NGÔN NGỮ & VĂN HÓA

CHÚC MỪNG NĂM MỚI

Archive for the ‘văn hóa’ Category

Những nguyên mẫu của Vợ chồng A Phủ

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Mười 10, 2011

Nhà văn Tô Hoài đã từng ao ước được trở về Tà Sùa, Hồng Ngài (Sơn La), cùng các nhà làm phim làm một bộ phim về Mường Dơn. Không biết đã ngoài 90 tuổi, cụ đã thỏa tâm nguyện này chưa nhưng mới đây, nữ nhà báo Hoàng Hường đã lặn lội tìm đến địa danh này. Tại đây, chị đã gặp được những con người được cho là nguyên mẫu thật bằng xương bằng thịt như bước ra từ tác phẩm văn học nổi tiếng Vợ chồng A Phủ của nhà văn Tô Hoài. Nhân tiện, chị đã thực hiện một bộ phim ngắn, hay nói cho đúng hơn là làm ký sự bằng hình ảnh về những nguyên mẫu này.

Thống lý Pá Tra là Mùa Trở La, không phải Mùa Chống Lầu

Hoàng Hường cho biết, sở dĩ chị quyết tâm tìm đến những địa danh đã được nhà văn Tô Hoài nhắc đến trong tác phẩm của mình là vì ngay từ ngày được học tác phẩm này trong trường phổ thông, chị đã rất thích đến những miền đất ấy. Mong muốn đó cứ lớn lên để rồi “không chịu được nữa”, chị khoác ba lô lên đường với hy vọng sẽ tìm được những câu chuyện liên quan đến những địa danh, những con người, dù chỉ là “hậu duệ” của những con người mà nhà văn Tô Hoài đã đưa vào tác phẩm văn học. Tuy nhiên, chính sự “tù mù và liều lĩnh” này đã giúp Hoàng Hường “thu hoạch” được nhiều hơn những gì mình mong muốn.

Đầu tiên, Hoàng Hường tìm đến nhà ông Đinh Tôn, (xã Phiêng, huyện Bắc Yên, Sơn La) người được cho là nguyên mẫu nhân vật A Châu trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ. Qua cuộc “chất vấn” giữa “nhà quay phim nghiệp dư Hoàng Hường” với ông Đinh Tôn, có thể tạm chứng minh được ông Đinh Tôn chính là nguyên mẫu “cán bộ A Châu”.

Theo đó, ông Đinh Tôn gặp nhà văn Tô Hoài năm 1951, khi ông còn chưa lập gia đình và đang làm công tác dân vận và nghiên cứu tình hình lịch sử của người Mèo khu 99 (gồm 1 nửa là xã La Phù, 1 nửa là xã Tường Phù). Theo những gì mà ông Đinh Tôn trả lời phỏng vấn nhà báo Hoàng Hường trong phim thì nhân vật thống lý Pá Tra là từ nguyên mẫu thống lý Mùa Trở La, bố đẻ của thống lý Mùa Chống Lầu.

Ông Đinh Tôn kể: “Bố ông Mùa Chống Lầu độc ác lắm, nhưng đến ông thống lý Mùa Chống Lầu, các đồng chí ta lại thuyết phục được ông ấy đi theo cách mạng, ông đã xây dựng cơ sở, vận động tất cả người Mèo vùng 99 và vùng Kim Bon theo cách mạng. Tức là bố ông thống lý thì độc ác nhưng bản thân ông thống lý thì lại đi theo cách mạng. Thế nên nhà văn Tô Hoài cũng không nói ông Mùa Trở La mà nói thống lý Pá Tra. Bởi vì nếu lấy tên ông Mùa Trở La làm tên nhân vật luôn thì ảnh hưởng đến ông Mùa Chống Lầu. Khi đó ông Lầu đang là ủy viên Ủy ban Mặt trận tổ quốc khu Thái – Mèo, còn tôi là ủy viên Hội đồng nhân dân khu. Tức là nguyên mẫu của nhân vật thống lý Pá Tra là ông Mùa Trở La, là bố ông Mùa Chống Lầu, chứ không phải là Mùa Chống Lầu như nhiều người nghĩ”.

Giải thích về các nguyên mẫu khác, ông Đinh Tôn cho biết: “A Sử chết lâu rồi. Các nhân vật A Phủ, A Sử, A Mỵ, tên thật của họ cũng là như vậy thôi. Nhưng giấu cái họ đi. Ngay cả tôi, ban đầu anh Tô Hoài cũng lấy tên tôi ra, nhưng tôi nói rằng như vậy cũng không hay, vì cần phải gắn vào đồng bào dân tộc, cần phải tôn lên cái người dân tộc họ làm nên lịch sử. Vì thế, ngay cả các nhân vật A Phủ, A Sử cũng không có họ. Người Mèo có 12 họ, thì các nhân vật cũng không lấy họ nào cả, mà cứ lấy họ A vào đấy thôi. A là cái tên đệm chung. Bây giờ lấy A Phủ, A Sử, A Châu ra hỏi thì không ai biết cả. Nhưng nghe cái tên đó biết A Châu dân tộc Mông là được rồi”.

Nguyên mẫu A Mỵ thật vẫn còn sống

Nguyên mẫu A Châu Đinh Tôn (sinh năm 1930), nguyên quán ở Vạn Yên, Phú Yên, gốc là người Mường. Ông thoát ly từ năm 15, 16 tuổi và gần như đã đi khắp Sơn La để tham gia công tác dân vận. Năm 1983, ông về ở xã Phiêng, huyện Bắc Yên, Sơn La cho đến bây giờ. Ông có hai vợ. Người vợ thứ nhất đã mất năm 1999, lấy người vợ thứ hai cũng đã có nhiều con cháu. Hoàng Hường kể: “Đến nhà “cán bộ A Châu”, điều tôi ám ảnh nhất không hẳn là những câu chuyện ông kể về những nguyên mẫu trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ của nhà văn Tô Hoài mà là căn nhà ông đang ở. Nó quá dột nát. Ông có 7 người con, hiện 6 người còn sống. Người con thứ hai của ông từng thi ĐH Xây dựng ở HN thừa 2 điểm nhưng không theo học mà ở nhà đi làm, được 7 năm thì ngã bệnh qua đời. Còn 6 người con còn lại, có 3 nữ đều là giáo viên, còn 3 con trai thì 1 là thiếu tá, 1 là trung tá ở công an tỉnh. Nhà chưa làm lại được là vì con cháu ông bà đều công tác xa nhà, có khi cả năm mới đáo về thăm ông bà được một lần!”.

Chưa hết cảm động bởi đã gặp được nguyên mẫu trong tác phẩm văn học mà mình mê mẩn từ ngày còn ngồi trên ghế nhà trường, Hoàng Hường còn sướng rơn khi được “cán bộ A Châu” cho biết, nhân vật A Mỵ hiện vẫn còn sống, nhưng không phải ở Phiềng Sa như trong truyện của Tô Hoài đã viết mà ở bản Lung Tang, cũng thuộc Hồng Ngài, nhưng cách khoảng một ngày đường rừng, băng qua sông và đôi khi phải đi bằng “tứ chi”.

Tài sản lớn nhất của A Mỵ là cái cối đá

Mặc dù “cán bộ A Châu” khẳng định “chắc như đinh đóng cột” rằng vợ chồng A Phủ vẫn còn sống hoặc chí ít còn để lại hậu duệ nhưng Hoàng Hường vẫn tỏ ra hoài nghi, vì lâu nay, nhiều người vẫn đồn vợ chồng A Phủ đã mất.

Sau khi vượt qua những cung đường lầy lội với một bên là núi cao, một bên là vực sâu “bồng bềnh mây trắng”, Hoàng Hường đã đến được Lung Tang và bắt đầu cuộc tìm kiếm vợ chồng A Phủ với sự hỗ trợ của của người thông dịch viên kiêm xe ôm mà chị đã thuê được ngoài thị trấn huyện. Gần hết chiều, “quý bà” Hoàng Hường may mắn gặp được “quý tử” của vợ chồng A Phủ tên là Lầu A Lia.

Hoàng Hường kể: “Sau một hồi trò chuyện, Lầu A Lia bảo hai người chị tìm là bố mẹ tôi. Nghe vậy tôi mừng khôn tả, nhưng khi tôi hỏi: Bố anh còn sống không? Anh nói với tôi: Bố tôi chết rồi. Chết từ ngày con gái đầu của tôi nó thấp bằng con dao. Bây giờ con cháu nó lấy vợ, lấy chồng, đẻ con, đẻ cái hết rồi. Tôi hỏi thế cháu anh được mấy tuổi rồi thì Lầu A Lia cũng chỉ nói: Không biết mấy tuổi, chỉ biết là đẻ từ mùa rẫy trước. Bà thì còn sống, đang xay ngô trong nhà”.

Mừng quá, tôi chạy thẳng vào nhà. Đến cửa, đập vào mắt tôi là một cụ bà mà theo tôi là rất đẹp và phúc hậu. Nhìn cụ tôi đoán có khi cụ cũng phải xấp xỉ trăm tuổi. Cụ vẫn minh mẫn, tay trái cầm một bát sắt to như chiếc mũ bảo hiểm đụng đầy hạt ngô, tay phải đang bón ngô vào trong lòng cối cho đứa cháu xay mèn mén. Nhà cụ rất nghèo và thiếu thốn đủ thứ. Thậm chí, tôi nghĩ cái cối đá chính là tài sản lớn nhất, có giá trị nhất đối với gia đình cụ. Không có cái cối đá ấy, hẳn gia đình cụ còn khổ hơn rất nhiều”.

