NGÔN NGỮ & VĂN HÓA

CHÚC MỪNG NĂM MỚI

Archive for the ‘Chuyện tôn giáo’ Category

Những lời tiên đoán sai

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Năm 22, 2011

Cuối cùng thì ngày tận thế đã không xảy ra, mặc dù đã có quá nhiều lời đồn đoán. Giám đốc đài thiên văn PAGASA ở Philippines là Mario Raymundo bác bỏ lời tiên đoán rằng hôm nay (21/5/2011) là ngày tận thế. Đây không phải là lần đầu các nhà tiên tri đưa ra một lời tiên đoán sai.

Phải đến năm 2012?

Trước đó, ông Harold Camping 89 tuổi – Phụ trách đài phát thanh Công giáo Family ở Mỹ – Một học giả nghiên cứu về Phúc âm dự đoán, 21/5/2011 là ngày tận thế.

Đoạn băng tiên đoán được tải trên mạng Youtube hồi năm ngoái. Ông ước tính, khoảng 207 triệu người (3% dân số Trái đất) sẽ “bay” khỏi địa cầu vào hôm nay. Và 5 tháng tiếp theo sẽ liên tục xảy ra động đất và thiên tai cho tới ngày 21/10/2011, ngày trên Trái đất không còn sự sống.

Đáp lại thông tin trên, Giám đốc đài thiên văn PAGASA Mario Raymundo bác bỏ bởi lẽ không có hiện tượng thiên văn nào xảy ra trong ngày hôm nay.

Ông cho biết, lời tiên đoán của ông Harold Camping chỉ là một biến thể của lời tiên đoán ngày tận thế vào năm 2012 theo lịch của người Maya.

Những tiên đoán sai lầm nổi tiếng

1. Dự báo về thị trường chứng khoán Mỹ năm 1929

Irving Fisher là một chuyên gia kinh tế nổi tiếng của thế kỷ 20, được nhà kinh tế học đoạt giải Nobel Milton Friedman xem là “nhà kinh tế học vĩ đại nhất mà nước Mỹ từng sản sinh”. Tuy nhiên, vào năm 1929, Fisher đã đưa ra một dự báo khiến uy tín của ông bị ảnh hưởng nghiêm trọng trong phần đời còn lại.
Ngay trước ngày Phố Wall sụp đổ, Fisher dự báo: “Giá cổ phiếu có vẻ như đã đạt tới một mặt bằng cao bền vững”. 72 giờ đồng hồ sau đó, giá cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Mỹ đồng loạt bị nhấn chìm.

2. Dự báo về sự cố Y2K

Khi năm 2000 đến gần, các chuyên gia trong lĩnh vực công nghệ thông tin lo ngại rằng, hệ thống máy tính toàn cầu sẽ tê liệt khi không phân biệt được đó là năm 2000 hay năm 1900. Cơ sở của mối lo này là con số hiển thị năm khi đó chỉ được viết bằng 2 số cuối, chẳng hạn 98 thay vì 1998.
Những dự báo “hoảng hồn” đã được đưa ra, chẳng hạn dữ liệu cá nhân bị thâu tóm, sự hỗn loạn về dữ liệu sẽ gây thiếu hụt nguồn cung thực phẩm, các tên lửa sẽ tự động phóng đi… Biên tập viên Edmund X. DeJesus của tạp chí công nghệ BYTE tuyên bố: “Y2K sẽ là cuộc khủng hoảng chưa từng có tiền lệ trong lịch sử loài người”. Tuy nhiên, năm 2000 đã “trôi qua trong bình yên”.

3. Dự báo nước Mỹ sẽ sụp đổ vào năm 2010

Vào năm 1998, cây bút chính trị người Nga Igor Panarin viết trên tờ Wall Street Journal rằng, nước Mỹ đang đứng bên bờ vực một cuộc nội chiến, mà kết quả là những bang giàu có hơn sẽ chiếm lĩnh nguồn thu thuế của chính phủ liên bang và tách ra khỏi hợp chủng quốc.
Bài báo này dự báo, đến năm 2010, nước Mỹ sẽ bị tách ra làm 6 và mỗi phần chịu sự thống lĩnh của một cường quốc mới, gồm Trung Quốc, Nhật Bản, Mexico, Canada, EU và Nga.

4. Dự báo chỉ số Dow Jones sẽ đạt mốc 36.000 điểm

Vào năm 1999, một cuốn sách của hai tác giả James Glassman và Kevin Hassett dự báo chỉ số Dow Jones của thị trường chứng khoán Mỹ sẽ chạm mức 36.000 điểm trong vài năm sau đó. Thời điểm cuốn sách được xuất bản cũng là lúc không ai lường trước được việc bong bóng công nghệ ở Mỹ sắp nổ tung. Cuốn sách khuyến nghị giới đầu tư mua cổ phiếu.
Đáng buồn thay, dự báo này đã không trở thành hiện thực. Cuốn sách này hiện được bán trên Amazon.com với giá chỉ 1 xu Mỹ/cuốn.

5. Dự báo về mua sắm trên mạng

Năm 1966, tạp chí Time nổi tiếng đưa ra một dự báo rất táo bạo rằng: “Mua sắm từ xa, mặc dù là khả thi, sẽ chẳng đi đến đâu, vì phụ nữ thích ra khỏi nhà, thích tự khuân đồ, thích thay đổi quyết định”. Tuy nhiên, vào năm 2010, nghiên cứu của hãng Forrester Forecast ước tính đã có khoảng 173 tỷ USD được người Mỹ chi cho mua sắm trực tuyến.

6. Dự báo về truyền hình

Một cuộc thăm dò do hãng A.C. Nielsen thực hiện năm 2010 cho biết, người Mỹ dành bình quân 5 giờ đồng hồ mỗi ngày để xem TV, nhiều hộ gia đình có nhiều hơn một chiếc TV để các thành viên đều được xem chương trình mình yêu thích. Tuy nhiên, vào năm 1946, nhà làm phim Darryl F Zanuck không thể hình dung được là đến lúc TV lại được ưa chuộng đến thế.
“TV sẽ không thể duy trì chỗ đứng trên bất kỳ thị trường chỉ sau 6 tháng thâm nhập. Mọi người sẽ nhanh chóng chán ngấy với việc dán mắt vào TV mỗi tối”, Zanuck nhận định khi đó. Không chỉ có Zanuck, một bài báo trên tờ New York Times năm 1939 cũng cho rằng: “Vấn đề của TV là người xem phải dán mắt vào một màn hình, và người Mỹ sẽ không có thời gian cho việc này”.

7. Dự báo về thư tên lửa

Arthur Summerfield là Bộ trưởng Bộ Bưu chính Mỹ dưới thời Tổng thống Dwight D. Eisenhower. Ông nổi tiếng vì dự báo đưa ra năm 1959: “Trước khi con người đặt chân lên mặt trăng, thư từ sẽ được chuyển tới nơi cần đến trong vòng chỉ vài giờ đồng hồ nhờ tên lửa dẫn đường. Chúng ta đang ở trước ngưỡng cửa của thư tên lửa”.
Cùng năm đó, ngành bưu chính Mỹ thực hiện lần thử nghiệm đầu tiên và cũng là cuối cùng đối với thứ gọi là thư tên lửa. Một tên lửa đã được phóng đi từ bờ biển Florida tới căn cứ hải quân Mayport. Thời gian chạm đích của tên lửa này là 22 phút và 2 lá thư trên đó đã đến nơi an toàn. Tuy nhiên, chương trình này đã không bao giờ được thực hiện.

8. Dự báo của Mother Shipton

Vào thế kỷ 15, nhà tiên tri lừng danh Mother Shipton của Anh đã dự báo thế giới sẽ sụp đổ vào năm 1881. Tuy nhiên, năm 1881 đã trôi qua mà không có điều gì xảy ra. Mặc dù vậy, dự báo này không hề làm uy tín của Mother Shipton bị tổn hại.

9. Dự báo về năng lượng hạt nhân

Winston Churchill là Thủ tướng Anh thời Thế chiến II, được coi là một trong những nhà lãnh đạo thời chiến lừng lẫy nhất của thế kỷ 20. Tuy nhiên, ông lại tỏ ra “kém hiểu biết” về năng lượng hạt nhân. Vào năm 1939, khi công nghệ hạt nhân đang được thử nghiệm để sử dụng cho các loại vũ khí tương lai, Churchill nói: “Năng lượng hạt nhân có thể hiệu quả như các loại chất nổ chúng ta có hiện nay. Tuy nhiên, loại năng lượng này ít có khả năng gây ra nguy hiểm lớn hơn”.
6 năm sau dự báo trên, những quả bom nguyên tử đầu tiên dội xuống các thành phố Hiroshima và Nagasaki của Nhật, làm hàng trăm ngàn người thiệt mạng.

10. Dự báo về Internet

Robert Metcalfe là người sáng lập hãng điện tử kỹ thuật số 3Com, là một giáo sư thuộc Đại học Texas, có bằng tiến sỹ khoa học của Đại học Havard. Tuy nhiên, vào năm 1995, con người khả kính này đã đưa ra dự báo cho rằng, Internet sẽ sụp đổ vào năm 1996. Khi đó, Metcalfe thậm chí còn hứa rằng, sẽ “ăn” những từ ông đã nói ra nếu dự báo này là sai.
Đến năm 1997, tại Hội nghị WWW Quốc tế, ông đã nuốt trang tạp chí có in những lời dự báo trên của mình vào bụng, ngay trước sự chứng kiến của các đại biểu tham dự hội nghị.

