góp gì cho đời sống hôm nay?

– Hơn 2.000 năm qua, tiếng Hán luôn là thứ ngôn ngữ ngoại giao chính thống của các nước đồng văn. Ngày nay, ngành Hán Nôm học giúp chúng ta tìm hiểu rõ hơn lịch sử ngoại giao của ta với các nước trong khu vực. Trong xu thế khu vực hóa về kinh tế cũng như văn hóa hiện nay, những văn tự Hán Nôm còn là chiếc cầu nối hữu hiệu để kết nối văn hóa và truyền thống giữa các dân tộc đồng văn.

Hiện tượng các con rồng châu Á – sự phát triển vượt bậc của các nền kinh tế Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc trong mấy thập niên vừa qua, đã khiến cho giới khoa học không chỉ ở châu Á mà cả ở phương Tây phải đi tìm nguyên nhân. Trong đó, không ít học giả coi sự trỗi dậy của kinh tế và văn hóa các nước này là một biểu hiện của văn minh chung – văn minh chữ Hán. Tuy còn nhiều lý do khác nữa, nhưng nền tảng lịch sử dùng chung văn tự giữa các nước này là điều không thể bác bỏ. Ngoài ra, học Hán Nôm cũng sẽ biết đến tiếng Hán hiện đại. Vừa biết cổ vừa biết kim, vừa thông hiểu về quá khứ vừa hòa nhập với hiện tại là một lợi thế của những người làm văn hóa và ngoại giao.

TBKTSG: Như vậy, Hán Nôm đang giữ vị trí và đóng vai trò như thế nào trong các ngành khoa học xã hội nhân văn của Việt Nam hiện nay?

– Không chỉ lúc này mà trong suốt một thế kỷ vừa qua, việc học Hán Nôm luôn được các học giả trong nước và nhiều nước châu Á đặt ra, như Hoàng Xuân Hãn, Phan Ngọc, Trần Ngọc Vương, Tomita Kenji…, bởi vì Hán Nôm là quá khứ của chúng ta. Tôi muốn dẫn một quan điểm của thầy tôi – cố Giáo sư Trần Đình Hượu: “Đến hiện đại từ truyền thống”. Tôi tin rằng chỉ khi chúng ta tích trữ truyền thống và có một nền tảng quá khứ đủ mạnh thì mới có thể đi đến hiện đại một cách vững vàng và có bản sắc riêng.

Theo tôi biết, văn hóa Việt Nam hiện lưu trữ một trữ lượng giá trị quá khứ khá loãng. Đây là lỗi của việc xóa bỏ văn tự truyền thống, trong đó có văn tự Hán Nôm, gây nên sự đứt gãy văn hóa trong suốt một thế kỷ qua. Sự đứt gãy không chỉ về mặt thời gian – giữa hiện tại với truyền thống mấy ngàn năm lịch sử, mà còn ở khía cạnh không gian – giữa Việt Nam và các nước đồng văn trong khu vực.

Tôi nhớ Giáo sư Phan Ngọc đã từng viết: “Việc trí thức Việt Nam không chịu học chữ Hán là một tổn thất nặng nề”. Có người cho rằng ý kiến này hơi khắt khe, nhưng có lẽ đã phản ánh đúng thực trạng của khối khoa học xã hội và nhân văn hiện nay.

TBKTSG: Từng là giảng viên dạy môn Hán Nôm ở bậc đại học, ông có thể cho biết thực trạng học tập và nghiên cứu Hán Nôm hiện nay như thế nào, nhất là trong giới trẻ?

– Như tôi đã nói, có nhiều bạn trẻ chủ động đăng ký học bộ môn Hán Nôm, cho thấy họ thực sự đánh giá cao những giá trị mà Hán Nôm có thể mang lại cho hôm nay và cả trong tương lai. Nhưng thực lòng mà nói, tình trạng giáo dục Hán Nôm hiện nay làm thất vọng nhiều bạn trẻ và có lẽ với tất cả những ai quan tâm nghiên cứu “cổ học”. Đa phần không có giáo trình cho các chuyên ngành như lịch sử, y học cổ truyền, bảo tàng, thư viện, triết học, Việt Nam học, Đông phương học, ngôn ngữ học…

Nhiều giáo viên cũng không có khả năng viết giáo trình do không đủ năng lực dịch thuật văn bản và yếu kém trong nghiên cứu, cập nhật công nghệ thông tin. Hậu quả là giảng dạy theo cách… tung hỏa mù và Hán Nôm trở thành một môn học “kinh hoàng”, một trò tra tấn tinh thần đối với sinh viên.