Người được cho là nguyên mẫu A Mỵ làm “quý bà” Hoàng Hường hết sức xúc động ấy tên thật là Mùa Thị La. Cụ không nói được tiếng Kinh nên qua người thông dịch, Hoàng Hường chỉ biết “A Mỵ” xưa kia ở xã Háng Chú (Bắc Yên) rồi đi sang Háng Dia, nhưng ở đó có nhiều dịch bệnh, ốm đau nên sau giải phóng thì chuyển về ở Tà Sùa. Cụ và Lầu A Phử (trong truyện tên là A Phủ – PV) từng ở nhà ông thống lý Mùa Chống Lầu. Giữa cụ và A Phử là chỗ thân quen, gặp nhau vào dịp chơi tết. Sau này “hai cái bụng ưng nhau” nên A Phử rủ anh em đến đón cụ về làm dâu, từ đó thành vợ, thành chồng! Có với nhau được cả thảy 6 người con, lo gia thất được cho 4 người thì đổ bệnh nhưng không rõ là bệnh gì mà chỉ biết “đau cái bụng”. Sau một thời gian thì ông khuất núi!…”

Tìm được nhân vật có cuộc đời nô lệ còn hơn cả Mỵ

Câu chuyện mà cụ A Mỵ kể lại chừng như đơn giản hơn so với những gì mà Mỵ trong Vợ chồng A Phủ của nhà văn Tô Hoài mà nhiều người đã biết. Nhưng cũng thật tình cờ, trong chuyến đi tìm vợ chồng A Phủ, Hoàng Hường còn vô tình “chộp” được một nhân vật không phải bước ra từ văn học nhưng có chặng đời lại thật như nhân vật A Mỵ đến nỗi khó tin, ở xã Chiềng Công, huyện Mường La, cách xa Hồng Ngài cả trăm km.

Nhân vật này nguyên là nữ thẩm phán người dân tộc Mông đầu tiên của tỉnh Sơn La. Theo đó, năm 12 tuổi, bà Lý bị bán về làm dâu nhà tào phán (thống lý = chủ tịch xã; tào phán = trưởng thôn) Mùa A Mang, làm vợ con trai tào phán là Mùa Súa Tình khi đó cũng 12 tuổi. Những năm bà Lý làm nô lệ, bà không có quyền ăn, không có quyền nói. Nhà chồng ăn thì bà phải vào buồng. Đến lúc bà ăn thì chỉ ăn bí đỏ nấu không bỏ hạt với canh rau chua trộn cơm ngô sền sệt như ăn cám lợn. Không chỉ liên tục phải ngồi trong buồng “nhìn qua cái lỗ vuông vuông bằng bàn tay” mà bà Lý còn liên tục bị chồng cho ăn no đòn. Đánh, đánh thừa sống thiếu chết. Đánh mà không vì cái tội gì cả. Đặc biệt, cú phi cả một cây củi vào mạng sườn của ông chồng “trẻ con” đến giờ mỗi khi trái gió, trở trời lại khiến bà Lý mếu máo vì đau. Thậm chí, mỗi khi nhớ lại những trận đòn thù của “người xưa”, bà không ngần ngại “chửi vọng”: “Thằng chó chết, mày ác. Mày chết đã hơn 40 năm rồi, xương mày đã bị mối ăn hết rồi mà chỗ mày đánh tao vẫn còn đau”.

Bà Lý làm vợ, hay nói cho đúng hơn là làm nô lệ cho cái gia đình “chó chết” đó được 8 năm. Đến năm 1955, thành lập Khu Tự trị Thái Mèo, bà mới được giải phóng khỏi cuộc đời nô lệ, được cho đi học và trở thành “bà thẩm phán”.

“Vợ chồng A Phủ” đã trở thành “di sản”

Bây giờ, những thống lý không còn nữa, những dinh thự gắn với những cơn ác mộng của những người nô lệ đã thành quá khứ, nhưng tập tục cổ xưa của người Mông như bắt vợ gán nợ như Mỵ trong Vợ chồng A Phủ thì vẫn còn, nhưng trên tinh thần thỏa thuận đàng hoàng và sòng phẳng chứ không “cướp giật” theo nghĩa đen.

Hoàng Hường cho biết: “Ông chủ tịch xã nói với tôi; hiện nay, tập tục ấy vẫn giữ, nhưng giữa đôi bên “thông gia” hoặc đôi nam nữ đã “nháy” nhau trước rồi chứ không “cưỡng chế” như xưa nữa. Điều đó chứng tỏ nhận thức đã làm cho người Mông ở nơi đây tiến bộ hơn rất nhiều! Có chăng, cái tồn tại lâu nhất vẫn chưa xóa được ấy là cái nghèo, cái khổ, cái khó của bà con vẫn còn đeo đẳng lấy họ mà thôi”

Theo “quý bà” Hoàng Hường cho biết thì hiện nay, những vùng đất của “thống lý Pá Tra” xưa vẫn ngút ngàn và màu mỡ. Cách trung tâm thị trấn Bắc Yên khoảng 8km, hang A Phủ (xã Hồng Ngài, Bắc Yên, Sơn La) vẫn còn “hoang sơ như thời tiền sử”. Hang này được cho là nơi trú ẩn của A Phủ và Mỵ sau khi cùng nhau chạy trốn khỏi nhà thống lý và sau này cũng là nhà trú ẩn của bộ đội trong khi hành quân để tăng cường cho chiến dịch Tây Bắc 1952. Nếu cái hang này trở thành một “vệ tinh” trong bản đồ, xin tạm gọi “theo dấu chân A Phủ” thì đó sẽ là một trong những chặng dừng chân ý nghĩa khi đến với miền đất và những con người như bước ra từ văn học…

Theo Huy ThôngTT&VH
__________________________________________________________

Advertisements

Posted in Văn học | Tagged: , , | Leave a Comment »

Đội gạo lên chùa – trong chùa và ngoài chùa

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Mười 5, 2011

Hoài Nam

Đội gạo lên chùa, trên một phương diện nào đó, là cuốn tiểu thuyết viết về Phật giáo Việt Nam, về tác động của tư tưởng Phật giáo tới văn hóa – lối sống của con người Việt Nam trong trường kỳ lịch sử.

“Cư trần lạc đạo thả tùy duyên/ Cơ tắc thực, hề khốn miên/ Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch/ Đối cảnh vô tâm mạc vấn Thiền” (Tạm dịch: Sống giữa cõi trần vui với Đạo hãy tùy theo hoàn cảnh. Đói thì ăn, mệt thì ngủ. Trong nhà sẵn có của báu, còn phải tìm đâu nữa. Đối cảnh vô tâm, cần gì phải hỏi Thiền). Lấy lại bốn câu trong bài Cư trần lạc đạo phú của Trúc Lâm Đại đầu đà – Phật hoàng Trần Nhân Tông làm đề từ cho cuốn tiểu thuyết Đội gạo lên chùa, dường như nhà văn Nguyễn Xuân Khánh muốn giúp độc giả bằng cách ngầm trao cho họ cái yếu quyết để đi vào và hiểu tác phẩm của mình; hoặc ít ra, hiểu nó rõ thêm.

