NGÔN NGỮ & VĂN HÓA

CHÚC MỪNG NĂM MỚI

Archive for the ‘Truyền thuyết’ Category

Ngành Rùa học Việt Nam: Ai cô đơn?

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Tư 8, 2011

Hồ Gươm có mấy “cụ rùa”?

Nếu như “ráp nối” lại toàn bộ sự việc từ trước đến giờ, thì phán đoán Hồ Gươm có hơn một cụ rùa đang còn sống là điều có thể.

TS Nguyễn Viết Vĩnh, chuyên gia thủy sản, cho rằng có ít nhất ba cá thể rùa khổng lồ tại Hồ Gươm. Trong số đó, có một cá thể rất khỏe, mai dài hàng thước màu xanh đen, rất lanh lợi chứ không chậm chạp như cá thể đã bắt được.

Giáo sư, Tiến sĩ Khoa học Đặng Huy Huỳnh – Chủ tịch Hội Động vật học Việt Nam, cũng cho rằng, khả năng Hồ Gươm có trên một cá thể rùa với diện tích hồ đủ rộng thế này.

Rốt cuộc, Hồ Gươm có mấy “cụ rùa”? Không chỉ đến bây giờ, trước đó, nhiều tờ báo đã đưa tin, ông Nguyễn Văn Khôi – TGĐ Tập đoàn KAT, đơn vị tham gia trong 2 lần lai dẫn cưỡng bức rùa Hồ Gươm, cũng đã chụp được một bức ảnh có hai làn tăm rùa song song, và đưa ra nhận định: hồ Gươm có hai “cụ rùa”.

<strong Khó xác định được tuổi và giới tính??

Rùa Hoàn Kiếm vừa được mang lên chữa trị rất có thể là “cụ” bà, TS Bùi Quang Tề, Viện Nuôi trồng Thủy sản, trưởng nhóm chẩn đoán và chữa bệnh cho Rùa Hoàn Kiếm, nhận định. Trong khi đó, ông Hoàng Văn Hà, cán bộ chương trình Bảo tồn rùa châu Á cho biết, trong trường hợp chỉ có 1 cá thể thì việc xác định giới tính là không thể.

Cũng theo TS Tề, rùa được bắt lên chính là cá thể rùa bị thương nặng mà báo chí thời gian qua đã thông tin. “Cụ” Rùa không bị mất móng, vết màu trắng trên chân phía trước và trên cổ là do giảm sắc tố da sau khi vết thương đã thành sẹo. Đáng lo ngại nhất là nguy cơ bệnh viêm phổi. Các thành viên trong tổ chữa trị đã lấy mẫu bệnh phẩm để tìm tác nhân gây bệnh, phân loại hình thái, xác định giới tính.

“Nhóm đã thu mẫu ADN, dự kiến cuối tuần này có thể đưa ra kết luận về bệnh trạng, giới tính của Rùa Hoàn Kiếm. Tuy nhiên, dựa vào đặc điểm hình thái mà chúng tôi quan sát được, có thể khẳng định 90% là “cụ” bà!”, TS Tề nói.

Theo TS Tề, để xác định tuổi, phải lấy được xương của cá thể. Thời điểm hiện tại, chỉ tập trung chữa bệnh và tăng cường dinh dưỡng chứ chưa có cách nào lấy được mẫu xương rùa. Do đó công việc này sẽ được tiến hành sau. Các chuyên gia của Tổ chức Bảo tồn rùa Châu Á cũng cho biết, đến nay, chưa có cách nào xác định được tuổi của loài rùa mai mềm.

Trong khi đó, ông Hoàng Văn Hà, cán bộ chương trình Bảo tồn rùa châu Á cho biết, trong trường hợp chỉ có 1 cá thể thì việc xác định giới tính là không thể.

Ông Hà giải thích, việc xác định giới tính rùa được thực hiện dựa trên 3 phương pháp: Thứ nhất dựa trên độ dài và to của đuôi. Đuôi của con đực to và dài hơn đuôi của con cái cùng loại. Thứ hai là xác định vị trí của hậu môn. Hậu môn của con đực nằm xa gốc đuôi hơn so với con cái. Cuối cùng là sự khác nhau của yếm. Con đực trưởng thành có yếm lõm, con cái có yếm phẳng (tiêu chí này áp dụng cho một số loài).

Về vấn đề xác định tuổi, việc xác định tuổi của rùa mai cứng khá dễ dàng, giống như việc đếm những vòng gỗ, có thể đếm số vòng sinh trưởng trên mai rùa để biết số tuổi. Tuy nhiên, với loài rùa mai mềm phức tạp hơn nhiều.

Các chuyên gia của Tổ chức Bảo tồn rùa châu Á cho hay, đến nay chưa có cách nào xác định được. Công nghệ gen chỉ có thể nêu ra được những đặc tính khác về loài. Người ta có thể sử dụng các đồng vị phóng xạ để xác định niên đại của động vật. Tuy nhiên, phương pháp này chỉ sử dụng cho những mẫu vật có niên đại rất lớn.

Theo PGS.TS Lê Quang Huấn, trưởng phòng Công nghệ Tế bào Động vật, Viện Công nghệ Sinh học, việc xác định tuổi và giới tính của rùa bằng công nghệ là rất khó. Công nghệ gen chỉ có thể đọc được đó là loài nào, tên gì, có giống với các loài rùa trước đây hay không.

Không đơn giản như việc xác định giới tính ở người hay các loài động vật có vú khác, giới tính ở rùa vốn không rõ ràng, lại là loài động vật hoang dã nên vô cùng khó khăn. Nếu làm thì phải tiến hành nghiên cứu rất kỹ các loại công nghệ cũng như phương pháp xác định khác nếu có.

Cuộc chiến rùa

Khắp các hang cùng ngõ hẻm ở Hà Nội, câu chuyện này lại thêm một lần được mở ra với nhiều luồng ý kiến, tranh luận dữ dội…

Cách đây vài năm, nhiều người quan tâm tới Cụ Rùa Hồ Gươm hẳn vẫn còn nhớ cuộc “bút chiến” giữa Phó giáo sư Hà Đình Đức và nhà giáo Lưu Đức Ngò- hai người được mệnh danh là “nhà rùa học”. Ông Lưu Đức Ngò – người sở hữu hàng trăm tấm ảnh rùa được chụp tại nhiều góc độ, thời điểm khác nhau đã khẳng định ở hồ Gươm có ít nhất năm cụ rùa, trong khi đó Phó giáo sư Hà Đình Đức thì luôn bảo vệ cho quan điểm của mình: Chỉ có một Cụ Rùa duy nhất ở Hồ Gươm.

Thậm chí ông Ngò đã từng muốn “kiện” ông Đức vì ông Đức cho rằng ông Ngò “tuyên bố ba lăng nhăng”, “nhảm nhí”, “phát ngôn lung tung”…Dù cuối cùng, không có phiên tòa nào phải mở ra, nhưng lúc ấy, ông Đức vẫn “chiếm thế thượng phong” với kinh nghiệm hơn 20 năm theo dõi Cụ Rùa. Chỉ đến những ngày gần đây, khi rất nhiều người khẳng định: Hồ Gươm có 2 Cụ Rùa, thậm chí người ta còn mô tả tới cả một “gia đình rùa” đang sinh sống ở trong lòng hồ Gươm, vô hình chung, “cuộc chiến” về sự thật hồ Gươm có bao nhiêu Cụ Rùa lại một lần nữa nổ ra và cán cân dường như đang lệch hẳn về phía ông Ngò.

Có lẽ người “châm ngòi” lại cho cuộc chiến này chính là ông Nguyễn Ngọc Khôi, người được giao phụ trách Đội lai dắt Cụ Rùa. Sau khi đưa được Cụ Rùa vào bể thông minh ngày 3-4, ông Khôi tuyên bố, còn một Cụ Rùa nữa, và đã xin phép UBND Thành phố Hà Nội bắt tiếp Cụ Rùa này khi điều kiện thích hợp. Phát ngôn của ông Khôi đã thực sự “khơi mào” cho một làn sóng dư luận bán tán xôn xao về câu chuyện còn nhiều Cụ Rùa ở hồ Gươm. Chị Nguyễn Ngọc Dung, chủ kinh doanh một cửa hàng ô tô ở khu Hoàng Cầu, Đống Đa, Hà Nội gọi điện đến Đại Đoàn Kết cho biết, hồ Gươm có ít nhất 3 Cụ Rùa.

Vào năm 1990, khi nhà chị còn ở phố Hàng Khay, ngay cạnh hồ Gươm, chị đã từng một lúc nhìn thấy cả 3 cụ rùa cùng nổi. Theo chị Dung mô tả, có hai cụ to và một cụ nhỏ – giống như một gia đình. Cụ to nhất có vết lõm ở lưng chính là cụ mới được đưa lên bờ. Ngay cả TS Bùi Quang Tề, Viện Nuôi trồng Thủy sản, hiện là trưởng nhóm chẩn đoán và chữa bệnh cho Rùa Hoàn Kiếm, cho biết, đã phát hiện thêm một Cụ Rùa nữa. Một chuyên gia thủy sản khác, TS Nguyễn Viết Vĩnh, cũng cho rằng, hồ Gươm có ít nhất ba Cụ Rùa. Cụ khỏe nhất có mai dài hàng thước, màu xanh đen, cụ hiếm khi nổi hẳn lên mặt nước và rất nhanh nhẹn chứ không chậm chạp như Cụ vừa được đưa lên bờ.

Trong khi làn sóng về “các Cụ Rùa” đang được bàn luận xôn xao ở khắp hang cùng ngõ hẻm của Hà Nội, ông “giáo sư rùa” Hà Đình Đức lại trở nên “cô đơn” hơn bao giờ hết khi vẫn bảo lưu quan điểm của mình. Phó Giáo sư Hà Đình Đức vẫn cho rằng, Hồ Gươm chỉ có duy nhất một Cụ Rùa và đây chính là cụ thường xuyên nổi lên, có đốm trắng ở trên đầu, có vết thương ở trên mai, trên cổ, chân… như mọi người vẫn thường nhìn thấy trên báo chí.

Giải thích về những bức ảnh chụp Cụ Rùa trước đó, khi cụ thò chân lên bờ, các móng trên chân cụ đã bị tuột gần hết, nhưng khi bắt được cụ thì vẫn đếm đủ 6 móng chân, ông Đức cho hay, “lỗi” là ở các góc chụp khác nhau. Nhiếp ảnh gia Long Anh, người thường xuyên chụp các bức ảnh Cụ Rùa nổi cũng công nhận điều này. Nhiếp ảnh gia này cho hay, nếu đứng ở phía bên trái, hoặc bên phải chụp vào thì dường như chỉ nhìn thấy một móng trên chân cụ, còn nếu chụp thẳng, trực diện sẽ nhìn thấy đủ 6 móng mà việc chụp trực diện Cụ Rùa chỉ làm được khi chụp cụ ở trên bờ, trong bể bơi thông minh, với khoảng cách gần nhất.

Phó Giáo sư Hà Đình Đức, cũng là người được giao trọng trách chính với tư cách là chuyên gia trong Ban chỉ đạo khẩn cấp bảo vệ rùa Hồ Gươm khẳng định, cho đến lúc này ông chưa nhận được một quyết định nào của thành phố về việc sẽ đưa Cụ Rùa thứ 2 lên bờ. Ông Đức cho rằng, nếu chưa khẳng định được điều gì thì đừng nên kết luận vội vàng, việc quan trọng trước mắt bây giờ là chăm lo cho sức khỏe của Cụ Rùa thật tốt.