11. Dự báo về con tàu Tinanic

Đã gần 100 năm trôi qua kể từ khi con tàu sang trọng Titanic bị đắm. Không ít người đã hối tiếc về dự báo mà họ đã đưa ra trước chuyến đi định mệnh của con tàu này.
Thuyền trưởng Titanic, ông Edward J. Smith, từng nói: “Tôi không nghĩ là sẽ có vấn đề sống còn gì xảy ra với con tàu này. Kỹ thuật đóng tàu hiện đại không cho phép điều đó xảy ra”. Phó chủ tịch Phillip Franklin của hãng đóng tàu White Star Line, công ty đóng tàu Titanic, thì phát biểu: “Sẽ không có chuyện Titanic đắm. Con tàu này không thể đắm”.

12. Dự báo về ban nhạc The Beatles

Suốt 50 năm qua, ban nhạc The Beatles vẫn được coi là một tượng đài vĩ đại trong làng nhạc thế giới. Tuy nhiên, cũng có không ít người ghét ban nhạc này. Chẳng hạn, vào năm 1964, người sáng lập tờ National Review là William F. Buckley đã mô tả các thành viên ban nhạc này là “xấu tới mức khó tin, chẳng hiểu gì âm nhạc, thiếu nhạy cảm trước sự thần kỳ của nghệ thuật, và đều xứng đáng bị xem là những kẻ chống lại âm nhạc”.
Vào năm 1962, hãng Decca Records đã từ chối ghi âm cho The Beatles và còn nói: “Chúng tôi không ưa nhạc của họ, nhạc guitar đang hết thời”. Tuy nhiên, dự báo sai nổi tiếng nhất về The Beatles thuộc về Ray Bloch, Giám đốc âm nhạc của The Ed Sullivan Show, người nói: “Điểm khác biệt duy nhất của ban nhạc này là mái tóc, tôi cho là như vậy. Tôi cho họ 1 năm để tồn tại”.

13. Dự báo về vụ Trân Châu cảng

Trước khi nước Mỹ tham gia vào Thế chiến II, Nhật Bản đã chiếm lĩnh khu vực châu Á. Mục tiêu tiếp theo của người Nhật khi ấy là Philippines, nhưng quân đội Mỹ đang đóng quân ở đó, nên Nhật không thể tấn công nếu không khiêu khích được phản ứng quân sự của phía Mỹ. Do vậy, Nhật Bản đã quyết định đánh phủ đầu vào căn cứ hải quân của Mỹ ở Trân Châu cảng tại Hawaii.
Trước trận này, hầu hết người Mỹ không thể hình dung ra được một vụ tấn công vào hạm đội Hải quân của mình. Tình báo Mỹ đã có thông tin về việc người Nhật “sắp làm một việc gì đó”, không rõ là ở đâu và khi nào. Nhưng để trấn an dư luận, Bộ trưởng Bộ Hải quân Mỹ khi đó là Frank Knox đã tuyên bố vào ngày 4/12/1941 rằng: “Cho dù điều gì xảy ra, Hải quân Mỹ cũng sẽ không rơi vào thế bị động”. Ba ngày sau, nổ ra trận chiến Trân Châu cảng.

(tổng hợp)
_______________________________________________________

Advertisements

Posted in Chuyện tôn giáo, Chuyện thiên văn học, Khoa học & Công nghệ, Thế giới tự nhiên, Tin tức nổi bật | Tagged: , , | Leave a Comment »

Mường Nhé có bình yên?

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Năm 10, 2011

Người dân đã về nhà

Theo BBC, nguồn chức sắc tôn giáo cho hay người tham gia bạo động tại Mường Nhé, Điện Biên, đã trở về nhà.

Mục sư Nguyễn Hữu Mạc, Hội trưởng Hội thánh Tin Lành miền Bắc, nói với BBC rằng thông tin cập nhật mà hội thánh nhận được từ nhân sự tại Mường Nhé cho hay người tham gia sự kiện mới rồi, mà đa số là tín đồ Tin Lành, đã “giải tán về nhà”.

“Thế nhưng, chúng tôi cũng được biết tình hình chưa thật sự ổn định và cuộc sống của họ chưa quay trở lại hoàn toàn bình thường.”

Mục sư Mạc không cho biết thêm chi tiết.

Được biết các tín đồ Hmong tham gia vụ bất ổn không có liên quan tới Hội thánh Tin Lành đã chính thức được Nhà nước công nhận, mà đa phần là theo đạo Vàng Chứ, một phiên bản của Tin Lành.

Họ đã được khuyến cáo tập trung tại bản Huổi Khon, xã Nậm Kè, huyện Mường Nhé để đợi Chúa trời.

Mục sư Nguyễn Hữu Mạc cũng nói ông đã nhận được thông tin về thương vong trong các tín đồ, nhưng “chưa chắc chắn và đang đợi kiểm chứng”.

Truyền thông nhà nước không nói tới các vụ bắt giữ và mới chỉ đưa tin một trẻ em ốm bệnh tử vong.

BBC đã có phỏng vấn với ông Giàng A Dình, chủ tịch huyện Mường Nhé. Ông Giàng A Dình đã khẳng định thực tế xảy ra lộn xôn ở huyện ông, nhưng khôn g có thông tin về những con số cụ thể.

Các hội thánh ở tỉnh Điện Biên

Thống kê chính thức cho hay trong địa bàn tỉnh Điện Biên có ba hội thánh hoạt động mạnh.
Trong đó, Hội thánh Tin Lành Việt Nam hoạt động ở 109 bản, 24 xã thuộc 5 huyện với 3.749 hộ, tổng cộng 22.022 tín đồ.

Bên cạnh đó là Hội thánh Liên hữu Cơ đốc miền Nam hoạt động ở huyện Điện Biên Đông và Hội thánh Liên đoàn truyền giáo Phúc âm Ngũ tuần ở huyện Mường Chà.

Đại diện Hội thánh Phúc âm Ngũ tuần nói với BBC họ đã căn dặn tín đồ không tham gia vụ Mường Nhé.

Mấy ngày nay, báo Việt Nam đăng một số bài đả phá đạo Vàng Chứ, được gọi là “tà đạo lợi dụng và xuyên tạc đạo Tin Lành”.

Phó Thủ tướng Việt Nam Trương Vĩnh Trọng, Trưởng ban Chỉ đạo Tây Bắc của Chính phủ, đã có mặt ở nơi xảy ra bạo động của người Hmong tại bản Huổi Khon, xã Nậm Kè, Mường Nhé hôm thứ Bảy 07/05.

Vụ việc được giải quyết trong hòa bình

“Mặc dù đây là vụ tụ tập đông người, gây rối, nhưng vẫn được giải quyết trong hòa bình. Tất cả đồng bào bị lôi kéo, dụ dỗ đều đã trở về quê quán”, Phó thủ tướng Trương Vĩnh Trọng, Trưởng ban chỉ đạo Tây Bắc cho biết.

Nguyên nhân của vụ việc này theo Phó thủ tướng có nhiều, như trình độ của một số người còn hạn chế; do luận điệu tuyên truyền của kẻ xấu… một số người nhẹ dạ, cả tin, hiếu kỳ đã nghe theo. Tuy nhiên, khi các cơ quan chức năng làm rõ những luận điệu tuyên truyền sai trái thì đồng bào đã tự trở về địa phương.

Phó thủ tướng cho biết đã chỉ đạo Đảng bộ, chính quyền huyện Mường Nhé cần tiếp tục gặp gỡ, chia sẻ vui buồn, giúp đồng bào hiểu rõ những luận điệu, âm mưu của kẻ xấu để từ nay trở đi, không nghe theo luận điệu này nữa mà tin tưởng vào thông tin chính thống của các cấp chính quyền.

Phó thủ tướng cũng yêu cầu chính quyền địa phương bảo đảm đời sống, không để đồng bào bị đói; quan tâm, chăm sóc sức khỏe, tạo điều kiện cho con em đồng bào đi học, nhất là con em những người nhẹ dạ cả tin bị dụ dỗ, lôi kéo tập trung đông người, được tiếp tục trở lại học tập.

Ông Trọng khẳng định, Đảng và Chính phủ sẽ có những chính sách cụ thể để đầu tư nhằm cải thiện đời sống cho bà con vùng Tây Bắc, như về giao thông, cơ sở vật chất, tín dụng, đẩy mạnh trồng cây công nghiệp, giải quyết việc làm.

Theo ông Lê Thành Đô, Phó chủ tịch UBND tỉnh Điện Biên, gần đây trong một bộ phận người Mông ở huyện Mường Nhé có thông tin lan truyền rằng những ngày đầu tháng 5, tại Mường Nhé sẽ xuất hiện một “thế lực siêu nhiên”. Thông tin nói “thế lực” này sẽ mang bà con tới miền đất hứa, ở đó mọi người sẽ được ban sức khỏe, hạnh phúc, sự giàu sang và phú quý…

Một số người do nhẹ dạ cả tin đã rủ nhau cùng tụ tập về Mường Nhé để chờ đón sự xuất hiện của “thế lực siêu nhiên”. Lợi dụng tình hình đó, một số phần tử đã kích động, vận động đòi thành lập vương quốc riêng của người Hmông.

(Tổng hợp)
_________________________________________________

Posted in Chính trị Việt Nam, Chuyện pháp luật, Chuyện tôn giáo, Chuyện xã hội, Chuyện đất nước, Tin tức nổi bật, Văn hóa các dân tộc | Tagged: , , | Leave a Comment »

Chưa nên đề nghị công nhận lên đồng là di sản thế giới

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Hai 25, 2011

Chi Anh

Lên đồng là một bảo tàng sống động của văn hóa Việt và hoàn toàn xứng đáng được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới, nhưng bây giờ chưa phải là lúc bởi vẫn chưa có sự đồng thuận.
Trong buổi nói chuyện về Lên đồng tại Trung tâm văn hóa Pháp chiều 23.2, GS Ngô Đức Thịnh – GĐ Trung tâm Nghiên cứu và bảo tồn văn hóa tín ngưỡng Việt Nam đã nhận định như vậy. Cũng trong buổi nói chuyện, ông đã trình bày nhiều điều thù vị về bản chất của lên đồng và đạo mẫu.