Quả có vậy, Đội gạo lên chùa, trên một phương diện nào đó, là cuốn tiểu thuyết viết về Phật giáo Việt Nam, về tác động của tư tưởng Phật giáo tới văn hóa – lối sống của con người Việt Nam trong trường kỳ lịch sử, hoặc nói cho ngắn gọn, đây là cuốn tiểu thuyết viết về Phật tính trong văn hóa Việt. (Vả lại, ngay cái nhan đề tác phẩm, theo cơ chế liên văn bản, đã buộc người đọc phải nghĩ tới câu ca dao không biết có từ bao giờ: “Ba cô đội gạo lên chùa/ Một cô yếm thắm bỏ bùa cho sư/ Sư về sư ốm tương tư…”). Từ một biến cố kinh hoàng trong cuộc đời của hai chị em Nguyệt và An – cha mẹ bị lính Pháp cắt cổ trong một trận càn – tác giả đã đưa người đọc tới làng Sọ, một làng quê mang đậm những nét đặc trưng của làng quê vùng đồng bằng Bắc bộ, nơi có ngôi chùa làng vừa như là nạn nhân vừa như là chứng nhân của những thăng trầm lịch sử. Tại chùa làng Sọ, hai chị em Nguyệt và An được cưu mang, được làm lại cuộc đời. Và điều quan trọng hơn, họ được sống trong một vi khí hậu văn hóa đậm đặc Phật tính, được quan sát, trải nghiệm và rồi tự hình thành sự nhận biết cá nhân về vi khí hậu văn hóa ấy. Từ giác độ này, tính luận đề của tiểu thuyết Đội gạo lên chùa được thể hiện khá rõ. Để nói về cái tâm từ bi của nhà Phật cũng như sức mạnh cải hóa, cảm hóa chúng sinh toát ra từ cái tâm từ bi ấy, tác giả đã không ngần ngại mượn lại những motif từng có trong chuyện kể về cuộc đời tu đạo và truyền giáo của Đức Phật Thích Ca: này là mãnh thú (con hổ mang pháp danh Khoan Hòa), này là cường đạo (sư bác Khoan Độ) đều chẳng được sư cụ Vô Úy cứu vớt rồi trở thành Phật gia đệ tử đó sao? Để nói về tinh thần nhập thế tích cực của Phật giáo Việt – vốn được khởi nguồn từ những vị tăng thống như Ngô Chân Lưu, Vạn Hạnh, và đạt tới đỉnh cao với những vị tăng đế thời nhà Trần – tác giả Đội gạo lên chùa chẳng đã dựng lên nhân vật sư Vô Trần bỏ chùa đi hoạt động cách mạng, trở thành một chỉ huy quân sự tiếng tăm lừng lẫy đó sao? Để nói về thái độ khai phóng, không chấp trước, một lối ứng xử cởi mở, một triết lý sống đúng với tinh thần câu “Cư trần lạc đạo thả tùy duyên” của Thiền Việt Nam, nhà văn Nguyễn Xuân Khánh chẳng đã lấy chính cuộc đời của sư cụ chùa làng Sọ – hòa thượng Vô Úy – làm một ví dụ trực quan sinh động đó sao? Tên của nhân vật đã là một ký hiệu đầy hàm nghĩa. Vô Úy nghĩa là không sợ, không sợ bất cứ cái gì. Không sợ cường quyền bạo lực. Không sợ lẽ hưng vong sinh diệt của tạo hóa. Không sợ quy luật tuần hoàn đắp đổi của vạn vật. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, dù là tồi tệ đến đâu, người tu thiền đích thực vẫn có thể “tùy duyên” mà vượt qua được mọi sóng gió với cái tâm an nhiên như mặt nước hồ thu. Chính bằng sự “vô úy” và cái năng lực “tùy duyên” ấy mà sư cụ, cũng như ngôi chùa làng nhỏ bé, vẫn cứ tồn tại trên lớp sóng thời gian dù phải trải qua những cơn rung lắc dữ dội nhất (dưới sự khủng bố của chính quyền tề ngụy, và sau đó, dưới sự lộng hành tăm tối của chính quyền nông dân thời cải cách ruộng đất, chùa làng Sọ luôn là đối tượng bị “quan tâm” nhiều nhất, bản thân sư cụ trong cả hai thời kỳ đều đã bị bắt giữ và bị tra tấn đến chết đi sống lại). Để suy luận – dẫu vì thế mà không tránh khỏi sự võ đoán – có lẽ phải nói rằng ở đây, với những “bằng chứng” về sự thấm nhiễm tư tưởng Phật giáo trong quan niệm sống, hay nói cách khác, với những biểu hiện cụ thể về Phật tính trong văn hóa Việt, tác giả muốn phát lộ một bí mật làm nên khả năng trường tồn của dân tộc chăng?

Dù sao, với một tác phẩm tiểu thuyết luận đề, ở phần diễn dịch cho một tư tưởng hoặc một quan niệm có trước, dẫu có viết khéo đến đâu thì đôi lúc vẫn để lộ ra những chỗ gượng gạo. (Trong Đội gạo lên chùa, phần gượng gạo nhất là lúc tác giả phân tích, bình luận về tính cách của nhân vật trung úy Tây lai Bernard, về cái phức cảm tự tôn lẫn tự ti giữa hai nửa Pháp – An Nam, da trắng – da vàng, kẻ chinh phục – người bị thống trị trong con người Bernard. Rất dài dòng và nói chung là không cần thiết). Sinh động, hấp dẫn và sẽ sống bền hơn cả trong Đội gạo lên chùa của Nguyễn Xuân Khánh, theo tôi, có lẽ là phần nằm ngoài chủ đề Phật tính của văn hóa Việt, cũng tức là nằm ngoài mối quan tâm lớn nhất của tác giả. Tôi muốn nói tới thế giới đàn bà trong tác phẩm, một thế giới được phác lên bằng rất nhiều chân dung, rất nhiều số phận cuộc đời, mà hầu như cái nào cũng sắc nét. Ngay ở những trang đầu tiên của cuốn tiểu thuyết, người đọc đã được sống trong bầu không khí ma mị với một bà cụ Thầm nửa âm nửa dương, mê mê tỉnh tỉnh, suốt đêm chỉ ngồi đếm đom đóm từ nghĩa địa bay vào – mỗi con đom đóm là một vong linh – và lầm rầm trò chuyện với những người bạn đã chết từ thuở còn con gái. Rồi cô Rêu, người thiếu nữ tài sắc vẹn toàn, “lúc nào cũng ngơ ngơ như từ trên trời rơi xuống”, đã nhảy giếng tự tử trong thời cải cách ruộng đất, như thể một tuyên bố về sự không chung sống được với cõi đời đang hồi điên đảo (khi cô chết, cái giếng tỏa mùi thơm ngát. Chi tiết này khiến nhân vật cô Rêu phảng phất bóng dáng nhân vật Người Đẹp trong Trăm năm cô đơn của G. Marquez, chỉ khác là một cô thì bay lên trời, một cô thì lao xuống giếng). Rồi bà cụ làm vàng hương, người không chấp nhận trao số phận mình vào tay đội cải cách và đã “giành quyền tự quyết” bằng cách thắt cổ chết trong một căn phòng sực nức mùi trầm hương. Rồi những bà Nấm, bà Thêu, chị Thì, chị Xim, cô Mai… mỗi người đàn bà trong Đội gạo lên chùa là cả một nguồn năng lượng sống được dồn nén đến cực độ, chỉ chờ dịp để bung phá, tuôn trào. Và khi tuôn trào, nguồn năng lượng sống ấy sẽ cuốn theo, không gì khác, chính những người đàn ông, như dòng nước lũ cuốn phăng những củi mục rong rêu về phía hạ lưu. Đọc Đội gạo lên chùa, không khó nhận thấy những người đàn bà ở đây đều ý thức rất rõ về vẻ đẹp thân thể và sức mạnh giới tính của mình. Đáo để đến mức quyết liệt, họ dùng nó như một thứ lợi khí để đương đầu với số phận, và dùng nó như một phương tiện hữu hiệu để kiếm tìm hạnh phúc cá nhân. Bà Nấm khiến cho sư Vô Trần phải động lòng trần mà cởi tăng y về với cõi tục. Bà Thêu, trong cơn biến cố long trời lở đất có tên là cải cách ruộng đất, đã nhanh chóng thoát khỏi cái tội là vợ địa chủ – rồi sau đó thậm chí còn trở thành cán bộ – bằng việc làm cho anh đội Khoát phải ngây ngất si mê. Đặc biệt ấn tượng, phải kể đến nhân vật chị Xim, người đàn bà hừng hực khao khát như một lò lửa nhưng cũng rất rành mạch sòng phẳng, tình nguyện ban phát cho anh chồng cũ một cuộc ái ân cuồng nhiệt để rồi sau đó chấm dứt, ai nấy sống cuộc đời của mình. Nói chung, nếu không muốn rơi vào sự võ đoán vu khoát khi dùng cụm từ “chủ nghĩa nữ quyền” trong trường hợp này, theo tôi, có thể nói đến một ý hướng khái quát về “mẫu tính” của văn hóa Việt trong Đội gạo lên chùa (“mẫu tính” cũng là cụm từ được nhiều nhà phê bình nhắc tới khi viết về Mẫu Thượng ngàn, cuốn tiểu thuyết trước đó của Nguyễn Xuân Khánh). Có vẻ như, dù không nằm trong chủ ý ban đầu của tác giả, song theo quán tính của một thứ “tạng văn” đã định hình, “theo dòng mẫu hệ”, Đội gạo lên chùa vẫn thuyết phục người đọc nhiều hơn ở những trang viết “ngoài chùa” – những trang viết về người đàn bà, người sinh thành ra chính bản thân sự sống.

Ngót 900 trang sách khổ 14 x 20,5, phải nói rằng Đội gạo lên chùa của Nguyễn Xuân Khánh thuộc vào loại tiểu thuyết dễ khiến cho người ta phải… choáng váng, nhất là với những người đọc thiếu kiên nhẫn. Cũng may là tác giả không chọn cách viết đánh đố thiên hạ. Ông viết đặc sệt cổ điển, có lớp có lang, dẫn dắt mạch lạc, diễn giải kỹ càng. Gần 900 trang sách ấy, một mặt cho thấy lao động viết đầy khổ công, mặt khác lại nói được rất nhiều về nội lực văn hóa của tác giả. Với đề tài như thế này, nếu không phải là một nhà văn “độc phá vạn quyển thư”, quan tâm rộng tới những vấn đề của lịch sử văn hóa – tư tưởng, tôi e rằng anh ta chỉ viết đến 300, 400 trang là hết chuyện để nói. Thế nhưng, không nên quên rằng chúng ta đang bàn tới một tác phẩm tiểu thuyết chứ không phải một công trình nghiên cứu. Và với một tác phẩm tiểu thuyết thì phẩm chất đó, tuy cần thiết, nhưng chưa phải là tất cả.
______________
Đội gạo lên chùa, tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh, NXB Phụ Nữ 2011.