Tuy nhiên, theo một nguồn tin riêng, UBND thành phố Hà Nội rất đồng tình với việc đưa Cụ Rùa thứ hai lên bờ để kiểm tra sức khỏe, nhưng việc có đi đến quyết định này hay không thì trước tiên Đội lai dắt phải tiến hành thăm dò xem thực sự có hay không một cụ rùa nữa. Công việc này hiện vẫn đang được Đội Lai dắt tiến hành.

Đến lúc này, dường như ý kiến chắc như đinh đóng cột của ông Đức đang bị “chìm nghỉm” vào hàng trăm câu chuyện khác nhau, hàng nghìn ý kiến, tranh luận về nhiều Cụ Rùa khác. Và tất cả họ đều cảm thấy rất vui nếu thực sự Hồ Gươm còn nhiều Cụ Rùa. Ông Nguyễn Đình Hòe, Trưởng ban Phản biện xã hội Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam cho rằng, ông đánh giá cao những tâm huyết của Phó Giáo sư Hà Đình Đức trong suốt hơn 20 năm qua theo dõi về Cụ Rùa.

Và ông cũng vui mừng nếu phát hiện của ông Nguyễn Ngọc Khôi, Chủ tịch Tập đoàn Khanh Anh Trang là đúng. Ông Hòe cho hay, nếu hồ Gươm còn nhiều Cụ Rùa, cần phải nhanh chóng đưa những cụ còn lại lên để kiểm tra sức khỏe, tạo điều kiện cho công tác bảo tồn các động vật quý hiếm. Bởi theo ông Hòe, lâu nay, công tác bảo tồn những di sản “sống” như Cụ Rùa đã thực hiện quá lỏng lẻo, yếu kém…

Và “cuộc chiến” xung quanh hồ Gươm sẽ chỉ ngã ngũ khi có thêm một Cụ Rùa nữa được đưa lên bờ.

(Tổng hợp)
_______________________________________________

Advertisements

Posted in Chuyện đất nước, Hà Nội nghìn năm, Truyền thuyết | Tagged: , , | Leave a Comment »

Cuộc vây bắt rùa: Nếu Cụ Rùa biết nói…

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Ba 10, 2011

Một cuộc vây bắt kinh thiên động địa!

Không thể có một cách mô tả khác khi mà hàng hàng nghìn người tập trung kín xung quanh một cái hồ chỉ nhỉnh hơn một cái ao làng. Người ta trèo lên ngồi kín cả các cây. Đoạn đường Lê Thái Tổ bị tắc cục bộ. Hàng trăm cảnh sát đã được huy động để giữ gìn trật tự và bảo đảm giao thông tại khu vực quanh hồ Hoàn Kiếm.
Có hai phương án đưa Cụ Rùa lên chữa trị đã được lập ra.
– Phương án tự nhiên, theo đó Cụ Rùa sẽ tự bò lên qua bốn cửa quanh chân tháp Rùa (mỗi cửa rộng 2m). Xung quanh chân tháp đã lắp hàng rào chắn bằng sắt và lưới để đảm bảo không gây chấn thương cho Rùa. Xung quanh chân tháp sẽ tạo ra môi trường tự nhiên để Rùa có thể phơi nắng, đồng thời dọn các chướng ngại vật như hệ thống đèn chiếu ngược, dây điện, gạch đá để đảm bảo an toàn cho Cụ Rùa.
– Phương án cưỡng bức, sẽ được thực hiện khi Cụ Rùa không tự lên tháp, theo đó sẽ quây lưới bắt Cụ đưa vào bể điều trị.
Cuối cùng, phương án thứ hai được được sử dụng.
Để đảm bảo an toàn khi dùng phương án hai, những người tham gia bắt Cụ Rùa đã được tập luyện trước tại Đầm Long (Ba Vì) và hồ Định Công (Hoàng Mai). Ngoài ra, hai thợ lặn cũng đã được mời về tham gia đội bắt, để trong trường hợp cần thiết sẽ lặn xuống phía dưới gom chân lưới, không để xảy ra các khoảng hở ở chân lưới.
Hai chiếc thuyền dùng để lai dẫn rùa sẽ xuất phát ở khu vực gần nhà hàng Thủy Tạ trông ra phía chân đền Ngọc Sơn.
Cuộc vây bắt do ông Nguyễn Văn Khôi, Chủ tịch HĐQT Tập đoàn KAT đã chỉ đạo.
Bắt đầu từ khoảng 8 giờ sáng ngày 8/3, việc quây lưới bắt Cụ Rùa Hồ Gươm để chữa thương đã được tiến hành ở phía đường Lê Thái Tổ cắt Hàng Trống. Cụ Rùa đã nằm trong lưới nhưng đội đánh bắt vẫn không làm thế nào để đưa được Cụ Rùa lên bờ.
Hai thợ lặn hoạt động dưới mặt nước để bịt chân lưới, không cho Cụ chui ra ngoài. GS Hà Đình Đức, nhà Rùa học Hà Nội, đứng trên một chiếc thuyền để chỉ đạo công việc.
Trận vây bắt diễn ra chậm chạp đến mức đội lai dẫn phải làm việc dưới nước quá lâu nên bị ngấm lạnh và phải có một đội mới đến thay ca.
Trong khi đó các lực lượng chức năng đã phải giăng dây, ngăn không cho người dân tiếp cận khu vực sát Bờ Hồ. Đường Lê Thái Tổ đã cấm các phương tiện đi lại.
Vòng lưới bắt Cụ Rùa được khép lại dần dần.
Công nhân vẫn miệt mài dẫn lưới đưa Cụ Rùa vào gần bờ, phía đường Lê Thái Tổ.
11h20, cách chỗ vây bắt Cụ Rùa khoảng 10m về phía đường Hàng Khay có một con rùa nổi đầu lên. Nhiều người băn khoăn, không biết Cụ Rùa trong lưới đã thoát ra ngoài hay có một Cụ Rùa thứ hai ở Hồ Gươm.
11h40: Đội lai dẫn tiến hành quây lưới mắt bé ngay trong lưới đang quây để bắt Cụ Rùa. Đội bắt Cụ Rùa cho biết khoảng 2-3h chiều ngày 8/3, sẽ cẩu Cụ Rùa lên để đưa ra Tháp Rùa.
11h50: Vòng lưới nhỏ thu hẹp chừng 3m2 thì bất ngờ Cụ Rùa nổi ở bên ngoài vòng lưới (vẫn trong vòng lưới lớn). Đội đánh bắt phải thu lưới nhỏ để quây lại.
Hơn 10 dân quân đã được huy động để kéo lưới.
12h55: Cụ Rùa cắn rách lưới nhỏ rồi lao ra, làm chìm cả phao nổi của lưới ngoài.
Cuộc vây bắt đã thất bại với sự chứng kiến của hàng nghìn người, trong đó có nhiều phóng viên trong và ngoài nước.
Và Cụ Rùa đã được một phen hoảng hồn. Quả này có lẽ Cụ sẽ bị tổn thọ thêm ít năm.

Và nếu Cụ biết nói thì Cụ sẽ nói gì?

Đừng ‘bắt’ Cụ như… đánh cá!

Sau khi các cơ quan chức năng thất bại trong việc lai dẫn rùa Hồ Gươm lên để chữa trị trong ngày 8/3, rất nhiều bạn đọc quan tâm đến vấn đề này đã bày tỏ ý kiến của mình về phương pháp bắt mà các cơ quan chức năng đang tiến hành và đưa ra cách thức mới.

Không cần quây lưới?

Một bạn đọc có tên là Duyên Hà bày tỏ ý kiến: Tôi thấy phương án này chưa thực sự hiệu quả, vì nó gây ra phản ứng lo sợ cho cụ rùa. Khi chưa “hiểu” ý tốt của “con cháu” là muốn chữa trị giúp cụ thì cụ tìm cách thoát thân là phản ứng hoàn toàn bình thường.

“Không những thế, mỗi lần cụ tìm cách phá lưới sẽ tiếp tục gây ra chấn thương. Vì vậy, tôi có đề xuất một phương án mới, kính mong ban quản lý chữa trị cho cụ lắng nghe ý kiến.
Mục đích cuối cùng là đưa rùa lên Tháp Rùa, vậy thì không nhất thiết là cứ phải quây lưới để bắt cụ rùa như kiểu chúng ta thường dùng để bắt cá. Vì vậy, phương án của tôi là: Tạo đường hành lang lưới theo kiểu mương dẫn đường lên Tháp Rùa, với bề rộng thông luồng khoảng 3m.
Quy trình thực hiện như sau: Đóng sẵn trước một hàng rào lưới cắt ngang hồ, tính từ bờ đến Tháp Rùa. Đóng cọc buộc lưới cho chắc chắn để hành lang lưới này là cố định. Khi đã phát hiện ra vị trí của cụ rùa thì dùng khoảng 4 ca nô không động cơ mang theo hành lang lưới còn lại, chọn vị trí thích hợp (là khoảng cách đường giữa Tháp Rùa và bờ là ngắn nhất) thì thả nốt hành lang lưới này và thu hẹp dần khoảng rộng của hành lang lưới. Dùng người khép kín hàng lang lưới vừa thả, và dồn dần đường dẫn hướng về Tháp Rùa theo kiểu đánh dậm. Mục đích là lùa cụ rùa tự lên tháp.
Ưu điểm của phương pháp này là sẽ không gây thương tích và không lo sợ về môi trường sống của cụ rùa bị đe dọa. Không phải tiêm thuốc mê cho cụ để đưa ra Tháp Rùa, như thế sẽ tránh được rủi ro về sức khỏe cho rùa. Điều mong đợi nhất của mọi người dân là cụ rùa tự bò lên bờ (phải tạo bờ đi lên tháp thuận lợi)”, độc giả Duyên Hà đưa ra giải pháp mới.

Dùng lưới dày, mềm để tránh xây xát

Độc giả Trần Đình Trọng đề nghị nên dùng lưới dày, mềm để đánh bắt tránh bị xây xát; sợi to và chắc để khỏi bị phá bung lưới (lưới bắt cá hương). Hôm 8/3, Ban chỉ đạo đã cho dùng lưới quá thưa và sợi rất mảnh (tôi có xem kỹ lưới này trên báo VietNamNet).
Với con vật sống dưới nước nặng vài tạ, thì lưới đó không thể chịu được và rất dễ bị phá thủng khi rùa mắc lưới hoặc bị quấn chặt lại và bị rối, bó lại thân rùa khó gỡ, dễ gây tổn thương. Lưới đã dùng hôm 8/3 không thể dẫn dắt cụ rùa lên tháp được.

Rùa là động vật lưỡng cư, 4 chân khỏe, khi bị đánh“động” rùa có thể dùng chân và miệng xé rách lưới. Việc kéo bắt rùa bằng lưới vây như bắt cá tôi thấy không ổn. Vì rùa biết có động sẽ nhanh chóng lặn xuống đáy hồ, rụt cổ và ém mình xuống bùn, như 1 tảng đá nhỏ, chì của lưới có thể lướt qua lưng và không thể bắt được.
Ta có thể hình dung khả năng luồn lưới như cá chép trắng vậy, do đó chỉ lúc trời nắng ấm, nhờ quan sát việc sủi tăm của rùa để định vị và giăng lưới xung quanh, cứ khoảng 2m đường chì phải có 1 người giữ chì và phao để dồn dần khi rùa đã đóng vào lưới, sau đó những người kéo lưới lập tức lặn xuống và quấn lưới toàn thân cụ rùa đưa lên cạn.