100 % người có căn số sau khi trình đồng khỏi bệnh

Muốn hiểu lên đồng thì trước tiên phải hiểu về đạo mẫu. Nhưng đạo mẫu lại là một vấn đề hết sức rộng lớn.
Đạo mẫu là việc tôn thờ thánh mẫu theo quan niệm mẫu là người cai quản các miền khác nhau của vũ trụ và có thể che chở cũng như ban phát cho con người sức khỏe, tài lộc. Đạo mẫu khác với các tôn giáo, tín ngưỡng khác ở VN. Vì đạo mẫu không hướng con người về thế giới sau khi chết, không phải thế giới linh hồn mà đạo mẫu hướng đến đời sống trần tục của nhân gian với mục tiêu sức khỏe, tài lộc.
Hơn nữa, đạo mẫu là một tín ngưỡng đa thần, thậm chí có thể nói không có một tín ngưỡng nào của người Việt lại đa thần như đạo mẫu. Đạo mẫu có trên dưới 50 vị thần được phân thành các hang bậc từ cao xuống thấp. Cao nhất là Thánh mẫu, dưới Thánh mẫu có hàng quan, hàng ông chầu, hàng ông hoàng, hàng cô, hàng cậu…Tuy nhiên, các vị thần này được phân thành 4 phủ . 4 phủ này được biểu tượng bằng 4 màu khác nhau. Thiên phủ màu đỏ, địa phủ màu vàng, thượng ngàn màu xanh…
Vì thế, đạo mẫu là một tín ngưỡng hiện sinh, một nhân sinh quan độc đáo và sâu sắc của người Việt.

GS có nói mê xem lên đồng từ bé và có khi GS cũng có căn số trình đồng, chỉ chưa mở điện thôi. Điều gì ở lên đồng khiến GS say mê đến vậy?

– Lên đồng là 1 nghi lễ nhập hồn nhiều lần của các vị thánh (khoảng 50, 60 vị) vào các thân xác của ông đồng, bà đồng. Lúc đó họ không còn là mình nữa để các vị thần linh nhập hồn vào với những cầu mong về sức khỏe, tài lộc, may mắn…
Lên đồng xuất phát từ đạo mẫu – một tín ngưỡng đa thần, thể hiện nhân sinh quan sâu sắc của người Việt. Lên đồng đứng về phía dân tộc và thể hiện tình yêu nước. Trong lên đồng, khoảng 50 vị thần trong đạo mẫu được lịch sử hóa trở thành những nhân vật có công với nước. Nói cách khác, đấy là những nhân vật lịch sử đã được thần thánh hóa. Dân tộc chúng ta tôn thờ những vị thần của đạo mẫu chính là tôn thờ chủ nghĩa yêu nước. Và chủ nghĩa yêu nước khi đó đã được tâm linh hóa.
Lên đồng là một loại hình diễn xướng vô cùng đặc sắc. Lên đồng kết hợp nhiều loại hình nghệ thuật: hát, múa,điêu khắc, hội họa…Chính ở đấy, chúng ta thấy được một bảo tang văn hóa sống. Âm nhạc của lên đồng là một âm nhạc có đầy đủ cung bậc, âm sắc. Những điệu múa cũng vậy…

Các ông đồng, bà đồng trước khi trở thành ông bà đồng thì thường bị cơ đầy và có trục trặc về sức khỏe, thậm chí có thể bị điên loạn. Vậy sau khi trình đồng, họ sẽ khỏi bệnh? Nghe có vẻ hoang đường không thưa GS?

– Theo điều tra của chúng tôi, 100% những người có căn số trình đồng đều khỏi bệnh sau khi trình đồng. Lên đồng đối với những người có căn số và bị cơ đầy chính là để giải thoát khỏi những cơ đầy đó. Để từ chỗ ốm đau, điên loạn, sau khi lên đồng có thể trở lại bình thường. Lên đồng là 1 cách để những người có căn trở lại với cuộc sống bình thường, tái hòa nhập với cộng đồng.

Gạn đục khơi trong

Nói lên đồng là một bảo tàng sống của văn hóa Việt có phải là đã quá đề cao hiện tượng này không?Nếu không, nên hiểu như thế nào về lên đồng để thấy rõ đây là một bảo tàng sống của văn hóa Việt, thưa GS?
– Nói lên đồng là bảo tàng sống của văn hóa Việt là hoàn toàn đúng. Có rất nhiều phương diện để chứng minh cho nhận định này. Tuy nhiên, tôi xin đề cập đến 3 phương diện chính và quan trọng nhất.
Thứ nhất, trong diễn xướng lên đồng, đây là một hiện tượng tái hiện lại các vị thần linh, cũng là tái hiện lại các nhân vật lịch sử như đã nói ở trên. Trong lên đồng, các vị anh hùng nhập vào thân xác những ông đồng, bà đồng và họ được sống lại bằng xương bằng thịt trên những thân xác đó. Như vậy là nếu xem một cuộc lên đồng sẽ thấy được rất nhiều các vị anh hùng dân tộc.
Thứ hai, lên đồng là một hiện tượng tích hợp văn hóa, đa văn hóa. Trong lên đồng, nhiều nền văn hóa của các dân tộc thiểu số VN đã được tích hợp. Không một tín ngưỡng nào của người Việt lại tôn thờ những vị thần của các dân tộc thiểu số như đạo mẫu. Điều đó thể hiện tinh thần gắn kết, cấu kết giữa các dân tộc trên lãnh thổ VN và được phản ánh trên bình diện tâm linh.
Thứ ba, lên đồng là một hình thức sinh hoạt cộng đồng mang tính văn hóa và tín ngưỡng. Trong một buổi sinh hoạt lên đồng như vậy, tái hiện rất nhiều hình thức sinh hoạt văn hóa.

Lên đồng xứng đáng là bảo tàng sống của văn hóa Việt

Trước đây, lên đồng bị cấm và bị cho là một hoạt động có tính mê tín dị đoan. Theo ông, nếu lên đồng có mặt trái thì mặt trái đó là gì?

– Bản chất của lên đồng là tốt đẹp và không phải là một hoạt động mê tín dị đoan. Vấn đề là một số người đã lợi dụng lên đồng để mưu cầu một số điều không tốt. Không một tôn giáo hay tín ngưỡng nào dạy con người làm điều xấu cả, chỉ có con người lợi dụng tôn giáo tín ngưỡng để làm điều xấu mà thôi.

Như thế có nghĩa là việc nghi ngại của các cơ quan quản lý là có cơ sở? Vậy làm thế nào để lên đồng trở về đúng với những giá trị bản chất của nó?

-Việc nghi ngại là có cơ sở vì những hoạt động có tính vụ lợi của một số ông đồng, bà đồng.Tuy nhiên, không thể chỉ vì số ít người đó mà cấm một hoạt động tín ngưỡng lành mạnh và có giá trị văn hóa như lên đồng. Việc chúng ta cần làm là gạn đục khơi trong, thanh lọc để lên đồng luôn là một hiện tượng lành mạnh như cha ông, tổ tiên của chúng ta đã làm.

Chưa nên trình hồ sơ UNESCO công nhận lên đồng là di sản thế giới

Trên thế giới, có hình thức nào giống như lên đồng tại Việt Nam không, thưa GS?

-Về mặt tôn giáo, lên đồng với tư cách là nhập hồn là một trong những hình thức Saman trên thế giới. Hiện tượng Saman giáo là hiện tượng phổ quát của rất nhiều dân tộc trên thế giới, mà tập trung nhất là ở vùng Siberi Mông Cổ. Tại Hàn Quốc, Trung Quốc…cũng có lên đồng nhưng có một số khác biệt so với lên đồng của Việt Nam ta.

Sự khác biệt đó như thế nào?

-Ở một số dân tộc khác, người ta cho rằng lên đồng chỉ là hình thức thoát hồn thôi. Ví dụ nhiều dân tộc khác, ông đồng, bà đồng thoát hồn đi để hóa vào thế giới của các vị Thánh hoặc của người âm để tìm kiếm một điều gì đó. Nhưng lên đồng của người Việt là nhập hồn nhiều lần. Hình thức lên đồng của ta cũng rất độc đáo. Ở Hàn Quốc, các ông đồng, bà đồng tự hát, đánh trống và chơi nhạc nhưng ở VN đã hình thành một bộ phận âm nhạc riêng. Mỗi dân tộc có một sắc thái riêng, đặc trưng nhưng nhiều bạn bè thế giới đánh giá hoạt động lên đồng của người Việt rất đặc sắc.

Có ý kiến cho rằng, với sự độc đáo như vậy, nên chăng chúng ta trình hồ sơ đề nghị UNESCO công nhận lên đồng là di sản văn hóa thế giới. Điều này hẳn nhiên là rất xứng đáng?

-Lên đồng là một hiện tượng rất độc đáo và hoàn toàn xứng đáng để được UNESCO công nhận. Tuy nhiên, chính chúng tôi – những nhà nghiên cứu về đạo mẫu và lên đồng thì cho rằng chưa nên vì chính bản thân chúng ta chưa đồng thuận về vấn đề này.
Sở dĩ chưa có sự đồng thuận là vì thực tế vẫn có những người lợi dụng lên đồng để làm những việc xấu. Vậy thì, để có được sự đồng thuận, chúng ta phải chấn chỉnh lại hoạt động này để cả xã hội đều thấy được những giá trị tốt đẹp của nó. Khi ấy, chúng ta đề nghị chắc chăn sẽ được công nhận và chưa muộn.

________________________________________________________

Posted in Chuyện tôn giáo, Chuyện xã hội, Chuyện đất nước | Tagged: , , | Leave a Comment »

Vatican bổ nhiệm đại diện ở Việt Nam

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Một 14, 2011

Đức Giáo hoàng Benedict XVI vừa chính thức chỉ định Tổng Giám mục Leopoldo Girelli làm đại diện cho Toà thánh Vatican tại Việt Nam.