Posted in Văn học | Tagged: , , | Leave a Comment »

‘SBC là săn bắt chuột’

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Mười 4, 2011

Nhà văn vắng mặt tại buổi ra mắt tiểu thuyết mới nhất của ông ‘SBC là săn bắt chuột’ sáng 29/9 vì đang bận làm Phó đại sứ tại Iran. Cuốn sách được nhận xét là đánh thức óc tư duy của độc giả bằng sự hài hước giễu nhại sâu sắc.

Buổi ra mắt ‘SBC là săn bắt chuột’ được tổ chức cùng lúc với lễ khai trương chi nhánh mới của Nhà xuất bản Trẻ, nơi ấn hành cuốn sách, tại Hà Nội vào sáng nay (29/9).

Nhân vật chính không có mặt nhưng nhiều bạn bè, đồng nghiệp của ông đã đến tham dự như các nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên, Nguyễn Thị Minh Thái; nhà báo Yên Ba; các nhà thơ Nguyễn Việt Chiến, Hữu Việt; các nhà văn Phong Điệp, Nhã Thuyên; dịch giả Thụy Anh…

Sách mở đầu bằng một trận lụt (chính là trận lụt lịch sử ở Hà Nội năm 2008), kết thúc bằng một trận hạn hán, ở giữa là 11 chương kể về cuộc chiến săn bắt chuột của các nhân vật. Nơi trú ẩn của chuột bị phá bỏ khi Đại Gia giải tỏa bãi rác, san lấp bãi lầy và xây nhà. Từ đó, không rõ lý do gì chuyện làm ăn của Đại Gia không thuận lợi, xây nhà xây tường đều sập qua một đêm. Đại Gia phải viện đến một ông thầy cúng từ Sài Gòn ra để giúp… diệt chuột.

Trong sách có cả nhân vật chuột và nhiều nhân vật người, cùng xuất hiện trong nhiều sự kiện, bối cảnh: buôn bán ma túy, buôn bán đất, khai hoang, chuyện tại sân golf, trong văn phòng, trên Internet… Tác giả lồng vào trước các chương những lời khuyến cáo dành cho các đối tượng khác nhau, như “Ai báo chí văn thơ đừng đọc chương này” hay “Ai quá lứa lỡ thì đừng đọc chương này”, khiêu khích tính tò mò của độc giả.

Thế nhưng, theo nhà phê bình Nguyễn Thị Minh Thái, tác phẩm của Hồ Anh Thái không phải để thỏa mãn sự tò mò của độc giả mà là thứ “văn nghĩ” đích thực. “Trong cuốn sách này, nhà văn đã biết cách đánh thức cái nghĩ của người đọc chứ không phải sự tò mò tối tăm. Tôi cho rằng một dân tộc trên đường phát triển cần phải có những quyển tiểu thuyết như thế này. Cái nghĩ của chúng ta bây giờ hiện nằm ở một vùng rất chán nản, đó là bụng”.
“Hồ Anh Thái là một người rất thông minh, dòng chảy chính trong tiểu thuyết này là dòng ý thức châm biếm, giễu nhại, tưởng như ai cũng viết được nhưng người viết được theo cách đó chỉ đếm trên đầu ngón tay thôi”, bà Minh Thái nói.

Để kết luận, nhà phê bình Nguyễn Thị Minh Thái trích dẫn một câu nói của nhà văn Pháp François Rabelais mà bà cho là rất phù hợp với cuốn sách này: “Tôi thích người đọc giống như một con chó thông minh, biết cách đọc sách của tôi bằng cách cắn vỡ cái xương để lấy phần tủy”.

Với ‘SBC là săn bắt chuột’, tác giả cũng hướng đến các độc giả trẻ và bận rộn. Cuốn tiểu thuyết không quá dày (343 trang), văn phong không khó đọc, có thể đọc xong trong một thời gian ngắn, nhưng để lại nhiều suy ngẫm.

Còn nhà thơ Hữu Việt cho rằng đây là tác phẩm nằm trong “giai đoạn hậu Ấn Độ” của Hồ Anh Thái. Có thể trong tương lai ông sẽ bắt đầu “giai đoạn Iran”. Cuốn sách được ông viết trong thời gian ở Iran làm Phó đại sứ trong vòng hơn một năm nay, nhưng lại viết về xã hội Việt Nam đương đại.

Trong khoảng 30 năm cầm bút, nhà văn Hồ Anh Thái đã xuất bản hơn 30 cuốn sách, trong đó có các tiểu thuyết Người và xe chạy dưới ánh trăng; Trong sương hồng hiện ra; Người đàn bà trên đảo; Cõi người rung chuông tận thế; Mười lẻ một đêm; Đức Phật, nàng Savitri và tôi… Ông còn viết truyện ngắn Tiếng thở dài qua rừng Kim Tước; Mảnh vỡ của đàn ông; Tự sự 265 ngày; Bốn lối vào nhà cười…

Các tác phẩm của Hồ Anh Thái đã được dịch ra hơn 10 thứ tiếng bao gồm Mỹ, Pháp, Thụy Điển, Hàn Quốc, Đan Mạch, Ấn Độ… Hiện ông là Phó Đại sứ Việt Nam tại Iran (nhiệm kỳ 5 năm), là tiến sĩ văn hóa phương Đông, thỉnh giảng ở một số trường đại học nước ngoài.

theo Pham Mi Ly
__________________________________________________________

Posted in Văn học | Tagged: , , | Leave a Comment »

Nghệ thuật Việt Nam đang giậm chân tại chỗ?

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Mười 4, 2011

(HNM) – Một giáo sư Mỹ, người có nhiều công trình nghiên cứu về mỹ thuật Việt Nam, khi trả lời phỏng vấn một tạp chí nước ngoài đã nói, đại ý rằng mỹ thuật Việt Nam dường như giậm chân tại chỗ, không bắt kịp thẩm mỹ hiện đại. Giáo sư này cũng cho rằng chặng sau của các họa sỹ thành công là sự đi ngang hoặc đi xuống, vì thế nên giá tranh thấp hơn hàng chục lần so với các họa sỹ Indonesia…

Thực ra không riêng gì mỹ thuật, nhiều loại hình nghệ thuật trong nước đang theo lối mòn. Sân khấu chạy theo thị hiếu bằng việc chọn một kịch bản có cốt truyện éo le, bi thương. Hình thức thể hiện quá cũ, vẫn là lớp lang quen thuộc; trang trí sân khấu quẩn quanh vài cái bục, vài tấm vách. Cứ như thể chẳng ai quan tâm công nghệ ánh sáng, âm thanh ngày nay hoàn toàn có thể giúp đạo diễn tạo ra hiệu quả sân khấu khác hẳn. Điện ảnh cũng chẳng hơn gì. Các hãng phim tư nhân chạy theo dòng phim giải trí. Tất nhiên, không thể trách bởi họ cần thu hồi vốn, nhưng bao nhiêu năm nay có hãng chỉ loay hoay với đề tài đồng tính, có hãng pha trộn tí hài, tí tâm lý nhạt nhẽo vào phim… Tác phẩm làm theo đơn đặt hàng chưa thoát ra được tư duy cũ, không cổ xúy được cái mới, không phê phán cái cũ đến nơi đến chốn. Một số phim tham gia các liên hoan quốc tế… cho vui và để đánh bóng nhà sản xuất hơn là hy vọng về giải thưởng.

Âm nhạc khá hơn. Một số ít nhạc sỹ, ca sỹ ý thức được trách nhiệm đi tìm giá trị thẩm mỹ mới, như nhạc sỹ Quốc Trung, Anh Quân, Lê Minh Sơn, Ngọc Đại… tuy không phải ai cũng thành công thực sự. Cách đây mấy năm, người nghe có vẻ không thích CD “Made in VietNam” của ca sỹ Mỹ Linh, nhưng theo nhiều nhà phê bình âm nhạc thì đó là CD có tầm quốc tế. CD “Đường xa vạn dặm” của nhạc sỹ Quốc Trung cũng là sự sáng tạo, kết hợp giữa âm nhạc hiện đại với âm nhạc dân tộc. Tuy nhiên, số đông nhạc sỹ vẫn quen sáng tác các ca khúc “nịnh” tai khán giả bình dân, lười biếng trong sáng tạo. Nghệ thuật Việt Nam được giới thiệu với công chúng nước ngoài trong các chương trình giao lưu văn hóa chủ yếu vẫn là vốn dân gian như rối nước, hát chèo, dân ca… Tính đến thời điểm này, khán giả yêu điện ảnh nước ngoài hầu như chỉ biết đến đạo diễn Việt kiều Trần Anh Hùng. Cũng chưa có một ca sỹ hay nhóm nhạc nào có thể gây chú ý đặc biệt ở châu Âu…

Kinh tế Việt Nam đã hội nhập sâu rộng với kinh tế thế giới. Trong khi đó, hầu hết các bộ môn nghệ thuật vẫn luẩn quẩn trong ao làng. Nghệ thuật, khi không hướng được người xem, người nghe theo các quan niệm thẩm mỹ mới thì không thể gọi đó là một nền nghệ thuật phát triển.

theo Người Lái Đò
_________________________________________________________

Posted in Âm nhạc, Chuyện hội họa, Mỹ thuật, văn hóa, Điện ảnh | Tagged: , , | Leave a Comment »

Vụ án Nhà báo bị đốt: Nghi vấn về hai bản án của một vụ li hôn

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Tám 14, 2011

Liên quan đến việc nhà báo Hoàng Hùng từng phát hiện hai bản án khác nhau trong cùng một vụ án ly hôn với giá trị tài sản phân chia cực lớn, TAND tỉnh Long An đã cảnh cáo thẩm phán Lê Văn Lắm do có sai phạm trong nghiệp vụ.