Ý kiến thứ 3 là nên chuẩn bị xe khi bắt rùa lên cạn, để sẵn sàng đưa về bể gần nơi đánh bắt. Quá trình chữa chạy không nhất thiết phải tiến hành ở Tháp Rùa hoặc ở trong “bể thông minh” mà có thể tiến hành ở 1 bể xi măng hoặc gạch sạch ở đáy chứa 1 ít nước máy (1 ít thôi, không cần nhiều), nước máy sạch có rải 1 ít sỏi. Chỉ cần dùng nước máy sạch là đủ, vì mọi người đều biết Hồ Hoàn Kiếm ngày nay mật độ các loại vi sinh vật vô cùng dày đặc, không thể lọc được và như vậy sẽ phản tác dụng.

Lai dẫn thô bạo là bức tử rùa!

Bác sĩ thú y Hoàng Long hiện đang công tác tại một tổ chức của Úc bày tỏ lo lắng: Lai dẫn gấp rút, thô bạo hoặc gây mê để bắt là bức tử cụ rùa.
Bác sĩ Long viết: Trước hết tôi thấy rằng những nỗ lực mà các cơ quan chức năng và các nhà khoa học đã làm để bảo vệ cụ rùa là rất đáng ghi nhận. Tuy nhiên, là một bác sỹ thú y, tôi cảm thấy không yên tâm khi đọc được các thông tin về dụng cụ và kế hoạch lai dẫn cụ vào nơi điều trị của các cơ quan chức năng mà báo chí đã đăng tải.

Trước hết là lộ trình lai dẫn. Tôi không biết đội lai dấn dự định sẽ phải mất bao nhiêu thời gian để đưa cụ vào tới nơi điều trị kể từ khi quây được cụ vào lưới? Nếu việc này được tiến hành nhanh chóng trong vài chục phút, thậm chí vài giờ như việc bắt một con cá hoặc một gia súc thông thường thì quả là rất nguy hiểm cho cụ.

Nhiều nghiên cứu cho thấy, khi bị stress như từ việc đánh bắt thô bạo, hàm lượng acid lactic trong máu rùa tăng cao rất nhanh làm mất cân bằng kiềm toan trong máu. Ngoài ra phần lớn rùa bị stress đều bỏ ăn hoàn toàn. Hai nguyên nhân sẽ làm cho rùa bị rối loạn trao đổi chất, suy kiệt nhanh và hậu quả là khó lường.

Có nên dùng thuốc mê?

Về việc dùng thuốc gây mê: không biết đội lai dẫn căn cứ vào đâu để xác định liều dùng khi không biết chính xác trọng lượng của rùa? Thuốc mê định dùng là thuốc nào? Thuốc sẽ được tiêm vào đâu? Ngay cả khi có đầy đủ chính xác các thông tin nêu trên, thì việc một con vật bị mê trong nước là quá mạo hiểm. Ngay cả khi chưa bị gây mê rùa đã phải nổi lên mặt nước để thở rồi.
Như vậy, khi bị mê và chìm trong nước liệu cụ rùa có thể sống? Đó là các câu hỏi hoàn toàn mang tính chất cơ học, còn chưa kể đến tác dụng phụ của thuốc! Thực tế cho thấy, nhiều thuốc mê rất an toàn cho động vật có vú, nhưng lại độc với bò sát.
Chính vì vậy, việc dùng thuốc mê là cực kỳ mạo hiểm. Do đó, ngay cả khi phải di dời những bò sát khoẻ mạnh với kích thước lớn như cá sấu chẳng hạn, người ta cũng hiếm khi dùng đến thuốc mê.
Chúng ta không nên mạo hiểm khi còn có nhiều cách khác an toàn hơn. Một là việc lai dẫn cụ nên thực hiện từ từ, có thể mất một vài ngày nhưng sẽ đảm bảo an toàn hơn. Trước hết nên đưa cụ rùa vào tầm kiểm soát đã. Việc này sẽ không khó nếu túc trực đợi khi cụ nổi sẽ bủa lưới xung quanh, nếu có thể được thì để một hướng mở dẫn vào khu vực điều trị tại Tháp Rùa rồi sau đó dần dần thu lưới từ đằng xa, thu nhỏ vòng vây để cụ tự bơi vào nhà điều trị.
Trong thời gian này, chúng ta nên tiếp cận, cho rùa ăn cá tươi để tập dần cho cụ làm quen với người, như thế vừa giảm được stress, vừa thuận lợi hơn khi chữa trị cũng như chăm sóc sau này.

Không nên dùng lưới phế phẩm

Bác sĩ thú y Nguyễn Huy Đăng, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Hà Nội, Chủ tịch hội đồng chữa trị cụ rùa cho hay, sau khi cụ rùa thoát khỏi vòng vây bắt, các nhà chức trách đã nhận ra lớp bùn ở Hồ Gươm rất dày, nên nếu có chì nặng sẽ rất khó kéo.
Trước đó, tại cuộc họp ngay sau khi việc “bắt” cụ rùa thất bại, bên làm lưới đánh bắt đã nhận lỗi là mua lưới ở chợ, thuộc hàng phế phẩm. Còn nhà “rùa học” Hà Đình Đức thì cho rằng, sức khoẻ cụ còn khá tốt nên mới phá lưới được như vậy.
Do vậy, cần lưu ý đến độ bền và bề rộng của lưới. Tránh để cụ rùa “độn thổ” qua bùn để thoát khỏi vòng vây. Lộ trình này có thể làm một số người sốt ruột vì cho rằng rùa đang bị ốm nặng cần gấp rút hơn. Tuy nhiên, chúng ta hoàn toàn có thể lạc quan vì hiện nay rùa vẫn còn tìm kiếm thức ăn, và thậm chí còn ăn cả cá chết. Điều đó cho thấy nếu áp dụng lộ trình trên, được ăn thức ăn và chăm sóc tốt, kết hợp với việc làm sạch hồ, tôi tin là cụ rùa sẽ sớm bình phục.

Cho nên, cùng với việc làm lưới mới, theo ông Đăng, Hội đồng chữa trị sẽ đề xuất thay phương án mới cứu cụ rùa. Theo đó, sẽ làm một cái “rốn” ở giữa hồ (chứ không dồn cụ vào gần bờ như hôm qua), dùng một thiết bị giống như “lồng bàn khổng lồ”, để úp cụ vào trong, sau đó, dẫn cụ ra “nơi an dưỡng” là tháp rùa…

Dự kiến, chiều nay, Hội đồng chữa trị sẽ lại họp, để trình Thành phố phê duyệt phương án mới.

(tổng hợp)
________________________________________________

Posted in Di tích, Hà Nội nghìn năm, Tin tức nổi bật, Truyền thuyết | Tagged: , , | Leave a Comment »

Một mai khi “cụ” Rùa ra đi

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Hai 24, 2011

– Chỉ một vài ngày nữa, phương án chữa trị cho rùa Hồ Gươm và một loạt các giải pháp khác nhằm bảo vệ cảnh quan Hồ Gươm sẽ được lãnh đạo thành phố quyết định. Quanh câu chuyện này, phóng viên Đan Nhiễm báo Hà Nội mới đã có cuộc trao đổi với nhà Hà Nội học Nguyễn Vinh Phúc.

Rùa hay thần linh?

– Nhiều năm nghiên cứu về Hà Nội, ông có thấy vấn đề rùa Hồ Gươm bây giờ mới được quan tâm?

Trước hết phải thấy rằng, hiện tượng rùa nổi không chỉ bây giờ mới có. Cách đây 60-70 năm, khi còn nhỏ tôi cũng đã chứng kiến việc rùa nổi, thậm chí có lúc rùa còn bò lên đường đi. Đây là tập tính bình thường của động vật hoang dã. 10-20 năm lại đây, câu chuyện rùa nổi, đặc biệt là khi trùng với sự kiện lớn của Thủ đô, đất nước đã được “thần linh hóa” lên khá rõ. Thành phố cũng đã một đôi lần cho nạo vét ven hồ, thử nghiệm hút bùn lòng hồ bằng công nghệ hiện đại… Nói chung, cảnh quan hồ đã đẹp hơn trước kia.

Dưới góc độ khoa học, những năm 1985-1986, ý kiến thay nước Hồ Gươm đã dấy lên cuộc tranh luận xem có ảnh hưởng đến sinh vật sống trong hồ hay không, đặc biệt là rùa. Thời gian đó, PGS Hà Đình Đức đã mời thầy Đào Văn Tiến là giáo sư đầu ngành sinh vật của ĐH Tổng hợp đến xem tiêu bản rùa ở đền Ngọc Sơn. Sau đó, PGS Hà Đình Đức đã được duyệt đề tài nghiên cứu về rùa Hồ Gươm. Việc này cũng chỉ là nghiên cứu qua ảnh, số lần nổi và lời nói của người đương thời… Các nghiên cứu về rùa và môi trường Hồ Gươm vẫn được thực hiện trong những năm gần đây. Tuy nhiên, những tranh luận về rùa đó là loài nào, còn mấy cá thể… đến nay chưa có câu trả lời chính xác. Các nhà khoa học không tiếp cận trực tiếp với rùa, đặc biệt là dùng các phương pháp khoa học hiện đại để nghiên cứu nên tất cả đều dừng lại ở mức độ phỏng đoán trên quan điểm cá nhân.

– Phát biểu tại cuộc họp ngày 21-2 vừa qua, vì sao ông không tán thành việc gọi rùa Hồ Gươm là “cụ rùa”?

– “Cụ rùa” là cách dùng dân dã, nói vui với nhau dần thành quen. Trong khoa học, không có khái niệm “cụ” kiểu như “cụ cá voi”, “cụ rùa”… Ngoài ra, cách gọi “cụ rùa” có liên quan đến huyền thoại Vua Lê Thái Tổ trả gươm thần. Đây thực chất là truyền thuyết thể hiện tinh thần yêu chuộng hòa bình của dân tộc ta. Khi có chiến tranh thì đồng lòng đánh giặc và khi giặc tan thì gác lại chuyện cũ để tập trung xây dựng quê hương.

Điều đặc biệt cũng cần đề cập là khi nghiên cứu sách cũ, có khá nhiều dị bản khác nhau liên quan đến việc Vua Lê trả gươm thần. Các sách như “Cổ tích vịnh” (tác giả Trần Bá Lãm), “Tang thương ngũ lục” (Phạm Đình Hổ), “Hoàng Việt địa dư chí” (Phan Huy Chú), “Long Biên bách nhị vịnh” (Bùi Cơ Túc), “Hà Nội địa dư” (Nguyễn Dương Bá Cung) có nhiều kiến giải khác nhau về thời điểm và người thực hiện việc trả gươm. Tuy nhiên, được nhắc đến nhiều hơn cả là Thái Tổ Lê Lợi và giả thuyết này được chấp nhận.

Liên quan đến việc này, tôi muốn nói thêm rằng, rùa chỉ là sứ giả trong câu chuyện Thái Tổ Lê Lợi phát hiện, dùng gươm báu để bảo vệ đất nước sau đó trả lại kiếm khi công cuộc chống giặc Minh thắng lợi. Sứ giả thì có nhiều, còn nhân vật quan trọng nhất trong câu chuyện này chính là đức Thái Tổ Lê Lợi và truyền thống yêu chuộng hòa bình của dân tộc. Do đó, gọi rùa Hồ Gươm là “cụ rùa” không phù hợp với vai trò của rùa trong truyền thuyết. Mặt khác, để giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt cũng không nên gọi là “cụ rùa”.