Vị Tổng Giám mục không lưu trú mà sẽ chỉ thường xuyên đến Việt Nam, theo tin của các nguồn Công giáo.

Ngài cũng là Khâm sứ của Giáo hoàng tại Singapore và đại diện cho Toà Thánh trong quan hệ với Malaysia và cả Brunei, hai nước không có quan hệ ngoại giao với Vatican.

Các bản tin cho hay trong quyết định công bố hôm 13/1, Vatican nói TGM Girelli cũng đã làm Khâm sứ của Toà thánh ở Indonesia.

Chức danh của Ngài trong quan hệ với Việt Nam là “đại diện không lưu trú của Toà thánh La Mã” và hiển nhiên là thấp hơn chức danh Khâm sứ, tức Đại sứ của Vatican ở Singapore.

Đây không phải là lần đầu tiên Vatican hay một quốc gia chỉ định một vị đại sứ kiêm nhiệm vai trò đại diện của mình trong quan hệ với một loạt quốc gia.

Tuy nhiên, với Việt Nam, việc bổ nhiệm này dù sao cũng được một số báo Công giáo trên thế giới coi là bước tiến triển trong quan hệ hai bên mà họ cho là bị gián đoạn từ 1975.

Còn riêng trong quan hệ với Bắc Việt Nam, vị khâm sứ cuối cùng của Toà thánh phải rời Hà Nội sau khi những người cộng sản làm chủ miền Bắc trong thập niên 1950.

Cải thiện quan hệ

Việc tranh chấp toà Khâm sứ, địa chỉ cuối cùng của đại sứ Toà thánh tại Hà Nội, giữa khối Công giáo và chính quyền thành phố là một trong những lý do khiến quan hệ hai bên xấu đi từ cuối 2007.
Nhưng gần đây, với việc Tổng Giám mục Hà Nội Joseph Ngô Quang Kiệt phải ra đi, hai bên đã dần bồi đắp lại quan hệ.

Đại lễ Năm Thánh của Giáo hội Công giáo Việt Nam vừa kết thúc tuần đầu tháng 1/2011 tại La Vang, với sự tham gia của Đức Hồng y Ivan Dias, đặc sứ của Đức Giáo hoàng.

Tuy vậy, giới quan sát tin rằng cũng phải mất thời gian hai bên mới tiến tới bình thường hóa hoàn toàn quan hệ ngoại giao.

Dù có chừng 7-8 triệu giáo dân, đông thứ nhì châu Á, chỉ sau Philippines, Việt Nam vẫn như Trung Quốc, chưa lập quan hệ ngoại giao với Vatican.

Sinh năm 1953, vị Tổng Giám mục người Ý gia nhập ngành ngoại giao của Vatican năm 1987.

Trước khi nhận chức vụ tại Indonesia, Ngài đã phục vụ ở Cameroon, New Zealand và Hoa Kỳ, và cũng có thời gian làm việc ngay tại Toà thánh ở Roma.

________________________________________________

Posted in Chuyện chính trị, Chuyện tôn giáo, Việt Nam và thế giới | Tagged: , , | Leave a Comment »

Sao lại đặt câu hỏi: “Thương trường là cõi Phật?”

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Bảy 1, 2010

Phạm Anh Tuấn

Nếu đặt câu hỏi: “Kinh doanh là dấn thân, thương trường là cõi Phật?”, rất có thể, một ngày nào đó người ta lại tiếp tục đặt thêm một câu hỏi nữa. Ví dụ: “Liệu nhà chùa có được phép làm ăn lớn hay không?”

Cuộc sống không chấp nhận sự nửa vời, mập mờ

Cuộc sống có vô số những câu hỏi khác nhau. Một quá trình triền miên với những câu hỏi cũ và mới. Những câu hỏi dễ trả lời, những câu hỏi không dễ hoặc không thể có câu trả lời. Có câu hỏi do cuộc sống hằng ngày đặt ra. Lại có câu hỏi chung chung, vu vơ, giải đáp cũng được mà không cũng chẳng sao.
Loại câu hỏi thứ nhất gắn với một vấn đề nảy sinh có thật, nó đòi hỏi phải được giải đáp ngay càng sớm càng tốt. Loại câu hỏi thứ hai thực chất giống như một giả thuyết, câu hỏi được tung ra cốt để ướm thử, để thăm dò – những câu hỏi mở.
Thế nên có người đặt câu hỏi “Nhà chùa có nên làm kinh doanh hay không?” Nhà chùa xưa nay phấn đấu để sao cho thoát khỏi cả vòng luân hồi, nữa là lại sa vào lĩnh vực kinh doanh vốn gắn liền với tham, sân, si. Người hỏi chắc đã biết câu trả lời. Thế mà người ta vẫn cứ hỏi.
Ở bên cạnh chúng ta, những quốc gia theo đạo Phật đâu có thấy bao giờ họ đặt câu hỏi kiểu này. Nhà văn Nguyên Ngọc kể về các nhà sư đi khất thực mỗi sớm mai ở Luang Prabang (Lào): “Trước khi các sư đến, người ta nâng giỏ xôi lên ngang trán, lầm rầm khấn vái. Không phải bố thí mà là dâng hiến. Các sư đi thành đoàn dài, người hai bên đường cung kính dâng thức ăn. Khi các sư đã đi qua rồi, người ta vẫn ngồi yên hồi lâu, chắp tay và nhắm mắt. Một khoảnh khắc vọng về cõi vô thường, mỗi sáng lại được chạm nhẹ vào đấy trước khi dấn vào cuộc lầm bụi hằng ngày” (nguồn: Báo Tuổi Trẻ Tết 2010).
Có người lại đề xuất nhà chùa có thể làm kinh doanh trong phạm vi có thể. Họ đặt câu hỏi, “Tại sao không?”. Rồi giải thích rằng bởi vì thị trường có nhu cầu nên nhà chùa có thể cung cấp những sản phẩm không có đối tượng cạnh tranh, chẳng hạn, du lịch tâm linh, công viên nghĩa trang cao cấp (có “kỷ lục cao cấp” không đấy?). Thật là một phát biểu lủng củng, ý trước phủ nhận ý sau!
Bài học vỡ lòng của kinh doanh là tuân thủ quy luật cung – cầu và cố gắng tạo lợi nhuận tối đa. Thị trường cạnh tranh dữ dội nhất nhiều khi mới là thị trường có lợi nhuận nhiều nhất. Cuộc sống không chấp nhận sự nửa vời, mập mờ. Hoặc bố thí hoặc kinh doanh. Cái gì nửa vời, nửa nạc nửa mỡ thì đều dễ bị người khác lợi dụng. Rồi thì nhà chùa có khi chẳng được cái gì, tiền mất mà uy tín cũng mất.
Lại có người đề cập: “Văn hóa Phật giáo trong kinh doanh”. Đây từng là một vấn đề tranh luận lớn giữa thuyết duy văn hóa (culturalist) và thuyết duy cấu trúc (structuralist). Thuyết duy văn hóa coi trọng cái chủ quan, đề cao giá trị cổ truyền bất biến trong khi thuyết duy cấu trúc coi trọng cái khách quan, đề cao luật pháp và bộ máy hành chính liên tục được cải tiến (mô hình thuần lý/pháp luật – the rational/legal model hay còn gọi là mô hình Anh/Mỹ – The Anglo-American model).
Nhưng văn hóa không hoàn toàn mang tính tiền định (deterministic) và không phải là một quá trình tĩnh. Mặt khác, không phải ai cũng thích và cũng có khả năng kinh doanh. Thuyết duy văn hóa thay thế cá nhân bằng một cái gì đó chung chung, trừu tượng, do đó nó không đáng tin.