Ngày 10/8, ông Lê Quang Hùng, Phó chánh án TAND tỉnh Long An, cho biết trên báo Tuổi trẻ: cơ quan này đã cảnh cáo thẩm phán Lê Văn Lắm do có sai phạm trong nghiệp vụ.
Theo đó, thẩm phán Lắm ký ban hành hai bản án có số trang khác nhau trong cùng một vụ kiện ly hôn. Ông Lắm ban hành bản án đầu tiên có chín trang, khi phát hiện nhầm lẫn, ông Lắm không thu hồi bản án mà phát hành tiếp bản án khác có mười trang. Ngoài ra ông Lắm còn chậm phát hành bản án này gần 20 ngày.

Trước khi mất, nhà báo Hoàng Hùng (PV báo Người lao động) đã từng phát hiện ra một vụ án ly hôn với giá trị tài sản phân chia cực lớn giữa bà Đặng Thị Hoàng Yến (ngụ Q.5, TP.HCM) và ông Jimmy Trần (quốc tịch Mỹ).

Bà Yến và ông Jimmy Trần kết hôn năm 2007 tại Mỹ, sau đó về Việt Nam đầu tư kinh doanh. Đến ngày 16/9/2010, ông Jimmy Trần bị Cơ quan an ninh điều tra (Bộ Công an) khởi tố hình sự về hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tiền của đối tác và công ty.

Tuy nhiên, Jimmy Trần đã trốn về Mỹ ngày 5/7/2010 và hiện đang bị truy nã (Quyết định truy nã số 324/ANĐT ngày 24-9-2010 của Bộ Công an)- báo Người cao tuổi đăng tải thông tin.

Cùng thời điểm này, bà Yến đưa đơn ra tòa xin ly hôn với lý do ông Jimmy Trần có lối sống không lành mạnh, hay bài bạc và quan hệ với nhiều phụ nữ khác.

Mặc dù ông Jimmy Trần không có ở Việt Nam nhưng thẩm phán Lắm vẫn ra quyết định xét xử vụ ly hôn này vào ngày 6/10/2010. Theo kết luận của bản án, toàn bộ khối tài sản khổng lồ của vợ chồng bà Yến bao gồm các bất động sản ở Việt Nam, Mỹ hay bất cứ nơi đâu trên thế giới, cùng đồ kim hoàn, cổ phiếu của nhiều công ty… đều được tòa tuyên xử giao hết cho bà Yến.

Về kết luận phân chia tài sản này ông Lắm nhận định trên báo Dân Việt: giữa bà Yến và ông Jimmy Trần có “thỏa thuận tiền hôn nhân” lập ngày 13/8/2007 tại hạt Harris, Texas, Mỹ và đã thỏa thuận điều này.

Thấy có “vấn đề” trong bản án này, nhà báo Hoàng Hùng lúc còn sống đã đến TAND tỉnh Long An đăng ký làm việc với lãnh đạo tòa để làm rõ nghi vấn về 2 bản án này. Tuy nhiên, chưa đến thời gian hẹn thì ông đã bị sát hại.

Trong một diễn biến khác, trên báo Người cao tuổi cũng đăng tải thông tin, năm 1998 bà Yến từng lập và điều hành một đường dây móc nối vào nội bộ các cơ quan Nhà nước (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Công nghiệp, Văn phòng Chính phủ, Tổng cục Điện lực Việt Nam…) nhằm thu thập tin tức, tài liệu bí mật, cung cấp cho Tập đoàn nước ngoài (ABB) đấu thầu và trúng thầu một số dự án điện lớn của Việt Nam.

Khi kết thúc điều tra, bà Yến và một số đối tượng trong đường dây đã bị A17 (Bộ Công an) đưa vào diện cấm xuất cảnh trong 2 năm (từ 16-10-1998 đến 16-10-2000).

Cũng trên báo này thông tin rằng, bà Yến từng chi tiền tỉ để lôi kéo và mua chuộc cử tri ở 4 huyện của tỉnh Long An.

Trước đó, vào tháng 6/2011, bà Đặng Thị Hoàng Yến, Chủ tịch Hội đồng quản trị Tập Đoàn Tân Tạo đã trúng cử Đại biểu Quốc hội đơn vị bầu cử số 1 của tỉnh Long An với 62,36% số phiếu hợp lệ.

theo Mẫn Chi (tổng hợp)
__________________________________________________________-

Posted in Báo chí, Chuyện pháp luật, Chuyện xã hội | Tagged: , , | Leave a Comment »

“Công viên tàu nhanh”

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Sáu 17, 2011

Một công viên vào loại hiện đại nhất thủ đô – công viên Hòa Bình- mới được khánh thành với chi phí xây dựng hàng nghìn tỷ đồng đang trở thành “bãi đáp” cho những mua bán tình vội vã. Sau những cuộc ngã giá, người ta dắt nhau tiến về phía bụi rậm.

0h30 đêm đầu tháng 6, không khí tĩnh mịch bao trùm khu vực đường dẫn vào công viên Hòa Bình (Từ Liêm, Hà Nội). Dưới ánh đèn cao áp, 4-5 phụ nữ phấn son lòe loẹt bước trên vỉa hè, chốc chốc lại giơ tay vẫy khách.
Thấy chiếc Wave giảm tốc độ, áp sát vào vỉa hè, một phụ nữ áo hai dây, quần soóc ngắn, vứt điếu thuốc đang hút dở, mời chào: “Đi không anh, 50 nghìn tàu nhanh”. Thấy khách còn ngần ngại, chị ta tiến tới nắm lấy tay lái xe và chỉ về phía bãi đất rộng với những bụi cây um tùm bên cạnh công viên Hòa Bình.
Sau cuộc ngã giá chớp choáng cho chuyến “tàu nhanh”, người đàn ông mặc bộ đồ rằn ri, mái tóc dài ngang vai, nhanh chóng dắt chiếc Wave màu xanh cất sâu vào trong bụi cây và đi theo người phụ nữ.
Lối dẫn vào “bãi đáp”, nơi khách và gái mái dâm “mây mưa” là một con đường mòn nhỏ. Đi sâu vào trong lộ ra những khoảng đất trống nằm giữa bụi cây um tùm. Dưới đất, thấp thoáng vài chiếc bao cao su đã qua sử dụng.
Cách nơi gái mại dâm và khách vừa đi vào vài bước chân, một phụ nữ dáng cao gầy, mặc áo hai dây màu trắng bó sát người, phía sau là nam thanh niên đang lững thững bước ra từ trong bụi rậm. Họ vội vã mỗi người một ngả.
Phía bên ngoài nơi đường dẫn vào công viên hiện đại nhất thủ đô, hai gã xe ôm và một phụ nữ trạc 50 tuổi mặc bộ đồ ngủ, tay cầm chiếc áo dài tay phe phẩy đi loanh quanh, chốc chốc lại đảo mắt về phía bụi rậm với vẻ canh chừng.
Đã quen với cảnh này, chị Thu, người bán trà đá trước cổng công viên Hòa Bình cho biết, đêm nào cũng vậy, mấy gái mại dâm đứng tuổi lại dạo quanh khu vực này, bắt được khách “sộp” thì vào nhà nghỉ, dân lao động thì “hành xử” luôn ở bụi rậm. Mấy gã xe ôm bên ngoài làm nhiệm vụ đưa đón và kiêm luôn bảo kê.
“Toàn gái hết đát, bị thải loại từ các quán karaoke, tẩm quất, massage trong phố, đành dạt về đây hành nghề. Mấy cậu đừng có ham hố mà mang bệnh vào người”, chị Thu nhắc khéo mấy thanh niên đang ngồi uống trà đá.
Trao đổi với VnExpress, bà Nguyễn Thị Thanh Thuỷ, Chi cục phó Chi cục Phòng chống tệ nạn xã hội thành phố Hà Nội cho biết, khu vực từ đầu đường Phạm Văn Đồng cho tới chân cầu Thăng Long (Từ Liêm) là tụ điểm mại dâm công cộng trọng điểm. 8 gái “bán hoa” hoạt động ở đây đã được đưa vào Trung tâm lao động xã hội số 2.
Chi cục cũng đã nhiều lần phối hợp cùng cơ quan chức năng tiến hành truy quét các tụ điểm mại dâm trọng điểm ở thủ đô. Gần đây nhất là đêm 17/5, khi kiểm tra trên địa bàn từ đường Phạm Văn Đồng tới chân cầu Thăng Long không phát hiện biểu hiện của hoạt động mại dâm.
“Có thể gái mại dâm mới chuyển tới hoạt động ở gần công viên Hòa Bình”, bà Thủy giải thích và cho biết thêm nhóm người này hoạt động rất tinh vi. Họ được ví như “tảng bèo trôi, nay dạt chỗ này, mai dạt chỗ khác”, nên rất khó phát hiện và xử lý. Có nhiều cô gái ở tỉnh lẻ lên thành phố hoạt động mại dâm theo nhóm, hoặc giả người đi tập thể dục. Có người bán hàng nước vừa môi giới điều khiển gái vừa kiêm luôn bán dâm cho khách mỗi khi có yêu cầu.
Từ đầu năm đến nay, Chi cục Phòng chống tệ nạn xã hội thành phố đã phát hiện và đưa vào Trung tâm lao động xã hội số 2 hàng trăm gái bán dâm. Trong đó nhiều cô bị bắt nhiều lần và có HIV.