– Ông kỳ vọng gì từ việc tiến hành chữa bệnh cho rùa song song với việc cải tạo đồng bộ môi trường Hồ Gươm sắp tới?

– Rùa Hồ Gươm được thế giới xác định là loài hiếm, có tuổi thọ cao. Đã hiếm thì đương nhiên là loài quý nên việc bảo vệ, chữa trị là cần thiết. Sự quan tâm của lãnh đạo thành phố trong việc bảo vệ, chữa bệnh cho rùa là không thể phủ nhận. Tôi mong rằng, dịp chữa bệnh cho rùa sắp tới cần làm đồng thời với việc xác định loài và nếu có thể, chúng ta cũng xác định rõ ở Hồ Gươm còn có bao nhiêu cá thể rùa đặc hữu nữa.

Truyền thuyết Hồ Gươm sẽ sống mãi

– GS-TS Lê Trần Bình (nguyên Viện trưởng Viện Công nghệ sinh học) cho biết, loài động vật có tuổi thọ cao nhất trên thế giới là 176 tuổi. Nhiều nhà động vật học hàng đầu Việt Nam không loại trừ khả năng chúng ta cố gắng cứu chữa hết sức nhưng do tuổi cao, rùa Hồ Gươm sẽ không còn hiện hữu. Ông suy nghĩ gì nếu tình huống xấu đó xảy ra?

– Rùa là loài động vật hoang dã nên dứt khoát một ngày nào đó sẽ phải tuân theo quy luật “sinh – tử”. Ngay như cây đa nghìn tuổi ở Cổ Loa, vốn gắn với bao câu chuyện của dân tộc cũng đã chết… Các chuyên gia sẽ cố gắng cao nhất trong việc trị bệnh cho rùa nhưng giả sử tình huống xấu nhất xảy ra thì tôi tin truyền thuyết về Hồ Gươm vẫn sẽ sống mãi. Rùa chỉ là vỏ vật chất thể hiện truyền thuyết. Chúng ta cần nhớ rằng, truyền thuyết Lạc Long Quân tiêu diệt con cáo chín đuôi vẫn được truyền tụng trong nhân dân quanh vùng Hồ Tây và hồ này cũng có tên gọi khác là đầm Xác Cáo. Qua hàng nghìn năm lịch sử, truyền thuyết trên đâu có mất đi. Truyền thuyết Hồ Gươm cũng sẽ không mất đi, khi đã là biểu tượng về tinh thần yêu hòa bình của người Việt Nam và người Thăng Long – Hà Nội.

Mong rằng một mai, khi “cụ” rùa đến lúc phải ra đi, truyền thuyết về Thần Kim Quy và Gươm báu sẽ vẫn sống mãi trong tâm linh người Việt.

______________________________________________________________

Posted in Chuyện đất nước, Hà Nội nghìn năm, Truyền thuyết | Tagged: , , | Leave a Comment »

Cái chết của ‘cụ Rùa’ trong đền Ngọc Sơn

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Hai 21, 2011

Hương Thu

Cụ rùa ngự trong tủ kính ở đền Ngọc Sơn, Hà Nội, là một trong bốn cụ từng sống ở hồ Gươm. Cách đây hơn bốn mươi năm, ở tuổi 900, cụ qua đời trong một sự kiện đầy sóng gió và thương tâm.

Giáo sư Hà Đình Đức, nhà động vật học từng có khoảng 20 năm nghiên cứu về rùa ở hồ Gươm, kể lại câu chuyện về cái chết của cụ. Ông cũng cảnh báo rằng nếu cụ Rùa còn lại hiện nay không được chữa trị kịp thời, thì cá thể rùa mai mềm lớn cuối cùng của hồ Gươm cũng sẽ ra đi.

Cái chết

Khoảng 10h sáng ngày 2/6/1967, nhận được tin báo của người dân gần nhà hàng Thủy Tạ có nhiều người đang xem cụ rùa nổi, cần giải tán gấp đề phòng máy bay của Mỹ đến bắn phá, đội trưởng Đội cảnh sát hình sự Trần Phương cùng một trinh sát ra ngay hiện trường. Hai người thấy trên mai rùa có một đám bọt màu hồng to như cái mũ sùi lên.

Đội trưởng Trần Phương yêu cầu mọi người giải tán, đồng thời lấy đòn gánh đuổi rùa ra xa bờ, nhưng cụ rùa cứ tiến sát vào bờ. Lúc này mọi người mới nhận ra đám bọt trên mai cụ là máu và cho rằng cụ bị thương do mảnh đạn từ hai ngày hôm trước khi máy bay Mỹ ném bom.

Được tin cụ rùa chết, công ty thực phẩm đã tới mua với giá 2,7 đồng mỗi kg. Khi công ty này đang khiêng cụ lên xe, thì nhận được chỉ thị của chủ tịch thành phố Trần Duy Hưng yêu cầu “Sở công An, Sở Y Tế và Công ty Công viên cây xanh bằng mọi cách phải cứu chữa vết thương cho Rùa Hồ Gươm – một loài động vật đã gắn với truyền thuyết linh thiêng của lịch sử”.

Lúc này Đài truyền thanh Hà Nội thông báo máy bay của địch đang tiến gần, yêu cầu người dân sơ tán xuống hầm để bảo đảm tính mạng. Còn hai chiến sĩ công an vẫn đứng trông cụ rùa.

Đúng lúc đó, một chiếc xe Tuỳ viên văn hoá của Đại sứ quán Liên Xô đỗ lại chỗ cụ Rùa bị thương, ông này rất ngạc nhiên khi nhìn thấy “một con rùa to đến thế này”, và muốn ghi lại hình ảnh của cụ.

Sau đó theo chỉ thị của thành phố, tất cả các bên thống nhất đưa cụ Rùa về hồ nước trong công viên Bách Thảo, rồi lại đưa về căn nhà số 90 phố Thợ Nhuộm – di tích lịch sử – để các bác sĩ chữa trị.

“Các loại thuốc chữa cho cụ Rùa đều là thứ hiếm và đắt đỏ, trong đó có một thùng thuốc kháng sinh pê-ni-xi-lin và nước đá. Sống trong thời kỳ đó mới biết, loại thuốc kháng sinh đó quý hơn vàng, còn 8 cây nước đá thì đắt giá và hiếm như thế nào”, giáo sư Đức nói. “Nhưng do vết thương quá nặng, nên cụ đã chết lúc 14h ngày hôm đó”.

Sau khi cụ Rùa chết, Ủy ban thành phố yêu cầu giải phẫu để tìm nguyên nhân. Cụ rùa dài 2m10, chiều rộng 1m20, nặng 250 kg, trên mai rùa có một lỗ thủng tròn, đường kính rộng 5cm, sâu 6 cm, xuyên thủng xuống phổi của rùa, gây mất nhiều máu và có thể là nguyên nhân làm rùa chết.

Khi mổ thi thể không thấy có mảnh đạn, đầu đạn nào, trong bao tử rùa vẫn còn năm con cá mè dài khoảng 40 cm và mười hòn sỏi đá to bằng trứng gà, trứng vịt. Những hòn đá này chính là công cụ nghiền thức ăn để nuôi sống cụ rùa bao năm. Chuyên gia giải phẫu xác định tuổi của rùa thuộc loại “cụ ông”, có độ tuổi trên 900 năm.

Ngay tối hôm đó, Đội trưởng công an Trần nhận lệnh cấp trên tìm ra ai là người đã gây ra vết thương trên mai cụ rùa.

Kết quả điều tra cho thấy trước đó hai ngày, Quốc doanh Cá (thuộc Công ty thực phẩm Hà Nội là đơn bị nuôi cá tại hồ ở thành phố) tổ chức đánh bắt cá và thuê một số người ngoài kéo lưới. Theo thông tin từ một số nhân viên Quốc doanh Cá, trong thuyền có người tên là Thư (quê ở Thái Bình) khi đang thả lưới thì lưới mắc phải một vật gì đó rất to và nặng, không thể kéo lên được.

Theo lời các nhân chứng, khi ông Thư phát hiện ra đó là con rùa lớn bị mắc chân vào lưới, ông gỡ mãi không ra, thậm chí còn bị cụ rùa kéo cả thuyền đi. Nếu ông buông tay thì mất lưới, không đánh được cá, có khi còn chìm cả thuyền, nên ông Thư ghìm rùa vào cạnh thuyền, lấy xà-beng đâm mạnh vào mai rùa, do thọc sâu quá nên phải khó khăn lắm ông mới rút xà beng ra được. Thủ phạm làm chết rùa đã được xác định và sẽ bị truy tố theo pháp luật.

Ông Thư biết chuyện sợ quá nên trốn biệt tăm. Lúc đó tình hình chiến tranh bắn phá ác liệt, nên người ta không làm to chuyện, sự việc bị bỏ qua và không ai nhắc tới.

Tiêu bản trưng bày

Giáo sư Đức cho biết, sau cái chết của cụ Rùa hồ Gươm, Ủy ban hành chính Hà Nội đã chỉ đạo các cơ quan chức năng giữ làm tiêu bản. Nhiệm vụ này được giao cho Hợp tác xã Quyết Thành do ông Vũ và ông Nguyễn Văn Ty phụ trách.

“Khi làm tiêu bản, người ta mổ bụng, lấy toàn bộ phần thịt và nội tạng, rồi lột, xử lý da bằng phooc-môn. Bước tiếp theo là dựng bộ xương bằng khung sắt, nhồi bông làm phần thịt, bọc bộ da lên và dùng các dầu bóng tạo vẻ ngoài như thế”, giáo sư Đức cho biết, dựa theo lời kể của ông Nguyễn Văn Cường, con trai ông Nguyễn Văn Ty. Bộ xương của cụ được lưu trong bảo tàng Hà Nội.

Tiêu bản Rùa cho đến nay vẫn được kiểm tra và bảo dưỡng định kỳ. Hiện nay nhiệm vụ tu bổ tiêu bản được giao cho do Bảo ràng động vật khoa Sinh học, trường ĐH Khoa học tự nhiên Hà Nội. Ông Vũ Ngọc Thành, người đảm trách việc tu bổ, cho biết nguyên liệu ông thường dùng để gắn những vết nứt, những vết tróc trên thân cụ rùa gồm thạch cao, latex, keo 502.

Trong đợt kỷ niệm 1000 năm Thăng Long, Hà Nội mới đây, cụ cũng được phục chế, tu sửa các chi tiết bị xuống cấp ở mũi, miệng.

Điều gây khó khăn cho việc bảo tồn tiêu bản cụ rùa là một số người đi lễ nhét tiền vào tủ kính, tạo điều kiện cho nấm mốc phát triển.

Theo các tài liệu mà giáo sư Hà Đình Đức lưu trữ được, trong hồ Gươm từng có 4 cụ rùa. Hai cụ đã chết trong thời gian không xác định; cụ thứ ba hiện còn tiêu bản trong đền Ngọc Sơn, và cụ cuối cùng đang sống trong hồ.

“Hiện cụ rùa đang sống trong hồ Gươm bị thương rất nặng, nếu không có biện pháp chữa trị kịp thời, cụ rùa cuối cùng của hồ Gươm cũng sẽ ra đi”, giáo sư Đức lo lắng.