Nơi con người hướng tâm đến cõi Phật

Cuộc khủng hoảng tài chính của châu Á năm 1997 là một ví dụ về sự thất bại của thuyết duy văn hóa. Châu Á phải trả giá đắt cho sự kiêu ngạo và tự mãn với cái gọi là “những giá trị châu Á” (Asian values”). Kể từ sau đó hầu hết các quốc gia châu Á đều lựa chọn mô hình thuần lý/pháp luật.
Trung Quốc vẫn tiếp tục đề cao những giá trị châu Á (gia đình, quan hệ cá nhân (guanxi), sĩ diện (mianzi), quan niệm “đầu gà hơn má lợn” v.v.) nên đã đi đến một thứ chủ nghĩa tư bản móc ngoặc hay còn gọi là chủ nghĩa tư bản cánh hẩu (crony capitalism).
Ấn Độ – một quốc gia có nhiều điểm giống Trung Quốc (đất rộng người đông, dùng phát triển kinh tế để tự khẳng định mình) đã đi theo mô hình thuần lý/pháp luật (người ta phân biệt rạch ròi giữa Phật giáo và kinh doanh), và trên thực tế Ấn Độ phát triển bền vững hơn, hiệu quả hơn, ít móc ngoặc, tức ít tham nhũng hơn Trung Quốc (so sánh tỉ lệ lợi nhuận ròng giữa hai quốc gia này: Ô-tô: Trung Quốc 17,4%, Ấn Độ 20,6%. Năng lượng: Trung Quốc 17,6%, Ấn Độ 21,4%. Phần mềm: Trung Quốc 6,5%, Ấn Độ 27,3%. Hàng hóa: Trung Quốc 8,1%, Ấn Độ 17,2%… (Nguồn: Tạp chí The Economist ngày 8/12/2005).
Nhưng hãy thử hỏi giờ đây nhà chùa có thua kém gì xã hội bên ngoài. Chùa chiền dễ dàng mọc lên ở khắp nơi, các địa phương thi nhau tôn tạo, sửa chữa chùa cũ, có khi đập cũ để xây mới hoặc xây mới hoàn toàn từ đầu. Hình ảnh nhà sư lái ô tô, đeo kính râm nhãn hiệu thời thượng giờ đây không phải là hiếm. Có chùa khi có việc còn huy động được cả tàu bay, ô tô sang trọng tiền tỉ. Đời sống kinh tế đi lên thì nhà chùa cũng được hưởng lợi, chẳng nên nỡ thắc mắc, xét nét chuyện này.
Cả xã hội như đang ở trong những cơn sốt. Sốt đất đai. Sốt dự án. Sốt vàng. Sốt chứng khoán. Sốt chạy trường cho con, sốt chạy điểm, sốt chạy ghế… Hiếm ai thoát khỏi cái tâm lý sợ mất phần, sợ mình không đến lượt, sợ người khác được phần to hơn. Từ chuyện nhỏ cho tới chuyện lớn. Từ việc ăn uống, nói năng, đi lại, điều khiển xe cộ trên đường phố, lên xuống tàu xe, ra vào thang máy… cho tới xoay sở làm ăn…
Ai ai cũng vội vã, hối hả, cuống cuồng cứ như thể sợ đến lượt mình được gọi tên mà lại vắng mặt! Ở các thành phố biển, hễ mảnh đất nào ở vị trí thuận lợi, bãi biển nào đẹp đẽ hấp dẫn thì y như rằng đã có chủ hoặc đã có đại gia “xếp gạch” từ trước. Người dân muốn tắm biển phải mua vé vào cửa. Còn nếu muốn tắm miễn phí thì cứ tới những khu vực vừa xấu vừa bẩn vì ở gần cửa sông ….
Cuộc sống xã hội sôi động, hừng hực, xô bồ ấy từng ngày từng giờ từng phút ùa từ bên ngoài vào nhà chùa theo đủ mọi cách, theo đủ mọi con đường. Nhà chùa chống chọi thế nào? Chỉ có nhà chùa mới có thể trả lời.
Tất nhiên con người phải sống cuộc sống của mình mỗi ngày. Không thể thoái thác – bởi “có thực mới vực được đạo”. Song, nhà chùa không phải là nơi dành cho sự “phú quý sinh lễ nghĩa”, không phải là nơi người ta tới đó để lễ tạ vì cầu được ước thấy. Nhà chùa không phải là nơi để cầu lộc, dù người ta gọi lái đi là “lộc rơi lộc vãi”. Nhà chùa là nơi để con người hướng tâm đến cõi Phật, ngộ ra, hoặc tỉnh thức những điều tốt đẹp ở bên trong tâm hồn.
Nếu đặt câu hỏi: “Kinh doanh là dấn thân, thương trường là cõi Phật?”, rất có thể, một ngày nào đó người ta lại tiếp tục đặt thêm một câu hỏi nữa. Ví dụ: “Liệu nhà chùa có được phép làm ăn lớn hay không?”

__________________________________________________________

Posted in Chuyện tôn giáo, Chuyện xã hội, Kinh tế | Tagged: , , , | Leave a Comment »

Trị quốc mà cực đoan thì hỏng

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Sáu 1, 2010

Cao Huy Thuần

Theo GS Cao Huy Thuần: Phật giáo đời Trần vừa rộng vừa sâu, rộng ở nền móng, sâu ở thượng đỉnh, dưới trên đều cùng một tư tưởng thông suốt. Muốn biết hệ tư tưởng đó sâu rộng thế nào, thắt chặt đoàn kết đến đâu, chỉ cần đọc mấy câu của nho gia Lê Quát: “Nhà Phật lấy họa phúc để cảm động lòng người sao mà được người tin theo sâu bền như thế! Trên từ vương công, dưới đến dân thường, hễ bố thí vào việc nhà Phật dù đến hết tiền của cũng không sẻn tiếc… Cho nên trong tự kinh thành, ngoài đến châu phủ, cho đến thôn cùng ngõ hẻm, không phải ra lệnh mà tuân theo, không bắt phải thề mà giữ đúng”.

LTS: Cả hai cùng tu một pháp, cùng vào một cửa, cùng ngộ như nhau, nhưng khi truyền đạt, giáo huấn, dạy dỗ, áp dụng, một bên thì cực đoan, một bên thì diệu dụng. Tại sao? Tại vì một bên chỉ là ông thiền sư, bên kia ông thiền sư còn là ông vua! Ông thiền sư chỉ có vài trăm đệ tử, ông vua có cả một nước! Cả triệu dân! Trị quốc mà cực đoan thì hỏng.
Để rộng đường dư luận, Tuần Việt Nam giới thiệu bài viết của GS Cao Huy Thuần về đề tài Thiền đời Trần, thiền Việt Nam.

Tôi sẽ trả lời hai câu hỏi:
1. Có hay không một dòng thiền mang sắc thái Việt Nam?
2. Có đúng hay không dòng thiền Yên Tử đã tạo nên sức mạnh cho Việt Nam để đánh bại xâm lăng Nguyên Mông?

Đó là hai câu hỏi mà Tuần Việt Nam đã đặt ra cho tôi để trò chuyện về Phật giáo đời Trần nhân dịp kỷ niệm Ngàn năm Thăng Long. Tôi hứa sẽ trả lời, không phải trong một cuộc phỏng vấn mà trong một dịp khác, và dịp đó là đây, giữa Tuần Lễ Văn Hóa Phật Giáo này.
Thật lòng, tôi đã rất ngạc nhiên khi nghe hai câu hỏi này. Phật hoàng Trần Nhân Tông, thiền Trúc Lâm Yên Tử, và ảnh hưởng của Phật giáo trong chiến thắng Nguyên Mông đã được thảo luận nhiều rồi trong sách vở và trong các cuộc hội thảo, làm sao tôi có thể nói thêm điều gì mới lạ trong tình trạng tư liệu ít ỏi đã được khai thác lâu nay? Riêng về thiền tông đời Trần, có ai giảng giải rành mạch và đủ thẩm quyền hơn Hòa thượng Thanh Từ? Có ai vừa giàu tưởng tượng vừa không sợ đưa ra những giả thuyết độc đáo bằng học giả Lê Mạnh Thát? Ấy là chưa kể bao nhiêu bài viết công phu, đầy giá trị, của các nhà trí thức trong và ngoài Phật giáo. Để trả lời hai câu hỏi đó, tôi chỉ cần nói: xin đọc lại những gì mà các vị ấy đã viết.
Nhưng tôi lại nghĩ, và điều này lại càng làm tôi ngạc nhiên hơn: chẳng lẽ, với bao nhiêu công trình nghiên cứu đó, vẫn cứ có câu hỏi đặt ra, như tuồng vẫn còn hoài nghi về sự có thực của của một dòng thiền đặc biệt Việt Nam? Chẳng lẽ vấn đề cần làm sáng tỏ hơn nữa? Chẳng lẽ lý luận chưa đủ vững chắc? Chẳng lẽ vẫn cần phải nói thêm?
Vì bắt buộc phải trả lời hai câu hỏi nói trên, tôi đánh liều nói thêm, hy vọng không phải là thừa. Tôi nói thêm bằng cách mở một cánh cửa hình như chưa mở: cánh cửa của phương pháp so sánh, so người để biết ta. Tôi muốn so ta với Nhật, vì cả hai cùng có chung một vấn đề: làm thế nào thu nhập thiền từ Trung Hoa đến, làm thế nào chuyển một của báu từ ngoài vào để biến thành của báu của mình? Người Nhật tự hào đã chuyển biến được, và ai cũng đều công nhận có một thiền tông Nhật Bản chẳng giống ai, vậy ta xét trường hợp của họ để so sánh với ta xem sao. Cái gì làm họ đã thành họ, xét cho kỹ, biết đâu ta sẽ thấy ra cái gì đã làm ta thành ta? Vậy, từ đầu, thiền đã nảy mầm ở Nhật như thế nào?