Theo Phương Sơn – Hải Đăng
_____________________________________________________________

Posted in Chuyện môi trường, Chuyện pháp luật, Chuyện xã hội, Thuần phong mĩ tục | Tagged: , , | Leave a Comment »

Báo Nga ít đưa tin về tranh chấp Biển Đông

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Sáu 12, 2011

Dịch giả Lê Đỗ Huy nói rằng: “Quan sát truyền thông Nga hai tuần nay, tôi thấy báo Nga chỉ hai lần nhắc tới chuyện Biển Đông”.

Tranh chấp vì dầu mỏ?

“Xung đột bùng phát dưới đáy biển: Giữa Việt Nam và Trung Quốc trầm trọng thêm tranh chấp lãnh thổ vì trữ lượng lớn dầu mỏ trên thềm lục địa” là bài viết trên tuần báo quan sát chính trị – kinh tế Vzgliad của Nga ngày 31/5/2011 điểm lại một cách tương đối khách quan sự việc xảy ra ngày 26/5/2011 tại khu vực Biển Đông.

“Chính quyền Việt Nam đã cáo buộc CHND Trung Hoa cố tình gây căng thẳng tại khu vực biển Đông. Hà Nội đã phản ứng về vụ việc xảy ra mấy ngày vừa qua tại các vùng biển tranh chấp.

Hãng Interfax dẫn lời người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam, bà Nguyễn Phương Nga nhấn mạnh: “Việt Nam kiên quyết phản đối hành động của phía Trung Quốc phá hoại, cản trở các hoạt động thăm dò khảo sát bình thường của Việt Nam trong thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, gây thiệt hại lớn cho tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam”. Tuyên bố cho rằng, sự việc xảy ra là sự “vi phạm nghiêm trọng” chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam đối với thềm lục địa của Việt Nam”.

Bài báo này cũng nhắc tới phát ngôn từ người phát ngôn Bộ Ngoại giao CHND Trung Hoa, bà Khương Du: “Phía Việt Nam đã tiến hành hoạt động dò dầu khí tại vùng biển mà Trung Quốc có quyền tài phán, điều này đã gây thiệt hại cho các lợi ích và quyền tài phán của Trung Quốc”.

Theo bà Khương Du, “Trung Quốc đã nhiều lần bày tỏ sự phản đối của mình về các hoạt động thăm dò địa chất tại các vùng lãnh hải đang tranh chấp, và việc biên phòng Trung Quốc áp dụng các biện pháp trên với tàu của Việt Nam là hoàn toàn hợp pháp”.

Bài báo nhắc lại việc cuối tháng tư vừa qua CHND Trung Hoa và Việt Nam đã thoả thuận sẽ ký Hiệp định về những nguyên tắc cơ bản để giải quyết những bất đồng trên biển. Tuy nhiên, thời hạn việc ký kết chưa được nêu.

Để kết bài viết của mình, tuần báo Vzgliad lưu ý về xung đột ngoại giao giữa Nhật Bản và Trung Quốc.

“Mùa thu năm ngoái (2010) đã xảy ra xung đột ngoại giao nghiêm trọng tại các vùng tranh chấp giữa Trung Quốc và Nhật Bản. Nguyên nhân của vòng xoáy mới của quan hệ căng thẳng giữa hai nước là vụ một tàu đánh cá Trung Quốc bị lính biên phòng Nhật Bản bắt giữ. Thuyền trưởng của tàu đánh cá này bị bắt, và sắp bị phía Nhật đưa ra xét xử.

Bắc Kinh đã đòi Tokyo không những trả tự do cho người Trung Quốc bị bắt giữ, mà còn phải có lời xin lỗi.

Bộ Ngoại giao CHND Trung Hoa nhấn mạnh, “Nếu phía Nhật Bản không trả tự do ngay lập tức và vô điều kiện cho thuyền trưởng tàu Trung Quốc, Trung Quốc sẽ áp dụng những biện pháp đáp trả cứng rắn, và trách nhiệm về việc này sẽ hoàn toàn thuộc về phía Nhật Bản”.

Cuối tháng 9/2010, Bắc Kinh đã bắt giữ bốn người Nhật Bản trên lãnh thổ Trung Quốc, và buộc tội họ chụp ảnh các căn cứ quân sự bất hợp pháp. Sau khi xuất hiện thông tin về việc bắt giữ trên, Tokyo trả tự do cho thuyền trưởng tàu cá Trung Quốc”.

Sắm vũ khí

Báo Tin tức đồng bộ công nghiệp quốc phòng hôm 8/6/2011 đăng bài “Việt Nam lần đầu tiên xác nhận sẽ mua sáu tầu ngầm lớp Kilo do Nga sản xuất”.

Bài viết nhắc tới tuyên bố của Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam Phùng Quang Thanh về việc Việt Nam sẽ mua sáu tầu ngầm Kilo 636. Tuyên bố đưa ra trong phát biểu tại diễn đàn lần thứ 10 Hội nghị – Đối thoại Shangri-la sau khi Hà Nội chính thức phản đối vụ việc ba tàu Trung Quốc cắt cáp tàu Bình Minh 02, thuộc tập đoàn PetroVietnam khi tàu này đang tiến hành thăm dò dầu khí trên thềm lục địa ngày 26/5/2011 tại Biển Đông.

“Như (báo Nga) đã đưa tin, ngày 15/12/2009, trong khuôn khổ chuyến thăm Nga của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Việt Nam đã ký kết hợp đồng mua 6 chiếc tàu ngầm 636 … Tuy nhiên, tuyên bố của ông Phùng Quang Thanh lần đầu tiên xác nhận việc mua bán này” – bài báo nhấn mạnh.

Bài báo cũng điểm lại sự kiện, Bộ trưởng Phùng Quang Thanh gặp người đồng nhiệm Trung Quốc Lương Quang Liệt, để thảo luận các vấn đề tồn tại trong quan hệ hai nước, trong đó có vụ việc nói trên. Cùng lúc, Thứ trưởng quốc phòng Nguyễn Chí Vịnh chính thức tuyên bố Việt Nam sẽ mua các máy bay tiêm kích SU – 30 MK, và các hệ thống phòng không của Nga. Theo ông Nguyễn Chí Vịnh, việc mua bán này thuộc chương trình nâng cao khả năng chiến đấu của bộ đội Phòng không quốc gia. Ông Nguyễn Chí Vịnh nhấn mạnh rằng Việt Nam sẽ sử dụng “mọi phương tiện để bảo vệ chủ quyền quốc gia.

Báo Tin tức đồng bộ công nghiệp quốc phòng của Nga đánh giá, tiềm lực của hải quân Trung Quốc ở biển Đông đã tăng cường đáng kể sau khi (Bắc Kinh) xây dựng xong căn cứ tàu ngầm mới trên đảo Hải Nam, và đưa vào sử dụng tàu sân bay đầu tiên.

“Các tàu ngầm hiện đại sẽ cho phép Việt Nam bảo vệ hiệu quả hơn lợi ích trên biển của đất nước, chống lại hạm tàu mạnh của Trung Quốc” – bài báo nhận định.

Lê Đỗ Huy (biên dịch)
______________________________________________________

Posted in Báo chí, Chuyện pháp luật, Chuyện đất nước, Kinh tế, Quốc phòng các nước, Việt Nam và thế giới | Tagged: , , | Leave a Comment »

Kịch liệt phản đối chiếu phim Lý Công Uẩn, vì sao?

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Sáu 8, 2011

TP – Tin VTV dự định phát sóng bộ phim dài tập Lý Công Uẩn- đường tới thành Thăng Long từ 30-6 đang gây xôn xao dư luận. Cũng có ý kiến cho rằng cần chiếu rộng rãi, mới biết hay dở, để có cơ sở khen chê. Rộng đường dư luận, Tiền Phong đưa ý kiến của GS sử học Lê Văn Lan, người đã có dịp xem phim này.

Thưa GS, vì sao ông phản đối việc phát sóng rộng rãi bộ phim “Lý Công Uẩn – Đường tới thành Thăng Long” thời điểm này?

Không chỉ thời điểm này. Nhưng càng trong thời điểm này, thì càng rõ một vấn đề cơ bản qua các thời điểm là: Thực tế không như công văn của Bộ Văn hóa Thể thao Du lịch (VHTTDL) gửi Đài TH Việt Nam ngày 15-3-2011 cho rằng “phim này chuyển tải cho người xem biết và tự hào về một giai đoạn lịch sử của nước ta”. Qua tất cả các thời điểm, tôi đều không thể tự hào về cách người ta đưa giai đoạn lịch sử của nước ta lên phim như thế này.

Được biết tên của giáo sư có trong danh sách cố vấn cho bộ phim mà chưa được phép của ông?