TBKTSG: Trong hệ thống giáo dục đào tạo chính quy còn vậy thì chắc hẳn trong các sinh hoạt phục cổ của đời sống văn hóa dân gian hiện tại khó có thể tránh khỏi những sai lệch. Ông suy nghĩ vấn đề này thế nào?
– Đề cập ở khía cạnh nội dung (chứ không phải hình thức) của vấn đề, tôi biết trong xã hội vẫn có nhiều người có tâm huyết gìn giữ những giá trị văn hóa Hán Nôm, chủ yếu ở những người ngoài 40 tuổi. Tuy nhiên, hầu hết những hành động này đều nằm ngoài sự đầu tư, tổ chức hoặc hỗ trợ của Nhà nước.

Tôi nghĩ các cơ quan hữu quan thuộc các ngành văn hóa, khoa học xã hội nhân văn cần nhận thức lại về sự cần thiết phải điều chỉnh các hoạt động nghiên cứu, giáo dục đào tạo Hán Nôm để đi vào thực chất các giá trị văn hóa mà dân tộc ta đã có, làm nền tảng khai phá những giá trị mới trong tương lai. Chúng ta cần có nhiều người hiểu biết Hán Nôm hơn con số hiện nay, nhưng trên thực tế, vấn đề này chưa được quan tâm đúng mức.

Bảo Uyên thực hiện
______________________________________________________________

Posted in Chuyện tiếng Việt, Chuyện đất nước, Ngôn ngữ | Tagged: , , , | Leave a Comment »

Giới trẻ đang học cái thứ gần 100%… không phải tiếng Việt

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Năm 18, 2010

– “Quả thật hình như người ta coi thường công việc nghiên cứu và trau dồi tiếng Việt. Có lẽ ai cũng nghĩ rằng nói sao, viết sao hiểu được thì thôi. Chứ lời văn trau chuốt chẳng có giá trị gì trong thời đại của Internet này nữa” – trăn trở của cố GS Cao Xuân Hạo từ năm 2003 vẫn đang là nỗi băn khoăn của nhiều người hiện nay, khi mà tiếng Việt đang ngày càng méo mó.

– Là người nói chuẩn tiếng Việt, ông có đau lòng khi tiếng Việt nhiều khi bị sử dụng sai nghĩa, sai ngữ pháp trên báo, đài, và ở đâu đó nữa…?

– Có. Nhưng sau hơn 50 năm được các dịch giả của các báo, đài tập dượt cho, bản năng phản ứng của “người bản ngữ” trước những câu nói ngô ngọng chỉ có thể có được ở cửa miệng những ông Tây mới học tiếng Việt được 3 tuần cũng đã dần dần cùn mòn đi. May thay, dù sao tôi cũng đã quá già để có thể bị cái giọng Tây lai ấy ảnh hưởng.

Chỉ thương cho những người Việt nhỏ tuổi sẽ bắt chước kiểu nói đó mà quên dần những phương tiện diễn đạt trau chuốt, chính xác và tinh tế của tiếng mẹ đẻ, cho đến khi đọc Kiều hay thơ Xuân Diệu không còn chút khả năng rung đùi nào nữa.

– Ông thấy tình trạng này còn có hy vọng khắc phục được nữa không?

– Tôi không đến nỗi bi quan như một số bạn đồng nghiệp cho rằng dưới những đòn nặng nề của “ba mũi giáp công” (nhà trường, truyền thông đại chúng và các nhà nghiên cứu), tiếng Việt chỉ vài mươi năm nữa là tuyệt diệt như một số ngôn ngữ bị người nói quên dần (để dùng tiếng Anh hay tiếng Tây Ban Nha).