Phật giáo ở Nhật

Thiền vào đất Nhật rất trễ, sau ta 5 thế kỷ, nhưng trước khi Trần Thái Tông viết Khóa Hư Lục vài chục năm, Nhật đã sản sinh ra một thiền sư xuất chúng, một triết gia lỗi lạc bậc nhất trong lịch sử Nhật mà ảnh hưởng vẫn còn sâu đậm trên thiền học thế giới cho đến ngày nay: đó là Đạo Nguyên (Dogen), người đã xây dựng nên thiền tông Nhật. Cùng một thời đại, cùng là những nhà cải cách Phật giáo, cùng là những tư tưởng gia cỡ lớn, cùng bắt tay đặt nền móng cho ngôi nhà thiền, mỗi người trên dải đất của mình, sự so sánh hoàn toàn có thể được giữa thiền học đời Trần và thiền học của Đạo Nguyên để biết đâu là Nhật đâu là ta, đâu là nét đặc thù của Việt Nam, đâu là ảnh hưởng của nét đặc thù đó trên xã hội, trên chính trị, trên quân sự, trên chiến thắng ngoại xâm.
Bởi vậy, tôi bắt đầu với Đạo Nguyên và thiền học của ông. Nhưng để hiểu Đạo Nguyên đã cải cách Phật giáo như thế nào và tại sao, tôi lại phải nói sơ lược về tình hình Phật giáo ở Nhật trước Đạo Nguyên. Trên điểm này, có nhiều chỗ tương đồng thú vị giữa Phật giáo ở ta và Phật giáo ở bạn. Tương đồng thứ nhất là ở chỗ thịnh suy, có thịnh suy mới có cải cách. Tương đồng thứ hai là mối liên hệ giữa mật tông với Phật giáo cung đình, và giữa tịnh độ với Phật giáo quần chúng. Tôi đi vào chi tiết.
Phật giáo được du nhập vào Nhật từ Triều Tiên giữa thế kỷ thứ 6. Như đất khô gặp mưa, triết lý mới, văn hóa mới, tôn giáo mới, ánh sáng mới đó được vua Thái Đức (Shotoku) trọng dụng để xây dựng Nhà nước và củng cố xã hội. Rất thịnh cho đến cuối thế kỷ thứ 8 với kinh đô ở Nara, Phật giáo bắt đầu suy thoái vì một lý do giản dị muôn đời: hễ thịnh thì sinh ra lạm dụng. Chùa chiền xây nhiều quá, kỷ luật tu hành lỏng lẻo quá. Ở ta, cuối đời Lý, tình trạng không khác.
Suy thoái ở Nara, Phật giáo chấn chỉnh lại khi kinh đô được dời từ Nara về Kyôto. Hai tông phái mới phát triển ở kinh đô mới: thiên thai tông và mật tông. Thiên thai thì quá triết lý, cao siêu, mật tông thì quá hình thức, nghi lễ, cầu đảo, cả hai đều thích hợp với tầng lớp quý tộc ở cung đình. Đến cuối thế kỷ 11 thì hầu hết giới tăng lữ ở cấp cao của tông thiên thai đều xuất thân từ quý tộc. Phật giáo ở Kyôto là Phật giáo quý tộc, cung đình.
Suốt hậu bán thế kỷ 12, nước Nhật lâm vào một trận nội chiến khủng khiếp, thậm chí cha con, anh em giết nhau. Từ nội chiến đó, lịch sử nước Nhật bước qua một giai đoạn khác hẳn, vì quyền hành không còn thuộc về vua nữa. mà về tay các samourai. Giai cấp quý tộc nhường chỗ cho giới võ sĩ trong đó lắm người thất học. Kamakura là thủ phủ của họ, cầm đầu là Tướng Quân (Shogun), trị vì suốt 7 thế kỷ.
Giữa thời đại hỗn loạn đó, đạo Phật vẫn còn giữ được hào nhoáng bề ngoài, nhưng bên trong thì mất nhuệ khí, sáng tạo, không đủ sức để cung cấp cho con người một niềm tin giản dị, dễ nhận, dễ hiểu. Từ đó, xuất hiện ba hình thức Phật giáo mới mà các sách Nhật gọi là mang sắc thái tâm linh đặc biệt Nhật: một là tông Tịnh Độ, hai là Thiền tông và ba là Nhật Liên tông. Phật giáo của kinh đô Kyôto biến thành Phật giáo của tướng phủ Kamakura và thiền tông bắt gặp hưởng ứng nồng nhiệt của Tướng Quân và của giai cấp võ sĩ.
Như vậy, trước Đạo Nguyên, thiền đã du nhập vào đất Nhật, với Eisai (1141-1215). Nhưng Đạo Nguyên vẫn cho rằng đó chưa phải là thiền thực sự, cho nên ông vượt biển sang Trung Hoa của nhà Tống để tìm thầy học đạo. Và ông đã học, đã ngộ, đã trở thành người khai sáng dòng thiền của Nhật.

Đạo Nguyên: Ngồi!

Thầy đầu tiên của Đạo Nguyên là Jou-tsing. Ông học gì trước hết? Tọa thiền. Jou-tsing ngồi thiền cả ngày, cho đến 11 giờ khuya, rồi lại dậy ngồi thiền từ 3 giờ sáng. Chỉ thế thôi. Không dạy gì khác. Đạo Nguyên cũng ngồi như vậy, hết ngày đến đêm, thề chết cũng ngồi, mà nếu chết thì cứ lấy ngồi làm vốn, kiếp sau ngồi nữa. Về sau, ông dạy: giác ngộ là nhờ tọa thiền; ngay cả người không hiểu gì cả, người dốt, người ngu vẫn có thể vượt qua người thông minh, đầy kiến thức, nếu cứ kiên trì tọa thiền, lấy ánh sáng từ định. Bởi vậy, ai muốn học đạo chỉ cần duy nhất tọa thiền, không học gì khác.
Thế có học quán không? Có quán công án? Đạo Nguyên trả lời dứt khoát: “Dù cho ai đó nghĩ rằng mình có hiểu đôi chút công án, điều đó cũng dẫn xa Phật, xa Tổ. Cứ ngồi cho đúng, chẳng cần muốn được gì hay hiểu gì. Cứ ngồi mãi như vậy. Đó là Đạo của Tổ. Các vị tiền bối cũng khuyên kết hợp quán công án với tọa thiền, nhưng các vị ấy khuyên trước hết hãy tọa thiền. Cũng có người ngộ đạo nhờ công án, nhưng điều đó là nhờ công năng duy nhất của thiền tọa. Muốn thành công phải tìm trong tọa thiền” (1). Quả quyết chắc nịch.
Như vậy mà Đạo Nguyên chứng ngộ. Ông chứng ngộ lúc 26 tuổi, trở thành tổ thứ 8 của phái thiền Tào Động. Trở về Nhật, có người hỏi ông đã học được gì ở Trung Hoa, ông nói: học được mắt ngang mũi dọc.
Chân lý của ông cũng chắc nịch như mũi dọc mắt ngang. Chỉ ngồi, chỉ ngồi, chỉ ngồi. Không làm gì. Không tìm gì. Không chờ đợi gì. Nhờ định, tuệ sáng. Như con rồng gặp nước, như con cọp gặp rừng. Thực hành, thực hành, thực hành: tọa thiền với giác ngộ là một.

Giác ngộ đến từ thực hành
Vì vậy giác ngộ là vô biên.
Thực hành đến từ giác ngộ
Vì vậy thực hành không có khởi thủy (2) .

Ông đả kích kịch liệt việc tụng kinh: tụng kinh cũng giống như ễnh ương kêu ngoài ruộng. Ông coi trọng việc giữ giới, nhưng ông quả quyết rằng tọa thiền sâu và đúng thì đương nhiên giới cũng được giữ. Thế người tu thiền có được tu theo pháp môn nào khác không? Không! Nhất quyết không! “Đừng bám vào lời, vào chữ; hãy nhìn vào mình mà quán. Như vậy, thân và tâm tự nhiên biến mất và Phật tính nguyên thủy hiện ra” (3). Buông cả thân lẫn tâm, vất cả thân lẫn tâm vào nhà của Như Lai: đó là lời dạy căn bản của Đạo Nguyên. Ông đã giác ngộ trên khám phá đó.
Thiền của Đạo Nguyên trở thành một tông phái độc lập, vừa thay thế cho Phật giáo cung đình đã biến chất, vừa đối lập với tông phái tịnh độ đang phát triển song song. Khỏi cần nói, Đạo Nguyên đả kích Khổng và Lão. Ông đanh thép, cứng rắn với cả quan niệm thông thường về chữ hiếu. Tôi nói thêm chút ít về điểm này để nhấn mạnh lòng tin tuyệt đối của ông về cách tu thiền thuần túy, khai tuệ nhờ định:
Học trò của ông, Ejô, có mẹ đau, gần chết, muốn thấy mặt con lần cuối. Theo luật của tu viện, mỗi tháng thiền sinh chỉ được phép ra ngoài hai lần, mỗi lần không quá ba ngày. Ejô về nhà thăm mẹ hấp hối là việc gần như tự nhiên, nhưng ông đã hết phép rồi. Ông hỏi ý kiến mọi người và ai cũng đồng ý là ông chỉ cần xin phép là xong: thăm mẹ gần chết là việc trọng đại, khác với các duyên cớ lặt vặt thông thường.
Câu chuyện đến tai Đạo Nguyên. Đạo Nguyên nói: “Chắc chắn Ejô không ra khỏi tu viện, chắc chắn Ejô không đồng ý với các thiền sinh khác”. Quả thật vậy. Ejô trả lời bạn bè: “Nguyên tắc của tu viện quan trọng hơn là lời khuyên của tập thể. Nếu tôi làm theo ý mẹ và vì vậy mà vi phạm nguyên tắc của chư Phật, chẳng phải tôi cũng làm trái với đạo hiếu hay sao? Nếu tôi vi phạm nguyên tắc của chư Phật, đó là tội lớn nhất cuối cùng mà mẹ tôi phạm. Người tu hành phải đưa cha mẹ vào con đường giác ngộ. Chẳng lẽ tôi làm mẹ tôi vĩnh viễn sa xuống địa ngục bằng cách buông theo tình cảm mẹ con trong chốc lát? (4)
Đây không phải chỉ là chi tiết. Đạo Nguyên cực kỳ nghiêm minh trong kỷ luật. Từng sự việc cụ thể trong ngày, dù nhỏ đến bao nhiêu, cũng phải làm cho đúng: từ súc miệng, rửa mặt, gội đầu. Ông than phiền về mấy ông sư bên Tàu, không chịu súc miệng, xỉa răng, miệng nói có mùi. Ông viết cả một chương trong sách để nói về rửa mặt. Từng chi tiết đó, ông dạy cho đệ tử với tất cả nghệ thuật, như một đạo diễn tài ba dạy cho diễn viên từng cử động nhỏ của bàn tay. Nói gì việc ngồi thiền! Ông dạy rất kỹ về kỹ thuật ngồi, gian phòng phải như thế nào, ăn uống làm sao, áo quần làm sao, tai phải ngang vai thế nào, mũi phải ngang rốn làm sao… Đâu phải chi tiết! Đâu phải tự nhiên mà thiền được tầng lớp võ sĩ hưởng ứng! Đâu phải tình cờ mà thiền đi vào văn hóa của Nhật! Cho đến ngày nay tiếng nói của Đạo Nguyên vẫn còn thét lên bên tai các thiền sinh ở Mỹ, ở Tây phương: “Ngồi! Ngồi! Just sit!”
Nhưng có thật just sit là đủ để giác ngộ? Nếu chắc chắn Đạo Nguyên nói không sai thì cũng chắc chắn Đạo Nguyên không phải là người chỉ biết ngồi. Ông là triết gia hàng đầu của Nhật, sách ông viết vẫn còn là chữ nghĩa gối đầu giường ở Âu Mỹ, ông thuộc làu kinh kệ, thơ của ông thơm tho trong sử thiền của thế giới, vậy nếu ông bảo vất hết chữ nghĩa thì ai dám làm theo một cách máy móc? Sử thiền ngày nay trách ông đã quá cực đoan, tự cho mình là Phật giáo chính thống, còn tất cả đều trật hướng, kể cả thiền Lâm Tế, nói gì Tịnh Độ. Ông dám chỉ trích, dù chỉ là gián tiếp, cả Lục Tổ Huệ Năng, cho rằng kinh Pháp bảo đàn không phải là của ngài.
Nhưng thế đấy, sử sách xem Đạo Nguyên như đích thực là người khai sáng thiền tông ở Nhật, và phái Tào Động mà ông là Tổ ở Nhật vẫn còn giữ được tính thống nhất cho đến ngày nay như là nhánh chính của cây thiền ở đất Phù Tang.
Vậy nghĩ gì khi so sánh nhà tư tưởng lớn nhất của Nhật và nhà tư tưởng lớn nhất của Việt Nam, Trần Thái Tông, đồng thời với nhau, đồng thời là những nhà cải cách, đồng thời là những Tổ thiền – nếu ta so sánh thêm với Trần Nhân Tông? Đã đành, không thể so sánh tình trạng của thiền tông ở Nhật với thiền tông ở Việt Nam lúc đó, vì thiền được truyền vào Nhật sau Việt Nam đến 5 thế kỷ, và thiền tông đã phát triển rất mạnh, đã có nhiều thiền sư rất lớn ở Việt Nam suốt đời Lý. Thế nhưng, đứng về mặt chứng ngộ, đứng về mặt uyên bác, đứng về mặt cá nhân, ba vị tổ sư thiền đó có thể so sánh với nhau, và qua đó, thấy rõ sắc thái của nhau, ở Nhật và ở ta.
Cái gì là khác biệt căn bản giữa thiền của Đạo Nguyên và thiền của đời Trần? Một điểm thôi, nhưng đó là tinh túy: thiền của Đạo Nguyên cực đoan, thiền của đời Trần không cực đoan.