Ở lần xem thứ nhất, khi thấy tên tôi trên giê-nê-ríc, đề là cố vấn lịch sử, tôi đã trực tiếp phản đối với ông Trịnh Thanh Sơn, Giám đốc hãng Trường Thành, đơn vị sản xuất phim này. Đồng thời tôi viết hai bài báo nói rõ chuyện đó, rằng tôi có được biết phim làm lúc nào và làm ở đâu để mà nhận việc cố vấn.

Thưa, vậy đến nay tên của giáo sư có còn trên giê-nê-ric?

Họ vẫn đề tên tôi với tư cách Người tu chỉnh kịch bản. Đáng tiếc, những điều tôi đề nghị tu chỉnh thì họ không tiếp thu.

Giáo sư có thể giải thích rõ vì sao không nên chiếu bộ phim này?

Thứ nhất, sự thật không như công văn của Bộ VHTTDL đã viết: “Về cơ bản, tinh thần lịch sử trong phim được tôn trọng”. Xin nêu ví dụ: Cuộc kháng chiến của dân tộc ta chống quân Tống xâm lược lần thứ nhất (980 – 981) là niềm tự hào của tất cả những người Việt chân chính, nhưng phim lại chỉ nói về cuộc kháng chiến này dưới dạng một trận đánh ở một ngọn núi ất ơ nào đó tên là núi Chu Tước. Ở lần xem phim thứ nhất, tôi xem thấy trận đánh này diễn ra cảnh Thiền sư Vạn Hạnh khuyên và trao cẩm nang cho anh hùng dân tộc Lê Hoàn, nói rằng: “Không cần đánh! Giặc sẽ tự tan”. Và trên phim, vai Lê Hoàn còn ra lệnh: “Kẻ nào bàn đánh, chém!”.
Đến lần xem phim thứ hai và thứ ba (tức là lần duyệt cuối), sau ý kiến phản đối kịch liệt của tôi, họ đã sửa lại nhưng vẫn kéo toàn bộ cuộc kháng chiến oanh liệt của dân tộc thời đó vẫn vào trận núi Chu Tước ất ơ ấy. Lại còn cho ông Vạn Hạnh đón đường hành quân ra trận của ông Lê Hoàn và khuyên: “Chớ sát sinh nhiều”. Vai diễn Lê Hoàn thì thể hiện sự băn khoăn về lời khuyên trận mạc này.
Nói chung, tinh thần và cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của dân tộc ta oanh liệt là thế, nhưng Đường tới thành Thăng Long thể hiện rất mờ nhạt, chủ yếu là đấu đá, sát phạt nội bộ, chém giết, được tô đậm bằng những trường đoạn rất rùng rợn. Có nhân vật Hạng Lang sau khi đánh nhau với anh ruột là Đinh Liễn, đã chết với những mũi chông cắm xuyên từ gáy sang bên mặt, rất rùng rợn.

Lê Hoàn- nhân vật lịch sử chính của giai đoạn này thể hiện như thế nào trong phim, thưa giáo sư?

Mọi người Việt Nam chân chính đều hiểu và tôn vinh Lê Hoàn là anh hùng dân tộc. Hơn nữa, đây là nhà thủy lợi đầu tiên với việc đào kênh nhà Lê, bây giờ còn sử dụng. Trong phim, Lê Hoàn hiện ra như một ông vua có lối sống xa xỉ, chỉ biết bắt dân xây dựng vườn ngự uyển, không cần biết đến những lời can gián, thậm chí còn trừng phạt Lý Công Uẩn vì dám ngăn vua xây dựng những công trình phục vụ cho việc ăn chơi xa hoa.
Lê Hoàn còn hiện ra như một ông vua nhu nhược, đi kinh lý thì để cho giặc cỏ bắt được. Rồi sa thải các trung thần. Tóm lại, một ông vua không đúng như lịch sử đã ghi chép và các nhà sử học xưa nay đã nhận định và tôn vinh.

Còn những nhân vật lịch sử khác? Thái hậu Dương Vân Nga chẳng hạn?

Tôi và một số nhà nghiên cứu đang được dòng tộc họ Dương mời làm hội thảo khoa học về các nhân vật họ Dương trong lịch sử. Tôi sợ rằng dòng tộc họ Dương sẽ có thái độ phản kháng dữ dội khi phim này được chiếu trên sóng truyền hình quốc gia với hình tượng Dương Vân Nga ủy mị, sướt mướt, treo cổ tự tử khi được Lê Hoàn tỏ tình. Trong khi chính sử chép bà là người thông tuệ sắc sảo và quyết đoán trong những tình huống cam go.
Chi hậu Đào Cam Mộc hiện lên trong phim, từ đầu chí cuối là một ông tướng võ biền, cha của một ông tướng trẻ khác, cũng chỉ suốt ngày đòi thách đấu với Lý Công Uẩn. Khi được giao việc hộ vệ Lê Đại Hành tuần du thì lại ngơ ngẩn, sơ suất, để cho vua của mình bị giặc cỏ bắt sống. Trong khi đó, mọi người đều biết Đào Cam Mộc là quan Chi hậu, tức là người quản mọi việc trong nội cung, và quan văn.
Tóm lại, những nhân vật lịch sử trong phim đều bị bóp méo làm cho sai lệch đi. Điều này rất nguy hiểm, không chỉ vì nó là xuyên tạc lịch sử trong một tác phẩm nghệ thuật mà hơn thế, qua đây, việc giáo dục truyền thống anh hùng của dân tộc đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng.

Các sự kiện lịch sử quan trọng trong giai đoạn này thì sao?

Một sự kiện quan trọng bậc nhất là Thái tổ Lý Công Uẩn lên ngôi. Phim này không chỉ gọi lên ngôi là “đăng cơ” (từ của phim Trung Quốc hoàn toàn). Rành rành sử viết Lý Công Uẩn lên ngôi ở Hoa Lư, được triều đình đồng thuận, nhưng trên phim thì Lý Công Uẩn lên ngôi ở một ngôi chùa Trung Quốc!

Trang phục của phim là đề tài được bàn luận nhiều. Cụ thể trang phục của Lý Công Uẩn ra sao?

Không chỉ trang phục của nhà vua mà của văn võ bá quan và trăm họ đều rất Trung Quốc. Rồi thì cảnh chùa chiền, cung điện, nhà cửa, ngựa xe, binh khí cũng đều rất Trung Quốc.

Tóm lại đó là những cảnh trên phim, ở lần duyệt cuối cùng phải không ạ? Và khán giả sẽ được xem đúng như thế?

Vâng! Đúng thế. Chính vì thế tôi mới kiên quyết phản đối việc chiếu bộ phim này ở các rạp và trên sóng truyền hình quốc gia cũng như các đài địa phương. Tôi tin chắc rằng mọi người cũng như tôi, không thể “tự hào” về mình và tổ tiên của mình, ở một giai đoạn lịch sử quan trọng mà lại được làm “rất Trung Quốc” như thế này.

theo Nguyễn Xuân Diện
(đầu đề do chúng tôi đặt)
_______________________________________________________

Posted in Chuyện lịch sử, Hà Nội nghìn năm, Điện ảnh | Tagged: , , | Leave a Comment »

Vụ đắm tàu Dìn Ký: Gia đình nạn nhân Trung Quốc đề nghị khởi tố

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Năm 30, 2011

Đức Tâm

Thân nhân của 4 người Trung Quốc gặp nạn trong vụ đắm tàu Dìn Ký vừa gửi đơn lên Tổng lãnh sự quán Trung Quốc tại TP.HCM nhờ can thiệp, trợ giúp và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các nạn nhân.

Trong lá đơn, thân nhân của 4 người Trung Quốc bao gồm Zhuo Ying Hua, Jiang Li, Guo Dong Hui, Guo De Cai đề nghị xử lý hình sự, khởi tố chủ doanh nghiệp tư nhân Dìn Ký vì đã có hành vi đưa vào sử dụng phương tiện giao thông không đăng ký, hết hạn đăng kiểm, kém chất lượng gây hậu quả nghiêm trọng.

Đồng thời các gia đình bị hại cũng yêu cầu phong tỏa toàn bộ tài sản, cấm việc mua bán chuyển nhượng tài sản, thay đổi đại diện pháp luật, mua bán chuyển nhượng cổ phần… để đảm bảo trách nhiệm, nghĩa vụ giải quyết tổn thất và bồi thường dân sự cho người bị nạn.

Trước đó, gia đình 4 nạn nhân cũng đã gửi đơn lên Viện KSND tỉnh Bình Dương, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Bình Dương yêu cầu nhanh chóng giải quyết vụ việc.

Luật sư Hà Hải (Đoàn Luật sư TP.HCM) sẽ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho thân nhân 4 nạn nhân Trung Quốc.

Vào sáng 28/5, Sở giao thông vận tải Bình Dương đã có quyết định đình chỉ hoạt động bến khách tại khu du lịch xanh Dìn Ký (Bình Nhâm, Thuận An, Bình Dương). Đồng thời ra quyết định đình chỉ hoạt động đối với chiếc tàu 2 tầng dùng làm khách sạn nổi tại Khu du lịch Dìn Ký. Có thể trong tuần sau các cơ quan chức năng sẽ tiến hành họp bàn tính đến biện pháp cưỡng chế, buộc tháo dỡ phần nhà hàng nổi rộng hơn 200m2 lấn chiếm lòng sông Sài Gòn.