_________________________________________________________

Posted in Hà Nội nghìn năm, Thế giới tự nhiên, Truyền thuyết | Tagged: , , | Leave a Comment »

Rùa Hoàn Kiếm: Chuyện cũ, chuyện mới

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Hai 20, 2011

Thế Dũng

– Đến giờ, trong tâm thức mọi người Việt không còn ai nghi ngờ về ý nghĩa văn hóa, lịch sử, tâm linh của hồ Hoàn Kiếm và những công trình văn hóa tọa lạc quanh đây, đặc biệt là hình ảnh “cụ rùa”. Tuy nhiên, ít người biết rằng, loài rùa hồ Hoàn Kiếm còn ẩn chứa sau đó nhiều thông tin thú vị và nay các nhà khoa học vẫn tiếp tục đi tìm lời giải.

Nhiều kiến giải khác nhau

Ông Timothy McCormack (Chương trình Bảo tồn rùa châu Á – ATP) cho biết: Với loài rùa Hoàn Kiếm, trọng lượng tối đa của mỗi cá thể có thể đạt 150kg và chỉ phân bố ở một số khu vực hẹp thuộc Việt Nam, Trung Quốc. Xác định đây là loài đặc biệt quý hiếm nên gần đây nhiều dự án quốc tế đã được triển khai nhằm tìm kiếm các cá thể rùa Hoàn Kiếm còn lại. Trên thế giới, hiện chỉ còn bốn cá thể được xác nhận còn sống, trong đó hai cá thể đang được nuôi tại Trung Quốc. Ngoài “cụ rùa” được cho là duy nhất tại hồ Hoàn Kiếm, cá thể còn lại đã được xác định là đang hiện hữu tại hồ Đồng Mô (Sơn Tây, Hà Nội) với trọng lượng khoảng 70kg.

Ông Timothy McCormack cho biết thêm, hai con rùa ở Trung Quốc đã được ghép đôi vào năm 2008 với hy vọng có thể sinh ra các cá thể mới. Tại đây, rùa được sống trong chuồng nuôi có thiết kế đặc biệt. Mỗi năm, con cái đẻ hơn 100 trứng, tuy nhiên chưa có quả nào được ấp nở thành công. Sau 3 năm, các nhà khoa học tính đến khả năng con đực không còn khả năng sinh sản trong khi các cuộc điều tra khảo sát ở Trung Quốc về cá thể mới chưa có tín hiệu khả quan nào.

Sau 20 năm nghiên cứu, PGS-TS Hà Đình Đức (Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam) cho rằng: Loài rùa Hồ Gươm (cách gọi của PGS Hà Đình Đức – PV) có kích thước lớn nhất trong các loài rùa nước ngọt ở Đông Nam Á và thế giới. Hiện loài rùa này còn một chủng quần rất nhỏ sống trong hồ Hoàn Kiếm. Ngoài cá thể này, hiện còn hai tiêu bản đang được trưng bày tại đền Ngọc Sơn và lưu trữ ở kho của Bảo tàng Hà Nội. “Dựa trên kết quả so sánh về hình thái và trao đổi với một số chuyên gia nghiên cứu rùa quốc tế nhận thấy loài rùa Hồ Gươm hoàn toàn khác biệt. Chúng tôi đi đến kết luận rùa Hồ Gươm là loài mới và đặt tên là Rafetus leloii” – PGS Hà Đình Đức khẳng định.

Trong khi đó, đề tài khoa học “So sánh hình thái và phân tích DNA (nhận diện gen – PV) mẫu rùa mai mềm nước ngọt của Việt Nam gần với rùa hồ Hoàn Kiếm” do GS-TS Lê Trần Bình và cộng sự thuộc Viện Công nghệ sinh học thực hiện gần đây đã đưa ra một giả thuyết khác. GS Lê Trần Bình cho biết, rùa mai mềm đã được quan sát và thu thập mẫu vật ở nhiều địa điểm khác nhau trên sông Hồng, sông Mã, sông Đà ở miền Bắc Việt Nam. Phân tích hình thái hộp sọ của các mẫu vật thu được cho thấy rùa lớn mai mềm của Việt Nam khác với rùa Rafetus swinhoei – tên quốc tế của Giải khổng lồ Thượng Hải. Trình tự giải mã gen cũng cho kết quả tương tự. Phân tích phát sinh loài cho thấy rùa lớn mai mềm của Việt Nam tạo thành một nhóm riêng biệt, gần Rafetus swinhoei và Rafetus euphraticus. Điều này cho thấy, rùa lớn mai mềm nước ngọt của Việt Nam là loài mới, chưa từng được nghiên cứu phân loài và có thể đặt tên là Rafetus vietnamensis.

Những kiến giải trên vẫn tiếp tục trong quá trình kiểm chứng. Nhưng các nhà khoa học đều thống nhất rằng, “cụ rùa” đang sống tại hồ Hoàn Kiếm là loài đặc biệt quý hiếm và cần được bảo tồn nghiêm ngặt.

Sẽ sớm có phương án tối ưu

Trước hình ảnh “cụ rùa” đang bị thương, yêu cầu cần sớm có các biện pháp cấp bách chữa trị, chăm sóc và bảo vệ được lãnh đạo UBND TP xem là nhiệm vụ cần làm ngay. Việc TP lập Ban chỉ đạo khẩn cấp bảo vệ rùa Hồ Gươm ngay sau khi các nhà khoa học có thảo luận công khai về các biện pháp chữa trị “cụ rùa” đã thể hiện quyết tâm này.

TS Lê Xuân Rao, Giám đốc Sở KHCN Hà Nội cho rằng, sau hội thảo ngày 15-2 với nhiều phương án được các nhà khoa học đưa ra, sẽ cần có những cuộc họp kỹ hơn tiếp theo, cũng như thử nghiệm chữa trên ba ba để biết dùng thuốc như thế nào hay bắt lên ra sao… Đưa “cụ rùa” lên không khó nhưng đưa như thế nào, đặt ở hồ ao hay đặt trong đảo nổi giữa hồ… vẫn cần tính toán kỹ để có giải pháp tối ưu nhất. Trong tháng 2 sẽ tổ chức một cuộc họp nhằm bàn cụ thể hơn về các giải pháp cứu “cụ rùa”, đặc biệt là quy trình cứu chữa vết thương. Các công việc khác như thu dọn chướng ngại vật, đánh bắt và xử lý rùa tai đỏ… có thể làm ngay trong một vài ngày tới.

GS-TSKH Đặng Huy Huỳnh, Chủ tịch Hội Động vật học Việt Nam tin rằng, các nhà khoa học của Việt Nam có thể giải quyết được những vấn đề liên quan đến rùa Hồ Gươm. Tuy nhiên, phải nhìn “cụ rùa” trên cơ sở các tập tính của một loài động vật. Dựa vào đó để tìm hiểu căn nguyên, các loại bệnh thường gặp và cách chữa phù hợp nhất, tốt nhất.

Việc chữa trị cho “cụ rùa” là hiển nhiên. Nhưng với những người lạc quan thì rùa Hồ Gươm vẫn còn nhiều thông tin thú vị. Ông Nguyễn Ngọc Khôi – Chủ tịch Tập đoàn thương mại Hà Nội KAT, người có 20 năm nuôi rùa và hiện sở hữu hàng chục con rùa mai mềm có trọng lượng 40-50kg trở lên khẳng định, Hồ Gươm có ít nhất hai “cụ rùa” trở lên. “Điều này có được qua nhiều lần khảo sát và thấy có ít nhất hai vệt tăm bong bóng hơi nước chạy dài trên mặt hồ giống như kiểu máy bay phản lực để lại các dải khói đằng sau. Đường kính mỗi vòng tăm từ 50-70cm” – ông Khôi nói thêm.

_____________________________________________________

Posted in Chuyện đất nước, Hà Nội nghìn năm, Truyền thuyết | Tagged: , , | Leave a Comment »

Giáo sư sử học Lê Văn Lan nói về văn hóa Hùng Vương

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Tư 24, 2010

Những ngày này, người dân ở khắp nơi nơi, dù ở trong nước hay nước ngoài đều một lòng thành kính hướng về ngày Giỗ Tổ Hùng Vương và lễ hội Đền Hùng khí thiêng vang vọng. GS sử học Lê Văn Lan, Phó Chủ tịch Hội đồng khoa học Khu Di tích lịch sử đền Hùng đã chia sẻ với PV Báo CAND về những nghiên cứu mới nhất về văn hoá Hùng Vương, về di tích lịch sử đền Hùng.

GS cho biết: Trước đây tôi từng được mời là Chủ tịch một hội thảo do UNESCO tổ chức. Lúc đó chúng ta đang định đề nghị khu di tích đền Hùng là di sản văn hoá nhân loại. Nhưng hướng đi đó có lẽ chưa phù hợp. Sau đó, tôi lại được mời chủ trì một hướng khác: tôn vinh giá trị văn hoá phi vật thể của vùng di tích lịch sử này. Hướng đi này đã có cơ sở khoa học và đáp ứng được tiêu chí “giá trị nổi bật toàn cầu” của UNESCO. Đó là tín ngưỡng tổ tiên chung của cả dân tộc, liên quan đến đạo thờ cúng tổ tiên của người Việt Nam. Có lẽ chưa có một dân tộc nào lại có hình thái sinh hoạt như thế cả. Đây là điều vô cùng quan trọng, chúng ta tìm ra được giá trị phi vật thể xứng đáng nổi bật toàn cầu cho khu di tích đền Hùng.
Hiện nay chúng ta đang xúc tiến làm hồ sơ để đề nghị khu di tích lịch sử đền Hùng được nhận danh hiệu di sản văn hoá phi vật thể ở phương diện là trung tâm tín ngưỡng tổ tiên chung của dân tộc Việt Nam, đồng thời là trung tâm của hệ thống lễ hội thờ tổ tiên chung của dân tộc chúng ta.

PV: “Giá trị nổi bật toàn cầu” của di tích lịch sử đền Hùng được thể hiện như thế nào, thưa Giáo sư?

GS Lê Văn Lan: Tín ngưỡng thờ tổ tiên của dân tộc Việt Nam là đặc trưng sinh hoạt văn hoá tinh thần của người Việt Nam từ bao đời nay. Trong gia đình, ta có tổ tiên gia đình, trong họ tộc có tổ tiên của gia tộc, trong làng xã có tổ tiên của một làng (ông thành hoàng) và bây giờ ở cấp độ cao nhất, Giỗ Tổ Hùng Vương đã trở thành tổ tiên chung của dân tộc. Sự vĩ đại chính là ở chỗ đó. Giá trị phi vật thể này có hiệu quả nhiều mặt, cho dân tộc, cho quốc gia và cho cả chế độ nữa. Giá trị tín ngưỡng ấy được thể hiện ra với tư cách là căn cốt, là hạt nhân, còn cái vỏ bề ngoài chính là lễ hội Đền Hùng.
Tôi nhắc lại, chúng ta đã chọn ra tín ngưỡng tổ tiên chung của cả dân tộc mang vỏ hình thức là tổ hợp các sinh hoạt lễ hội ở đền Hùng, làm thành một phức hợp giá trị văn hoá tinh thần nổi bật toàn cầu hoàn toàn đáp ứng được tiêu chí để trở thành một di sản văn hoá phi vật thể của nhân loại. Đây là cái mới, sự thành công sau bao thăm dò, thử thách, vượt qua nhiều khó khăn chúng ta mới đạt được.
Nhưng tôi vẫn phải cảnh báo nhiều biến tướng dưới dạng tín ngưỡng, như cung tiến về đền Hùng những vật phẩm khổng lồ, cốt khoe khoang cho thương hiệu của họ, thực ra là “quảng cáo” thôi, làm giả làm rởm, độn mút, tạo khung sắt, biến sản phẩm linh thiêng thành thứ hàng rởm.