Trần Thái Tông: Dung thông

Chữ “cực đoan” ở đâykhông bao hàm một phán đoán tốt xấu; vỏn vẹn chỉ là một nhận xét. Nếu ta đọc lại cuộc đời của các thiền sư đời Lý, hầu như ai cũng lấy nhập định làm cách tu hành, nhập định cả ngày cả đêm, không thua gì Đạo Nguyên, có vị ngồi suốt ba ngày mới xuất định, nhưng chẳng ai chủ trương just sit. Đến Trần Thái Tông thì tinh thần dung thông, tránh cực đoan, nổi bật như trăng sáng giữa trời. Mở Khóa Hư Lục, thấy gì đầu tiên? Năm giới. Gì nữa? Niệm Phật. Gì nữa? Sám hối. Dâng hương. Gì nữa? Giảng kinh. Ngồi thiền không loại bỏ niệm Phật, học kinh, và gì nữa? Nhận ra Di Đà! “Nên biết mạng người khó thường, chớ để thời này qua rỗng. Nhìn thấy Tịnh Độ trước mắt, nhận ra trong tâm Di Đà”.
Đường lối tu thiền đời Trần, bắt đầu từ Trần Thái Tông, là như thế: thiền, giáo, tịnh, không loại bỏ ai. Thú thật, tôi tụng kinh Di Đà nhiều lần mà chỉ hiểu được tướng lưỡi dài rộng của Phật sau khi đọc Khóa Hư Lục. Trong mười hai nguyện đọc khi dâng hương đầu hôm, nguyện thứ chín là “chín nguyện lưỡi dài cùng Phật phủ”. Tại sao lưỡi Phật lại dài rộng phủ cả mặt? Là vì trong ba đời, Phật chưa hề nói dối! Khuyên chúng ta đừng nói dối, Trần Thái Tông trích kinh Di Đà! Hèn gì lưỡi tôi ngắn ngủn!
Mà Trần Thái Tông cũng không loại bỏ Khổng với Lão. Khổng Tử, Lão Tử xuất hiện nhiều lần trong Khóa Hư Lục, với tất cả thành kính của Vua. “Sách Nho dạy: “Thi ân bố đức”. Kinh Đạo dạy: “Ái vật háo sanh”. Ấy là Vua trích Khổng Lão để dạy giới cấm sát sanh trong đạo Phật. Vua còn khen Tử Cơ, Nhan Hồi ngồi yên cả ngày “thân như cây khô”, “tay chân rời rã”: Tử Cơ tu tiên, Nhan Hồi là học trò cưng của Khổng. Dung thông thiền, giáo, tịnh, Trần Thái Tông còn dung thông cả Khổng với Lão, không cực đoan với ai. Sách vở đã nói nhiều về điểm này, tôi không cần phải nói thêm. Chỉ xin đặt một câu hỏi: như vậy phải chăng thiền của Trần Thái Tông là một thứ cháo hổ lốn? Một tả pí lù?
Đâu phải! Đặt câu hỏi một cách vô lễ như vậy cốt để biết rằng thiền của đời Trần cao vòi vọi mà lại đặc biệt Việt Nam. Trần Thái Tông dung thông tất cả dưới ánh sáng của thiền. Tu Tịnh Độ? Rất hay, nhưng phải tu thế nào cho đúng nghĩa, đúng phép. Niệm Di Đà? Rất hay, nhưng ý nghĩa của niệm Di Đà là gì. Niệm Phật? Rất hay, nhưng Phật ở đâu? Dưới ánh sáng của thiền, Trần Thái Tông cắt nghĩa: Phật ở trong tâm, “phản chiếu hồi quang”, xoay ánh sáng trở về chiếu soi lại mình, thấy tánh giác của mình nơi mình là thấy Phật.
Tôi khó lòng không trở lại với Đạo Nguyên để so sánh. Trước khi đi qua Trung Hoa để học thiền, Đạo Nguyên đã đọc rất nhiều kinh sách, và câu hỏi mà ông cho là căn bản, khiến ông trăn trở hoài không yên là một câu hỏi triết lý: “Kinh sách nói ai cũng có Phật tánh, vậy tại sao chư Phật còn phải tu hành gian khổ để tìm giác ngộ?”. Nếu Phật tánh đã có, tại sao phải tìm? Còn nếu Phật tánh phải tu mới thấy, tại sao nói chỗ nào cũng có tánh Phật? Đạo Nguyên lang thang từ ông thầy này đến ông thầy khác cũng để trả lời câu hỏi đó. Nhưng câu hỏi ấy có khác gì câu của ông tăng hỏi Trần Thái Tông trong Khóa Hư Lục :

Người người vốn tự người ngưòi đủ
Mỗi mỗi xưa nay mỗi mỗi tròn.
Vì sao Thế Tôn vào núi tu hành?
Vua đáp:
Kiếm vì bất bình mở hộp báu
Thuốc do trị bệnh ra khỏi bình.

Tánh giác ai cũng đủ, ai cũng đầy, vào núi tu hành chi nữa? Câu trả lời của Trần Thái Tông đúng là câu trả lời của ông vua thắng giặc Nguyên. Trong hộp lúc nào cũng nằm sẵn thanh kiếm báu, nhưng vì bất bình, vì để cứu dân, trừ loạn, nên kiếm phải ra khỏi hộp. Thuốc hay vẫn nằm sẵn trong bình vàng, nhưng vì để trị bệnh nên thuốc phải ra. Vì lợi ích của chúng sinh, vì bệnh của chúng sinh, Thế Tôn phải đi tu.
Nhưng tu có phải để đi tìm tánh giác không? Cũng không! Đạo Nguyên dạy: cứ ngồi, đừng làm gì cả, đừng tìm gì, tìm là hỏng, vướng vào cái chuyện tìm, dính mắc chuyện chứng đắc là tâm dính bụi, là kẹt. Trần Thái Tông cũng dạy như vậy, bằng thơ:

Nước chảy xuống non đâu có ý
Mây bay qua núi vốn không tâm.

Cả hai cùng tu một pháp, cùng vào một cửa, cùng ngộ như nhau, nhưng khi truyền đạt, giáo huấn, dạy dỗ, áp dụng, một bên thì cực đoan, một bên thì diệu dụng. Tại sao? Tại vì một bên chỉ là ông thiền sư, bên kia ông thiền sư còn là ông vua! Ông thiền sư chỉ có vài trăm đệ tử, ông vua có cả một nước! Cả triệu dân! Trị nước mà cực đoan thì hỏng. Huống hồ trị một nước nhỏ phải đối phó với xâm lăng như mối họa truyền kiếp. Đố ai tìm được một mưu chước nào khác để giữ nước ngoài quốc sách đoàn kết toàn dân.
Và như vậy, tôi đã bước qua câu hỏi thứ hai: phải chăng dòng thiền Yên Tử đã giúp Việt Nam đánh bại xâm lăng?