Tôi tin rằng nếu ngay bây giờ chúng ta bắt đầu dạy tiếng Việt thật (chứ không phải tiếng Tây hoá trang bằng thí dụ tiếng Việt) ở nhà trường phổ thông, cái quá trình bi thảm ấy hoàn toàn có thể chặn đứng lại, chậm nhất là sau 20 năm.

– Ngôn ngữ thể hiện tư duy của con người, liệu có phải tư duy của chúng ta đang “có vấn đề” không, thưa ông?

– Đừng đặt vấn đề sâu như thế. Ở đây tôi chỉ muốn nói nhà trường đã dạy dỗ thế nào, các ông giáo sư, nhà nghiên cứu làm gì mà để môn tiếng Việt lâm vào một tình trạng đáng buồn như vậy.

Theo tôi, hiện nay thứ tiếng mà chúng ta đang dạy cho học sinh và sinh viên gần như 100% không phải là tiếng Việt, mà là tiếng Pháp hay một thứ tiếng Âu Châu điển hình nào đấy.

– Liệu đây có phải là thời tiếng Việt lâm nạn?

– Thực ra có những cuốn tiếng Việt tương đối chuẩn, như cuốn “Ngữ pháp tiếng Việt” in từ năm 1883 của Trương Vĩnh Ký, ông viết từ thời xưa nhưng còn hơn hẳn mấy ông ngôn ngữ bây giờ, những người chỉ sao chép ngữ pháp tiếng Âu châu qua tiếng Việt.

– Là một dịch giả có uy tín ông nghĩ thế nào về tình trạng như là “dịch lấy được” của một số dịch giả hiện nay?

– May là tôi cũng đã quá già để có thể bị cái giọng Tây lai ấy ảnh hưởng.

Thú thật là tôi ít có thì giờ để đọc. Thỉnh thoảng xem trong tạp chí “Văn học nước ngoài”, tôi thấy hình như các dịch giả quá ít chú ý đến câu văn. Hình như họ dịch quá sát nguyên bản mà không đọc lại cho kỹ xem văn Việt của bản dịch có ngô ngọng quá không.

– Sau khi ký hợp đồng chuyển nhượng bản quyền cho Công ty văn hoá Phương Nam, ông đã yên tâm hoàn toàn về vấn đề tác quyền chưa?

– Chính bên Phương Nam cũng nói là họ sẽ gắng làm hết sức, chứ không thể đủ sức ngăn chặn hẳn hoạt động in lậu. Có những nhà xuất bản từng làm việc lâu năm với các bản dịch của chúng tôi như Nhà xuất bản Văn học chẳng hạn, họ làm việc rất đứng đắn, mỗi lần tái bản cuốn nào đều xin phép hẳn hoi và trả nhuận bút đầy đủ.

Nhưng nhà xuất bản của các tỉnh thì lại thường thấy hai việc này là hoàn toàn không cần thiết. Họ biết thừa rằng dù họ in lậu bao nhiêu thì chúng tôi cũng chẳng biết.

– Một câu cuối cùng, đến tuổi này ông sợ nhất điều gì?

– Sợ thì sợ nhiều. Nhưng cũng không sợ gì lắm vì có ai làm gì đâu mà mình sợ? Nhưng đúng là tôi cũng thấy buồn trước tình hình dạy, học và viết tiếng Việt hiện nay.

Quả thật hình như người ta coi thường công việc nghiên cứu và trau dồi tiếng Việt. Có lẽ ai cũng nghĩ rằng nói sao, viết sao hiểu được thì thôi. Chứ lời văn trau chuốt chẳng có giá trị gì trong thời đại của Internet này nữa. Nhược điểm có viết thành yếu điểm thì cũng đã chết ai chưa? Dùng cứu cánh để chỉ “phương tiện cứu vãn” thì phỏng có hại gì cho định hướng phát triển xã hội?

Nếu có nghe, đọc phương tiện truyền thông của ta mỗi ngày truyền bá dăm bảy trăm câu hoàn toàn bất thành cú, biết kêu ai bây giờ?

Theo Lao Động
__________________________________________________

Posted in Chuyện tiếng Việt, Ngôn ngữ | Tagged: , , , | 1 Comment »