PV: Theo GS, chúng ta nên tổ chức lễ hội như thế nào để giá trị tâm linh của ngày Giỗ Tổ thực sự lan tỏa trong lòng người Việt, cả ngay sau khi kết thúc những ngày lễ hội lớn này?

GS Lê Văn Lan: Hãy trở về bản chất của dân tộc này và văn hoá Việt Nam là sự tinh tế về mặt tình cảm, sâu sắc về trí tuệ và đặc biệt là sự thanh nhã, duyên dáng, thâm trầm. Đấy là các giá trị tinh thần của văn hoá Việt Nam rất cần được thể hiện trong ngày Quốc lễ này. Tôi mong muốn, chúng ta tổ chức gì thì cũng phải đạt được những tiêu chí ấy.

PV: Năm nay rất đông kiều bào của chúng ta đã trở về vùng đất thiêng này để dự ngày Giỗ Tổ vua Hùng. Theo Giáo sư, chúng ta có nên tổ chức ngày Giỗ Tổ cả ở những nước có đông cộng đồng người Việt không?

GS Lê Văn Lan: Nên quá đi chứ. Họ ở đâu thì cũng là con của đất nước này mà. Theo tôi, phàm là một hình thức tín ngưỡng và lễ hội thì cần phải có một thời điểm linh thiêng và một địa điểm linh thiêng kết tinh lại các sinh hoạt tinh thần (suy nghĩ, tưởng nhớ, tôn vinh) và các sinh hoạt xã hội. Nhưng nó cũng đồng thời là kết tinh của cả tiến trình thường xuyên. Nếu kiều bào nhận thức được tín ngưỡng ấy và có đủ điều kiện thì rất nên tổ chức cho bà con ta từ năm sau. Nhưng đừng hoa hoè, hoa sói nhé, vì sự giản dị dễ đi vào lòng người hơn.

PV: Xin trân trọng cảm ơn Giáo sư!

[Giỗ Tổ Hùng Vương trên đất Tây Nguyên

Cùng cả nước, ngày 23/4 (mùng 10-3 âm lịch), lễ Giỗ Tổ Hùng Vương cũng được long trọng tổ chức tại đền tưởng niệm vua Hùng (Công viên Văn hóa Đồng Xanh, TP Pleiku, Gia Lai). Đây là lần thứ hai lễ Giỗ vọng Quốc tổ Hùng Vương được tổ chức tại Gia Lai và đông đảo người dân háo hức đến dự. Đền tưởng niệm vua Hùng tại Gia Lai đã được đầu tư xây dựng công phu với đền thờ chính cao đến 18 mét, tượng Quốc tổ Hùng Vương cao 6 mét sơn son thếp vàng. Ngoài ra, 18 bức tượng tượng trưng cho 18 đời vua Hùng đứng thành hai hàng song song uy nghiêm trên lối vào đền tưởng niệm.
Ông Nguyễn Trần Hanh, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Văn hóa-Du lịch Gia Lai cho biết, các nghi lễ trang trọng diễn ra sáng mùng 10-3 âm lịch, tại đây gồm: Đội tiêu binh rước Quốc kỳ, cờ hội, tiêu binh rước vòng hoa mang dòng chữ “Đời đời nhớ ơn các vua Hùng đã có công dựng nước”; đọc diễn văn tưởng nhớ các vua Hùng; dâng rượu, dâng hương và mâm lễ vật truyền thống, sau đó đại diện các sở, ban, ngành trong tỉnh cùng các đoàn tham dự thắp hương ban thờ các vua Hùng.
Sau phần lễ, phần hội sẽ diễn ra suốt 3 ngày (10 đến 12-3 âm lịch) với nhiều hoạt động phong phú bao gồm: Biểu diễn trống hội, nhạc võ đặc sắc của Bảo tàng Quang Trung (Bình Định), các tiết mục hát múa tươi vui của các ca sĩ trong tỉnh với nội dung ca ngợi Tây Nguyên, ca ngợi đất nước; trình diễn của 2 đội cồng chiêng đến từ huyện Đak Đoa và Mang Yang. Bên cạnh đó là các trò chơi dân gian như đẩy gậy, đập ấm… cũng được diễn ra trong thời gian vui mừng lễ hội.
N.Như]

Thu Phương (thực hiện)
___________________________________

Posted in Chuyện lịch sử, Truyền thuyết | Tagged: , , | Leave a Comment »

Chúa Jesus chết già?

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Ba 29, 2010

Điện thờ Rozabal

Có người tin rằng Chúa Jesus không chết lúc bị đóng đinh trên thập tự giá mà sống những năm còn lại ở Kashmir khiến một điện thờ cũ kỹ ở Srinagar trở thành nơi du khách phải đến viếng, phóng viên BBC, Sam Miller tường thuật.

Nằm sâu dưới phố Srinagar là một tòa nhà cũ gọi Rozabal.

Khu vực này lính Ấn Độ thường xuyên tuần tra hoặc soi mói bằng mắt từ đằng sau các lô cốt làm bằng cát.
Thỉnh thoảng vẫn xó những vụ xô xát với dân quân hoặc trẻ con ném đá vào trạm gác, nhưng tình hình an ninh gần đây đã tốt hơn trước và du khách đang quay lại.
Khi tôi tìm hiểu về Rozabal cách đây hai năm, người tài xế taxi chạy quanh một ngôi mộ Hồi giáo nhỏ trong một thành phố có nhiều đền và lăng, ông ta phải hỏi đường nhiều lần cuối cùng mới tìm ra.
Tòa nhà nằm ở góc đường, xây bằng đá với mái nhiều tầng theo truyền thống ở Kashmiri.
Người gác điện cho tôi vào bên trong và nói hãy nhìn qua khe của một cánh cửa gỗ. Bên trong là một bia đá được phủ bằng một tấm vải màu xanh lá cây.
Nhưng khi quay lại gần đây, điện thờ đã đóng cửa vì có quá nhiều người đến viếng.
Nguyên nhân? Số là theo sự kết hợp của Thiên Chúa giáo tân thời, Hồi giáo phi chính thống và các fan của cuốn tiểu thuyết Da Vinci Code (của tác giả Dan Brown), thì ngôi mộ trong điện có chứa hài cốt quan trọng nhất từ trước đến nay của Ấn Độ mà các du khách đều muốn đến coi.

‘Giáo sư khùng’

Chính thức thì đó là mộ của Youza Asaph, một giáo sĩ Hồi giáo thời trung cổ – nhưng ngày càng có nhiều người tin rằng chính là mộ của Jesus thành Nazareth.
Họ tin rằng Chúa không chết khi bị đóng đinh trên thập tự giá cách đây 2.000 năm, mà sống những năm cuối đời ở Kashmir.
“Làm sao bây giờ? Họ đã phải đóng cửa điện thờ,” người có nhà gần đó là Riaz nói.
Ông không tin Chúa được chôn ở đó: “Đó là chuyện kể của mấy người bán hàng vì có giáo sư điên khùng nào đó nói đó là mộ của Chúa. Họ nghĩ nghe vậy du khách sẽ tới coi, sau bao nhiêu năm bạo động.”
“Rồi Lonely Planet (sách hướng dẫn du lịch) đăng tin này, thế là có quá nhiều người tới đây.
“Và một người nước ngoài…” ông ta lúng túng nhìn tôi, ”đập bể một miếng mộ để đem về. Đó là lý do tại sao người ta phải đóng cửa.”
Ngay lúc đó một cặp người Úc lâu ngày chưa tắm xuất hiện, trên tay là cuốn sách hướng dẫn du lịch Ấn Độ của Lonely Planet, và nhờ tôi chụp cho bức hình đứng trước điện thờ Rozabal, nhưng không tỏ ra quá thất vọng khi không vào được bên trong.

Cuộc gặp nổi tiếng

Nhưng không thấy Lonely Planet nhắc gì tới những gì còn lại của một tu viện Phật giáo nằm ở lưng chừng núi phía bắc của Srinagar.
Đây là nơi trước đây tôi không tới được vì một sĩ quan cảnh sát cao cấp giải thích rằng trên đó có nhiều khủng bố lắm.
Nhưng người gác điện có vẻ đang chuẩn bị để đón đông đảo du khách, với vốn tiếng Anh 50 từ, và số ngói cổ mà ông cất giấu lâu nay.
Thực ra những câu chuyện về mộ của Chúa ờ Ấn Độ không phải chỉ để khai thác du lịch, mà chúng đã được lưu truyền từ tận thế kỷ 19, để giải thích những điểm rất giống nhau giữa Thiên Chúa giáo và Phật giáo – một điều làm cho các học giả thời đó vô cùng quan ngại.
Có những năm người ta không biết tung tích của Chúa Jesus – trong khoảng từ 12 đến 30 tuổi, thời gian này không được ghi chép lại gì cả.
Một số nói Chúa qua Ấn Độ để tìm hiểu về đạo Phật – và có người tin như vậy.
Một nhánh Thiên Chúa giáo ở Hoa Kỳ – Church Universal and Triumphant – là nhóm tin rằng Chúa Jesus đã từng sống ở Kashmir, nhưng không qua đời ở đó.
Và trong Hồi giáo, vốn cho rằng Jesus là đấng tiên tri áp chót, cũng có một số, được nhánh Ahmeddiya bảo hộ, tin rằng trong điện Rozabal có mộ của Chúa.
Các sử gia cười lớn khi anh nói đến chuyện Chúa Jesus từng sống ở Kashmir – nhưng ngôi mộ nay đã là một trong những nơi cần phải tới của du khách – và ngày càng có nhiều người tin chuyện này.

________________________________________________________

Posted in Truyền thuyết | Tagged: , , , | Leave a Comment »

Việt Nam sẽ có thêm một ngày Quốc lễ?

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Ba 4, 2010

Nguyên Linh

Di tích Lịch sử đền thờ và lăng mộ Kinh Dương Vương tại Thuận Thành (Bắc Ninh) đang được các nhà nghiên cứu hoàn thành hồ sơ để đề cử thành ngày Quốc lễ.

Hội ở giữa làng

Thôn Á Lữ, xã Đại Đồng Thành (Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh) là nơi tọa lạc của khu đền thờ và lăng mộ thủy tổ người Việt, Kinh Dương Vương, tương truyền là người sinh hạ Lạc Long Quân.
Lễ hội truyền thống của làng Á Lữ có hàng trăm năm nay, nhằm trúng ngày 18 tháng Giêng, để tưởng nhớ đến công đức của Thủy tổ có công sinh thành tổ tiên của người Việt.
Năm nay, Á Lữ mở hội làng kỷ niệm 4889 năm tuổi Đức Thủy tổ Kinh dương Vương từ rất sớm. Gọi là hội làng, nhưng có lẽ, quy mô của nó không thua kém bất cứ lễ hội lớn nào trong cả nước, bởi các nghi lễ và tầm vóc của người được nhân dân tưởng nhớ, ngưỡng vọng.