_____________________________________________

Posted in Chuyện du lịch VN, Chuyện pháp luật, Kinh tế | Tagged: , , | Leave a Comment »

Xã hội đang quay lưng lại với văn chương?

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Năm 29, 2011

– Năm nay, chưa đến 5% số hồ sơ đăng ký dự thi đại học khối C. Điều đó cho thấy sự báo động đỏ về mất cân bằng trong xã hội. KH&ĐS đã có cuộc trao đổi với GS Phong Lê, nguyên viện trưởng Viện Văn học về vấn đề này.

Ngộ độc bởi không khí kiếm tiền

Ông nghĩ gì trước việc khối C bị quay lưng lại như thế?

Trước hết là buồn. Buồn vì sự xuống cấp của giáo dục và văn hóa. Chỉ nói riêng với môn văn thôi, việc dạy và học trong nhà trường từ lâu rồi đã gây nhiều băn khoăn, lo lắng. Học thì căng thẳng mà hiệu quả thì thấp. Tất cả chỉ lo đối phó với thi cử. Sách giáo khoa thì nặng vô cùng và không chọn những cái đích đáng, cập nhật, không hướng vào giáo dục thẩm mỹ và các giá trị văn chương đích thực. Học văn rất ít hứng thú.

Không riêng gì phổ thông mà đại học cũng thế. Và một khi xã hội quay lưng lại với văn chương nghệ thuật thì tức là cái nền móng văn hóa và đạo đức của nó bị rệu rã. Điều đó cho thấy sự mất cân bằng trong xã hội. Một xã hội lành mạnh (chưa cần phải phát triển cao) là một xã hội cân đối giữa vật chất và tinh thần, giữa kinh tế và văn hóa. Một xã hội như thế sẽ tạo điều kiện cho mỗi người được làm theo nguyện vọng của mình.

Nhưng nếu nguyện vọng của nhiều người hiện nay là kiếm được nhiều tiền?

Sự không bình thường là ở chỗ đó. Chúng ta đang phải sống trong môi trường nhiễm độc bởi không khí kiếm tiền, làm giàu và tiêu tiền… Khi mà một vé xem ca nhạc là 4 triệu đồng, bằng 1 tháng lương hưu của một giáo sư đại học. Đó là sự bất công, là nghịch lý đến khó hiểu. Với một xã hội như thế tất yếu sẽ tạo nên tâm lý phải đi kiếm tiền. Vào tài chính, ngân hàng thì lương 10 – 20 triệu đồng/tháng, còn vào sư phạm với lương 2 – 3 triệu đồng mà xin việc lại khó thì tất nhiên ai muốn vào. Điều đó tạo ra trong xã hội tâm lý không bình thường chút nào và nó hủy hoại tất cả những ước muốn lành mạnh và trong sáng.

Nhưng đó là tất yếu của kinh tế thị trường?

Kinh tế thị trường phải trải qua những cái đó. Tất nhiên, không thể coi nhẹ đồng tiền. Đồng tiền là phương tiện để phát triển xã hội. Không ai lại không khuyến khích kiếm tiền lương thiện. Phải có tiền thì xã hội mới giàu có. Nhưng nếu biến nó thành mục đích cho từng cá thể thì sẽ gây tội ác vì người ta phải kiếm tiền bằng mọi giá.

Nếu là tất yếu thì tức là ta buộc phải chấp nhận?

Kinh tế thị trường sẽ đưa đến như thế nhưng phải có cách kiềm chế chứ nếu buông thả, nó sẽ như con ngựa bất kham. Chính do nền tảng tinh thần và văn hoá không lành mạnh mới tạo ra như thế. Sự quay lưng lại với khối C cũng là cái hỏng của giáo dục, chứ không phải tự nhiên mà thế. Muốn người ta vào những ngành này, anh phải có các chính sách, chế độ, cách khuyến khích về lương, học bổng, điều kiện làm việc… thì mới cân bằng được. Cân bằng rồi con người mới trở lại với cái khả năng của người ta. Về sâu xa là phải có điều tiết vĩ mô. Phải có một chiến lược, có tầm đón xa cho sự phát triển.

Bà mẹ không bị sức ép về kinh tế

Còn trong mỗi gia đình, chúng ta có thể làm được gì?

Trong gia đình tôi, con cháu thích cái gì, chỉ cần nó bộc lộ khuynh hướng thôi là mình cho nó theo cái đó ngay. Đứa trẻ có ao ước là đứa trẻ tốt. Đi học là phải yêu thích chứ không phải bị thúc ép. Vẫn có nhiều gia đình có học và quan niệm không phải sống cho sướng mà là sống cho tốt. Họ luôn tạo điều kiện cho con cái được làm cái mà chúng muốn mà không hề bị áp lực bởi việc kiếm tiền.

Tôi biết một em học sinh giỏi văn, yêu văn, hiện đang học chuyên văn trường Amsterdam. Mẹ em thì muốn em thi sư phạm, nhưng em đó lại quyết định thi kinh tế.

Tôi rất cảm kích về bà mẹ đó. Bà mẹ không bị sức ép về kinh tế, buộc con mình sau này phải làm việc này việc kia để thoát nghèo. Con thích văn, cho học văn, nhưng khi con đổi hướng, thì vẫn tôn trọng quyết định của nó.

Vấn đề là ở chỗ em ấy thích văn, nhưng không theo nghề văn, mà thi kinh tế để có một công việc khác tốt hơn.

Cô bé này, có thể vì thấy xung quanh người ta chăm lo kiếm tiền nhiều quá nên muốn theo một nghề như thế. Trong hoàn cảnh này thì cũng phải tôn trọng em. Nếu có thể theo một ngành khác mà vẫn nuôi nguyện vọng làm văn chương thì hoàn toàn tốt. Tất nhiên vẫn có những em rất có bản lĩnh, tin vào bản lĩnh thì có khó đến mấy, khổ đến mấy em ấy cũng theo.

Nhưng tôi vẫn thấy tiếc, vì nếu theo nghề văn em ấy có thể phát triển năng lực của mình tốt hơn.

Không có gì phải tiếc. Tư duy về văn chương là tư duy về hình tượng, nhạy cảm, có thể diễn đạt mọi thứ một cách rất nhạy cảm. Được như thế thì làm bất cứ công việc gì cũng vẫn hay hơn những người không có năng lực này. Nhiều người vẫn có thể làm một nghề khác mà vẫn viết văn chương giỏi.

Nhiều cái lạ, nhưng chưa mới

Nhưng dường như chính vì không được đi đến cùng đam mê nên ngày nay ta thiếu vắng những nhà văn giỏi?

Có thể đào tạo một cô giáo dạy văn, một giáo sư về văn chương nhưng không đào tạo được nhà văn, nhà thơ. Cái đó là thiên bẩm và do trường đời dạy.

Thời nào cũng có những nhà văn giỏi. Nhưng nhà văn trẻ bây giờ khác trước vì họ cố đi tìm sự khác nhau. Trước kia các nhà văn lớn tôn trọng nhau, tạo ra một từ trường chung: Nam Cao – Vũ Trọng Phụng tạo ra một từ trường văn học hiện thực, Nhất Linh- Khái Hưng là Tự lực văn đoàn. Bây giờ nhà văn trẻ ai cũng đi tìm cái lạ, vì xã hội khuyến khích cái đó. Năng lực thì cũng có nhưng hăm hở đi tìm cái lạ nhiều quá, ít đi tìm cái đồng cảm chung nên không thể tạo được vang hưởng trong công chúng. Vì thế, không tạo thành phong cách, trường phái, chỉ làm cho cái dòng chảy đã có cồn lên rồi đâu lại trở lại đấy, chứ không tạo nên dòng chảy mới. Tình hình văn học từ năm 1995 đến nay chưa tạo được cái gì mới, mặc dù có nhiều cái lạ.

Ông có thấy mình may mắn vì được làm và thành công trong lĩnh vực mà mình say mê?

Hồi bé tôi đã mê văn, nhất định phải theo ngành này, chứ không vào Bách khoa hay Y dược. Cũng không nghĩ sau khi ra trường thì sẽ làm gì, chỉ biết mình sẽ là người viết văn, như những nhà văn mà mình yêu thích… Chứ không nghĩ phải có chức này, chức kia hoặc tiền lương phải thế này, thế khác. Đúng là mình cũng may mắn thật, vì vừa ra trường là được nhận luôn về Viện Văn học, được làm việc với các nhà văn lớn như Đặng Thai Mai, Hoài Thanh…

Xin cảm ơn ông về buổi trò chuyện này!

[GS Phong Lê tên thật là Lê Phong Sừ, sinh năm 1938 tại Hà Tĩnh. Sau khi tốt nghiệp khoa Ngữ văn, Đại học Tổng hợp Hà Nội khoá đầu tiên năm 1959, ông về công tác tại Viện Văn học. GS Phong Lê là nhà nghiên cứu, phê bình văn học hiện đại, nguyên viện trưởng Viện Văn học. Ông được nhận Giải thưởng Nhà nước về Khoa học và Công nghệ năm 2005.]

Nhật Minh (Thực hiện)
(đầu đề do chúng tôi đặt)
_______________________________________________________________

Posted in Chuyện xã hội, Chuyện đất nước, Giáo dục Việt Nam, Kinh tế, Văn học | Tagged: , , | Leave a Comment »