Đền thờ Kinh Dương Vương nằm ở khu đất thoáng giữa làng, rộng tới cả ngàn mét vuông với vị thế địa linh, văn vật.. Ngôi đền có ba ngai thờ: Ngai thờ Kinh Dương Vương đặt ở gian giữa, ngai Lạc Long Quân ở bên tả, ngai Âu Cơ đặt ở bên hữu. Ngoài các đồ thờ cúng có tuổi đời cả trăm năm, đền còn lưu giữ 15 đạo sắc phong thời Nguyễn, khẳng định đền thờ Kinh Dương Vương là lăng tẩm đế vương.
Cách đền thờ chính vài trăm mét, khu lăng mộ Kinh Dương Vương nằm trên gò đất cao ven sông Đuống, rộng 6000m2, trông vào phía làng. Khu lăng tẩm xanh mướt bóng cây cổ thụ, với không khí trong lành đến độ, người lần đầu lạc bước, sẽ không thể không cảm nhận được dư vị cõi thiền.
Hai khu thờ tự ngăn cách nhau bởi con đê sông Đuống. Theo phong tục của làng, 3 ngai thờ nói trên cùng với ba bộ Long đình sẽ được rước từ đền thờ chính (Khu nhà Ngài) sang khu Lăng, sau đó sẽ từ Lăng rước ngược trở lại đền.

Hội làng Á Lữ, vì thế mà quy mô của nó vào loại lớn nhất, bởi có tổng số 6 chiếc kiệu, gồm 3 kiệu bát cống, mỗi kiệu phải có tám trai làng lực lưỡng, to khỏe khênh rước, đi trước mỗi ngai thờ là kiệu Long đình.
Từ sáng sớm, trên dọc triền đê của con sông Đuống hiền hòa của vùng quê Kinh Bắc, những dáng người già vừa nhẩn nha, vừa vội vã áo thâm, nón trắng tìm hướng lá cờ phướn đang bay phấp phới trong gió sớm, hướng tới.

Thoảng nghe trong gió xa, tiếng trống hội thì thùng, càng giục lòng người rộn rã. Đôi khi, trong những điếm canh đê còn sót lại dọc khúc đê sông, những đứa trẻ trâu mải mốt buộc trâu vào gióng. Hôm nay, làng có hội. Tất cả mọi việc đều có thể được gác lại, vì một lý do chính đáng như thế.

Đám rước kiệu và rước hội rồng rắn dài ngót cây số. Màu cờ lễ rực rỡ. Tiếng thanh la, chũm chọe, tiếng kèn nam, kèn đồng, đàn bầu…, tiếng trống cái, trống con… rộn rã hòa nhịp. Cả khúc đê rộn rã. Con đường làng thêm chật hẹp vì đám rước, và bởi những người xem.

Hội của làng. Hội ở giữa làng, nên người xem cũng chủ yếu là người làng.

Sau tiếng trống khai hội của một vị lãnh đạo địa phương, đoàn trống hội của Đoàn Nghệ thuật Nhà hát Tuồng Việt Nam về biểu diễn, khiến những ánh mắt người dân sống trong đê, càng thêm lấp lánh vì lạ.

Đám múa tứ linh (Long – Ly – Quy – Phượng) có anh hề rối, có ông phỗng “bụng phệ” đeo mặt nạ làm trò càng làm cho đám hội thêm linh đình. Những ông chủ trò áo the, khăn xếp; các cụ trong đội múa trang phục lễ hội, dẫu tuổi già cũng vẫn làm nắng cuối xuân thêm đượm, bởi nụ cười đen bóng hạt na, với đuôi mắt dài của thời son trẻ, vẫn còn lưu luyến trên những gương mặt đã bắt đầu loang dấu chân chim.

Đám rước từ giữa làng qua đê, vòng vèo qua những ngõ xóm hình xương cá. Chưa trông thấy người, đã rộn rã tiếng trống hội và màu sắc rực rỡ của cờ phướn.

Á Lữ là làng quê cổ kính nằm giữa cái nôi của vùng văn hóa Kinh Bắc. Chếch thêm một đoạn đê non nửa ống tay áo là Trung tâm phật giáo Luy Lâu với Chùa Dâu, lùi lại một chút là chùa Bút Tháp. Chếch bên phải theo hướng triền đê là làng tranh Đông Hồ. Dừng chân vào xem tranh, mải chụp ảnh phiên chợ Hồ, chợ Sủi mà làm nguội cả bát nước trà ban nãy bà hàng rót ra còn nóng nguây nguẩy.

Ngẩn ngơ đi giữa dư âm của những câu thơ tài hoa xưa… “Trên núi Thiên Thai, trong chùa Bút Tháp; giữa huyện Lang Tài…”, mới thấy đồng cảm với phút “mềm lòng” của thi sỹ tài hoa đất Kinh Bắc, bối rối không biết lựa chọn nên dừng chân nơi nào, bởi lễ hội, vùng nào cũng nhấp nhổm tiếng trống mời, giục lòng mau rảo bức chân…

Những người bị tiếng trống hội dồn dập, cuống chân chạy tít lên triền đê cao chót vót ngồi đợi, để được nhìn đoàn rước rồng rắn từ phía nhà thờ Tổ ló dạng qua các ngã ba, ngã tư đầu xóm, mặc cho nắng mặt giời xối xả đổ xuống triền đê.

Có lẽ, hiếm có lễ hội nào thuần phác tới mức như thế. Hội ra hội. Người dân đến xem hội, chứ không phải để bị lôi kéo bởi những trò chơi ăn bạc lẻ. Trông từ đầu chí cuối, Á Lữ chỉ có dăm ba quán hàng nước của người tham việc mở dọc đường đoàn người rước kiệu. Mà có lẽ, chính những hàng nước ấy, đang lặng thầm hy sinh ngày vui nhất của làng, để phục vụ bát nước, điếu thuốc cho người đi xem?

Việt Nam sẽ có thêm một ngày Quốc lễ?!

Hội làng Á Lữ năm nay có đoàn cán bộ nghiên cứu của Viện Văn hóa – Nghệ thuật VN do PGS.TS Bùi Quang Thanh (Trưởng Ban nghiên cứu VHNT Nước ngoài) làm trưởng đoàn về dự. PGS.TS Bùi Quang Thanh cho biết, ông cùng các cộng sự đang trong quá trình nghiên cứu để hoàn tất hồ sơ đề nghị Nhà nước công nhận Ngày hội làng Á Lữ là ngày Quốc lễ.

Ông Thanh giải thích: Theo các tài liệu lịch sử để lại, đền thờ Kinh Dương Vương và khu lăng tẩm Đức ngài, di tích lịch sử nói trên có tầm vóc quốc gia.

Hội làng Á lữ gồm 03 bộ kiệu Bát cống và 03 bộ Long đình. Rất hiếm những hội làng có nhiều kiệu rước như thế…
Cụ thể: Thời Lê Thánh Tông, sử gia Ngô Sĩ Liên chép “Kỷ Hồng Bàng”: “Tổ tiên người Việt có vua đầu gọi là Kinh Dương Vương tinh thần đoan chính, có đức tính của thánh nhân. Vương lấy con gái thần Động Đình sinh ra Lạc Long Quân. Lạc Long Quân lấy Âu Cơ sinh ra một bọc trứng nở ra thành 100 con. Lạc Long Quân mang 50 con đi khai phá miền biển, Âu Cơ mang 50 con đi khai phá miền núi. Con trưởng nối ngôi là Hùng Vương, đặt quốc hiệu là Văn Lang, định đô ở Phong Châu, chia thành 15 bộ. Hùng Vương trải 18 đời”. Kỷ Hồng Bàng kéo dài từ năm 2879 đến năm 258 trước công nguyên.
Thời Minh Mạng, khu lăng tẩm được tu bổ lập bia (được tạm dịch): Lăng miếu ngày xưa còn dấu tích thiêng liêng tại đây. Nơi thờ cúng này được cả nước sùng kính.

Lễ dâng hương tại lăng mộ Kinh Dương Vương. Với lý do về tầm vóc người được thờ phụng, và những cứ liệu lịch sử, hoàn toàn có cơ sở để Lễ hội Kinh Dương Vương trở thành Ngày Quốc lễ!.
Trong số 15 sắc phong hiện đang lưu giữ tại đền, có một sắc phong của vua Tự Đức năm thứ 33, tạm dịch là: Xã Á Lữ từ lâu phụng thờ đền Kinh Dương Vương, vị vua khai sáng văn minh, thánh của người Việt. Chuẩn cho tiếp tục thờ theo nghi lễ quốc khánh.
Lễ hội Kinh Dương Vương luôn được duy trì nhiều nghi lễ với nhiều hoạt động dân gian. Ngày hội làng, Thuận Thành còn đón thêm con cháu “bên ngoại” từ Việt Trì xuống, bởi trên mảnh đất Tổ vua Hùng, vẫn không quên tổ tiên khởi phát từ đất Kinh Bắc. Họ cho rằng, mảnh đất Ngã Ba Sông là đất thờ Mẹ; còn đất Thuận Thành là đất thờ Cha.

Hội náo nức cả triền đê sông Đuống của mảnh đất Thuận Thành.
Ngày 20-2-2000, ông Nguyễn Khoa Điềm – Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Văn hóa – Thông tin về dâng hương đền và lăng Kinh Dương Vương, đã ghi: “Kinh Dương Vương – Lạc Long Quân – Âu Cơ là thủy tổ của đất nước, mở ra thời đại các vua Hùng làm rạng rỡ non sông đất Việt. Di sản và những nơi thờ cúng của các vị là tài sản quý báu thiêng liêng của dân tộc. Nhà nước ta nhất định sẽ có chính sách trùng tu, tôn tạo ngày càng tốt đẹp hơn.
Mong muốn nhân dân Á Lữ chăm lo giữ gìn di tích thờ phụng Kinh Dương Vương – Lạc Long Quân – Âu Cơ để làm nơi giáo dục muôn đời”.
Có được công nhận là ngày Quốc lễ hay không, đó là câu chuyện của nhà quản lý. Dẫu thế, Lễ hội Kinh dương Vương sẽ mãi luôn là hội giữa làng, bởi điều quan trọng nhất, nó vẫn sống mãi trong tâm linh người dân tới muôn đời.

_____________________________________________

Posted in Truyền thuyết | Tagged: , | Leave a Comment »

Nói thêm về truyền thuyết “Vua hóa cọp”

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Hai 16, 2010

Lý Thần Tông là vị vua thứ năm của triều Lý, lên ngôi lúc mới 12 tuổi (năm 1128), đến năm 20 tuổi, vua phát hiện bệnh lạ: Cả người mọc đầy lông, kêu la thoảng thốt, lâu lâu lại gào to như tiếng hổ gầm…
Có sách chép rõ: “Vua (Lý Thần Tông) bỗng nhiên mắc bệnh thành cọp, ngồi xổm chụp người, cuồng loạn đáng sợ”. Bấy giờ hoàng tộc và triều thần tìm mọi cách chữa chạy nhưng lương y cũng như đạo sỹ đương thời đều bó tay.
Bệnh vua ngày càng trầm trọng, la hét gầm rú dữ tợn hơn, buộc triều đình phải làm một cái cũi vàng để nhốt vua, rồi tiếp tục sai quan quân đi khắp nước tìm thầy chữa trị. Chợt đến Chân Định (tỉnh Nam Định), nghe trẻ con trong vùng vừa chơi vừa hát mấy câu đồng dao:
“Nước có Lý Thần Tông
Trị quốc muôn việc thông
Muốn chữa bệnh thiên tử
Phải tìm Nguyễn Minh Không”

Lập tức triều đình cho mời thiền sư Minh Không vào kinh đô cứu vua. Khi ấy Minh Không đã đắc đạo từ lâu và tương truyền có nhiều quyền năng đặc biệt, phi phàm. Ngài đến ra mắt triều đình trong bộ áo nâu sờn cũ. Thấy vậy hoàng tộc và một số chức sắc có vẻ khinh thường, lạnh nhạt.

Sư chẳng nói gì, lẳng lặng rút trong áo ra một cây đinh dài hơn 5 tấc đóng chặt vào cột gỗ của cung điện và nói ba lần: “Ai trong các vị ở đây nhổ được cây đinh này mới đúng là người đáng tôn quý”. Không ai nhổ được. Lúc ấy Minh Không mới lấy 2 ngón tay kẹp chặt cây đinh rút ra nhẹ nhàng. Ai nấy khiếp phục, đảnh lễ và xin chữa bệnh cho vua.

Minh Không bảo hãy đẩy chiếc cũi nhốt Lý Thần Tông đến, đem thêm một cái vạc đựng đầy nước, nấu sôi sùng sục. Sư thản nhiên nhúng tay vào nước sôi khuấy mạnh nhiều lần, vẩy lên mình vua. Nước rưới đến đâu lông lá nhà vua rụng dần đến đó. Sư lại lấy nước ấy tắm khắp người vua, từ đó vua lành bệnh tỉnh táo như xưa.
Có sách chép Minh Không ném vào vạc dầu đang sôi 100 cây kim nhọn, dùng tay lấy từng cây kim đâm khắp người vua “tự nhiên lông, móng, răng cọp đều rụng hết, thân vua hoàn phục lại như cũ”.

Chuyện vua Lý Thần Tông hóa cọp được sử sách ngày trước ghi chép và bàn đến khá nhiều. Đến thời nay, không ít tác phẩm cũng kể lại chuyện đó, như cuốn Thiền sư Việt Nam của hòa thượng Thích Thanh Từ dựa nhiều nguồn tư liệu, đã viết đại ý: khi người của triều đình đến thỉnh mời, mới gặp mặt lần đầu, Minh Không đã lên tiếng hỏi trước: “Các ngươi đến gặp ta để xin chữa bệnh cho người bị hóa cọp phải không?”.
Ai cũng hết sức ngạc nhiên hỏi sao ngài lại biết? Ngài đáp: “Không phải bây giờ ta mới biết, mà ta biết việc này từ 30 năm trước” – từ lúc Lý Thần Tông chưa ra đời.

Vậy lúc ấy (kiếp trước) vua Lý Thần Tông là ai? Chính là thiền sư Từ Đạo Hạnh. Đạo Hạnh đã cùng Minh Không là hai huynh đệ tu hành ngộ đạo. Một hôm, Từ Đạo Hạnh núp vào chỗ vắng giả làm tiếng cọp gầm để hù dọa Minh Không. Minh Không biết, lên tiếng trách Đạo Hạnh đã dùng tà hạnh và chú ngữ để làm cọp dọa người, ắt sẽ phải chịu hậu quả không hay.
Ngay đó Đạo Hạnh giật mình hối hận, biết mình sẽ chịu phiền toái sau này, liền bảo Minh Không: “Đời sau của ta thế nào cũng sẽ bị quả báo vì chuyện giả cọp này, vậy xin phiền ông lúc ấy (30 năm sau) hãy đến giải bệnh cho ta với”. Minh Không nhận lời. Sau Từ Đạo Hạnh chết, thác sinh thần Lý Thần Tông hóa cọp như đã kể.
Câu chuyện trên lưu truyền cách đây gần ngàn năm, kể từ lúc vua hóa cọp vào năm 1136, song đến nay vẫn được giới nghiên cứu bàn luận với hai điều nổi cộm:

Thứ nhất, theo cách nói của người Việt thì ở hiền gặp lành. Mà Lý Thần Tông không phải là một vị hoàng đế tàn ác. Đại Việt sử ký toàn thư nhận xét vua Lý Thần Tông “tư chất thông minh, có lòng độ lượng của bậc đế vương nên từ việc sửa sang chính sự đến việc dùng người hiền tài, trước sau đều không có gì sai lệch”.
Thời vua trị vì có rùa 6 mắt, chim quý, rồng vàng, hươu trắng, ngựa hoa đào xuất hiện, thiên hạ cho là các điềm lành. Binh sỹ hàng năm theo lệnh vua cứ 6 tháng ở quân ngũ, 6 tháng về nhà làm ruộng, nhằm giữ cho việc binh không ảnh hưởng đến việc nông gia cày cấy.
Một nhà vua nhân từ, biết chăm lo việc nước như vậy, lẽ ra đáng được an lạc, thọ mạng lâu dài, nhưng đằng này lại mắc bệnh nan y và qua đời sớm lúc 22 tuổi (vào năm 1138) sau 10 năm lên ngôi. Vì sao “ở hiền” mà “gặp giữ” như thế?

Các vị tưởng lão giải thích rằng đời này vua hiền thì phước đời sau vua hưởng. Còn đời này vua bị ác bệnh, chết sớm là do quả báo của đời trước gây ra.
Đời trước, khi còn là thiền sư Từ Đạo Hạnh, vua đã nói với Minh Không: “Xưa Đức Phật Thích ca đạo quả đã tròn mà còn bị quả báo kiếm vàng, huống là ta ở đời mạt pháp này công hạnh không lấy gì làm lớn, nên không thể tự giữ mình được, chắc chắn phải tái sinh và không tránh khỏi ác bệnh”.

Vậy quả báo kiếm vàng (kim thương chỉ báo) là gì? Theo các nhà nghiên cứu, kim thương chỉ báo là một thuật ngữ để biểu thị cho một truyện tiền thân của Phật Thích ca được kể trong các bộ kinh, rằng: thời Đức Phật còn hành Bồ tát đạo, ngài lên tàu đi cùng chuyến với hàng trăm người lái buôn, trong số đó có một tên bất lương nuôi ý định giết hết những người trên tàu để cướp của cải, vàng bạc.
Biết được điều ấy, Bồ tát đã ra tay trước, giết chết tên cướp. Dầu với mục đích cứu nhiều người trên tàu nên phải giết một người (tên cướp) song Bồ tát vẫn không thoát khỏi vòng báo ứng và bị kẻ cướp kia đầu thai đeo đuổi tìm cách trả thù.
Nhưng nhờ trong nhiều kiếp sau đó ngài vẫn tu hành miên mật và công hạnh tinh tấn nên kẻ kia không thể hãm hại được. Đến khi ngài thành Phật, kẻ cướp vẫn cứ mang kiếm đứng bên cạnh. Đó gọi là quả báo kiếm vàng.

Dẫu Đạo Hạnh chỉ dùng phép thuật để “giả làm cọp” dọa người cũng phải chịu hóa thành “cọp thật” để trả cái nợ tiền thân tự mình gây nên ấy. Đó là ý nghĩa giáo dục về luật nhân quả và vòng luân hồi. Luật này tác động thông suốt ba thời (quá khứ, hiện tại lẫn tương lai) trong trùng trùng kiếp kiếp.

Điều thứ hai, khi xem xét dưới lăng kính lịch sử, thì ba nhân vật trong truyện vua hóa cọp gồm: thiền sư Nguyễn Minh Không, thiền sư Từ Đạo Hạnh và vua Lý Thần Tông đều là những nhân vật có thật. Nhiều sách cho biết:

Minh Không tên thật là Nguyễn Chí Thành sinh ngày 14/8 năm Bính Thìn (1076) tại làng Loại Trì, huyện Chân Định, tỉnh Nam Định. Sư đã sang Thiên Trúc (Ấn Độ) học đạo và khi du phương đến sông Hoàng Hà (Trung Quốc), đã thả nón xuống nước, đứng trên ấy lướt sang bờ bên kia trong chớp mắt.
Sư cũng là người đúc tượng Phật A Di đà tại chùa Quỳnh Lâm (Hải Dương), đúc đỉnh đồng tại tháp Báo Thiên (Thăng Long), đúc đại hồng chung ở Phả Lại và đúc vạc ở Minh Đảnh. Số đồng đúc còn dư, sư đem về chùa làng của mình đúc một đại hồng chung nặng 3.300 cân.
Điều ấy khiến người sau tôn thiền sư Minh Không là một trong các vị tổ nghề đúc đồng Việt Nam. Khi chữa lành bệnh cho Lý Thần Tông, vua đã “tạ ơn sư Minh Không một ngàn cân vàng và một ngàn khoảnh ruộng để hương hỏa cho chùa, ruộng này không có lấy thuế. Đến năm Đại Định thứ hai (1141) sư quy tịch. Hiện nay tại Hà Nội, trước đền thờ Lý Quốc Sư vẫn còn tượng sư và có bia ký. Dân chợ Tiên Du muôn đời hương khói phụng thờ”.

Từ Đạo Hạnh là con của quan đô án Từ Vinh. Cha ngài (Từ Vinh) bị pháp sư Đại Điên dùng phép thuật đánh chết, ném xác xuống sông Tô Lịch. Xác trôi đến trước nhà kẻ thù thì dựng đứng như người sống, tay chỉ thẳng vào nhà, pháp sư Đại Điên phải đứng trên bờ đọc thần chú và xướng câu kệ: Người tu hành giận ai – Không quá một đêm ngày. Xác của Từ Vinh mới ngã xuống, trôi ra biển.
Từ Đạo Hạnh muốn báo thù cho cha nên đã vượt núi non hiểm trở tìm thấy học đạo, về sau đến chỗ cha mình bị vứt xác, ném một chiếc gậy xuống dòng nước đang chảy xiết. Chiếc gậy ấy không bị nước cuốn trôi, mà lại lội ngược lên nguồn, trông như con rồng đang hớp mây cao.
Đạo Hạnh biết mình pháp thuật đã thành, liền đến gặp Đại Điên, đánh một gậy, Đại Điên phát bệnh chết. Trả thù xong, theo cách nói của nhà thiền “Oan nghiệt xưa như tuyết tan – việc đời nay nguội như tro lạnh” nên sau đó Đạo Hạnh buông bỏ tất cả, lánh mặt vào chốn tòng tâm, tĩnh tu.

Về câu chuyện ly kỳ vua hóa cọp trên, học giả Lê Mạnh Thát đúc kết: “Vua Lý Thần Tông mắc bệnh là một sự thật. Và yêu cầu chữa bệnh là một sự thật khác. Do thế, khi Minh Không đã thành công chữa lành bệnh cho vua Lý Thần Tông, thì chẳng có gì là “thần quái làm mê hoặc đời”. Vì điều ấy chỉ chứng tỏ tài nghệ y dược của vị thiền sư này rất xuất sắc.
Thực tế, dân tộc ta tồn tại và phát triển mạnh mẽ cho đến ngày nay là phải nhờ phần lớn vào những con người làm công tác khoa học kỹ thuật trong lĩnh vực y dược như Minh Không.
Tuy nhiên, quá trình tiểu thuyết hóa bằng cách hư cấu mà ta đã nói tới ở trên, tạo cho những con người như Đạo Hạnh, Minh Không mang dáng dấp thần bí khó hiểu. Từ đó, nó gây ra những ngộ nhận về giá trị đích thực của những việc làm do Đạo Hạnh và Minh Không thực hiện”…

Vậy hãy nên thấy rõ cái lõi lịch sử của câu chuyện, để ghi nhận “một dấu ấn” trong nền y dược dân tộc ngày xưa cần được tìm hiểu thêm.
Còn nay, lúc năm Dần đang đến, với ý nghĩa nhắc nhở về luật nhân quả, về báo ứng phải trả cho một lời nói, một hành vi buông lung, hoặc một thi thố quyền năng không đúng chỗ, thì chuyện vua Lý Thần Tông hóa cọp mang đến cho đời lời cảnh báo đầy đạo vị đầu năm.

Giao Hưởng
(Theo Thanh Niên Tết 2010)

________________________________________________________

Posted in Truyền thuyết | Tagged: | Leave a Comment »