Thiền đời Trần và chiến thắng xâm lăng

1. Đoàn kết quốc gia. Thử ngẫm mà xem: có đoàn kết nào bền chặt hơn đoàn kết tư tưởng? Rồi ngẫm mà xem đời Trần: vua Phật tử, vua thiền sư, vua tư tưởng gia, vậy mà Trần Thái Tông sùng kính Khổng Lão trong chính tư tưởng, chứ không phải chỉ dùng Khổng Mạnh như một dụng cụ chính trị. Khóa Hư Lục tôn trọng đến thế này: nếu liễu ngộ thì tam giáo đều giống nhau, bởi vì chỉ cần xoay lại ánh sáng rọi vào mình thì tánh giác ở ai cũng giống nhau. “Người chưa rõ dối chia tam giáo, liễu được rồi đồng ngộ nhất tâm. Nếu hay phản chiếu hồi quan, đều được kiến tánh thành Phật”.
Hòa thượng Thanh Từ giảng giải: “Dầu người tu theo Khổng giáo cũng có Phật, người tu theo Lão giáo cũng có Phật, và chúng ta tu theo Phật cũng có Phật. Ai cũng có Phật thì đều giống nhau. Không thể ông Phật này khác ông Phật kia được” (5). Thưa Hòa thượng, không phải ở đâu cũng được thế đâu. Trên thế giới hiện nay, ông thượng đế của tôi không phải là ông thượng đế của anh và chiến tranh hiện nay là chiến tranh giữa các ông thượng đế.
Đời Trần để lại một gia bảo vô song cho văn hóa Việt Nam: “lấy thiền tông làm chỗ tựa để dung hợp Khổng Lão vào một nhà”, như Hòa thượng Thanh Từ đã viết.Triết lý đoàn kết, nhưng không phải là triết lý ba phải. Từ lâu, ai cũng nói: tam giáo đồng nguyên là nền tảng của văn hóa Việt Nam. Đúng. Nhưng đừng quên: tam giáo đồng nguyên ở thời Lê không phải như vậy. Thời Lê đã để mất cái đặc sắc nhất của tinh hoa Việt Nam, nét độc đáo nhất, độc lập nhất của tư tưởng Việt Nam: lấy thiền tông làm chỗ tựa để dung hợp. Bất cứ dung hợp nào cũng phải có chỗ tựa, và nếu chỗ tựa đó là vay mượn thì văn hóa đó cũng chỉ là vay mượn mà thôi.
Thiền đời Trần là nét văn hóa độc đáo Việt Nam chính là vì vậy: vì dung hợp mà có chỗ tựa. Thiền của Đạo Nguyên, của Nhật Bản, không như vậy. Thiền đời Trần là thiền Việt Nam, tư tưởng của Việt Nam. Việt Nam cần đoàn kết để chống xâm lăng trước mắt; ông vua là tư tưởng gia; dung hợp là quốc sách; thực tế ấy đi vào tư tưởng thiền của ông vua; thiền ấy kết tinh thực tiễn Việt Nam; ấy là thiền Việt Nam, đặc biệt Việt Nam.
Đoàn kết tư tưởng lại còn được thực hiện trong chính tư tưởng Phật giáo, giữa thiền và tịnh. Từ trong bản chất, thiền đòi hỏi một khả năng trí tuệ mà không phải ai cũng có, trong khi đại đa số quần chúng đến với Phật giáo nhiều hơn vì lòng tin, nhất là tin ở họa phúc và ở vãng sanh tịnh độ. Là thiền sư, Trần Thái Tông trọng thiền. Nhưng là ông vua, ông thừa hiểu lòng dạ của quần chúng. Kết hợp cả hai thiền và tịnh mà không để mất tinh túy của thiền, đó là Phật giáo của mọi giai tầng xã hội, từ bậc thượng trí đến bậc hạ trí mà Thái Tông xem như căn bản. Ông dạy: “Bậc hạ trí thì miệng siêng niệm lời Phật, tâm muốn thấy tướng Phật, thân nguyện sanh về nước Phật”.
Rất thực tiễn, ông giải thích: “Như muốn niệm Phật, tức lấy bậc hạ trí làm trước. Tại sao? Vì có chú ý vậy”. Có khác gì ngồi thiền? Mà ngồi thiền có khác gì “nhất tâm bất loạn” trong kinh Di Đà? Tu như vậy, đúng như ông quả quyết: không phân biệt xuất gia tại gia, người tăng kẻ tục, nam hay nữ, ai tu cũng được. Phật giáo của quảng đại quần chúng được nâng cấp để kết hợp làm một với Phật giáo của giới ưu tú, uyên bác. Sau này, vua Trần Nhân Tông, sơ tổ của thiền Trúc Lâm, vân du nhiều nơi trong nước để khuyên dân tu trì ngũ giới và làm mười điều thiện. Bởi vì Vua biết: tu thiền không phải ai cũng tu được, khó như “trúc hóa nên rồng” (6) .
Ngược lại, trì ngũ giới và hành thập thiện thì toàn dân ai cũng tu được cả, Phật giáo không bị kẹt trong một thế khu biệt chuyên môn nào. Đó là, nói như Hòa thượng Thanh Từ, Phật giáo được quần chúng hóa, thiền tông được quần chúng hóa, ta ở giữa bụi đời mà vẫn “cư trần lạc đạo”(7). Ông thiền sư ở Nhật thấy một mặt; ông vua thiền ở Việt Nam thấy cả hai. Ông thiền sư ở Nhật chỉ thấy trên cao; ông vua thiền Việt Nam thấy cả cao lẫn thấp. Cho nên Phật giáo đời Trần vừa rộng vừa sâu, rộng ở nền móng, sâu ở thượng đỉnh, dưới trên đều cùng một tư tưởng thông suốt.
Muốn biết hệ tư tưởng đó sâu rộng thế nào, thắt chặt đoàn kết đến đâu, chỉ cần đọc mấy câu của nho gia Lê Quát: “Nhà Phật lấy họa phúc để cảm động lòng người sao mà được người tin theo sâu bền như thế! Trên từ vương công, dưới đến dân thường, hễ bố thí vào việc nhà Phật dù đến hết tiền của cũng không sẻn tiếc… Cho nên trong tự kinh thành, ngoài đến châu phủ, cho đến thôn cùng ngõ hẻm, không phải ra lệnh mà tuân theo, không bắt phải thề mà giữ đúng” (8). Đố bất cứ thời nào và bất cứ nước nào, Nhà nước không ra lệnh mà dân vẫn tuân theo, và tự ý tuân theo, cho đến tận thôn cùng ngõ hẻm. Điều lạ lùng ấy, nhấn mạnh bao nhiêu vẫn thấy thần kỳ, đố luật pháp trên thế gian này chỗ nào có. Có sức mạnh nào bền chặt hơn để chống xâm lăng?
2. Lãnh đạo tài ba. Đó là nói về yếu tố thắng lợi thứ nhất: đoàn kết dân tộc. Yếu tố thắng lợi thứ hai là lãnh đạo tài ba. Tôi không nói ở đây tài ba lãnh đạo của các vua Trần về chính trị và quân sự. Tôi chỉ nói về lãnh đạo trong tư tưởng. Bất cứ ở đâu và bất cứ thời nào, không Nhà nước nào cai trị mà không dựa trên một hệ ý thức. Vấn đề là hệ ý thức đó phục vụ ai và có được chấp nhận không. Nho thần Lê Quát đã trả lời câu hỏi này. Còn lại phải xét là: hệ tư tưởng đó đã ảnh hưởng lên thế nào trên tài ba lãnh đạo của các vua Trần của ta.
Về điểm này, tôi lại đem Nhật ra để so sánh. Giống ta, Nhật cũng bị Mông Cổ uy hiếp. Năm 1274, Hốt Tất Liệt huy động chiến thuyền để xâm lăng; may cho Nhật, trời xấu, biển động, chưa đánh, tàu thuyền của Mông Cổ đã bị đắm. Biết là Mông Cổ sẽ không tha, Tướng Quân Tokimune bắt chước cha (Tokyiuri) rèn luyện tính khí của mình và tính khí của tả hữu bằng cách học thiền thực sự.
Trong thời gian đó, nhiều thiền sư Trung Hoa đã qua lánh nạn tại Nhật khi nhà Tống bị Mông chinh phục, và chính Tokimune cũng có một thiền sư như vậy là thầy. Một chi tiết nhỏ cho vui: các ông thiền sư đó không biết nói tiếng Nhật nên phải nhờ thông dịch viên; khi ngồi thiền, thay vì quất thiền trượng vào lưng ông tướng, sư phụ quất nhẹ nhẹ vào lưng… thông dịch viên! Chuyện đáng nói hơn là tầng lớp võ sĩ đặc biệt thích thiền vì hợp với tính kỷ luật, tính thực tiễn, tính đơn giản, phi trí thức, chuộng hành động của họ. Đặc biệt hơn, có lẽ chỉ thấy ở đất Nhật, thiền lại còn đáp ứng được bổn phận trung thành đối với chủ, dù chết cũng không từ. Về phía các ông thiền sư Trung Hoa, vì ngôn ngữ không thông, các ông giản dị hóa thiền để dễ thích hợp hơn nữa với giới võ biền mà đa số kém chữ nghĩa.
Năm 1281, Mông Cổ cất đại quân đánh Nhật, mười vạn binh Nhật đang cầm cự thì một trận thần phong nổi lên đánh đắm cả hạm đội Mông Cổ. Thiền đã đóng góp đến mức nào vào thắng trận, đó là chuyện có thể bàn luận, nhưng không ai có thể chối cãi lòng can đảm của Tokimune và quân đội của ông, phát xuất từ luyện tập kỷ luật sắt đá dưới ảnh hưởng của thiền. Chính ông tướng này tuyên dương thiền bằng cách ra lệnh xây một ngôi chùa ở Kamakura để kỷ niệm thắng trận (9).
Bởi vậy, nói đến thiền ở Nhật là phải nói đến mối liên hệ với giai tầng võ sĩ. Ngôn ngữ thiền đặc biệt hợp với tai họ: “không làm không ăn”; “mỗi ngày đều là ngày tốt”; “đạo là tâm hàng ngày”; sống là dạy”; “đi đứng nằm ngồi đều là đạo” … tất cả đều thể hiện lý tưởng của họ. Thiền dạy họ nghe tiếng nói trong im lặng, tìm thấy hành động trong bất động, di chuyển trong bất di, khuấy động trong hòa bình, không sợ trước cái chết: tất cả đã tạo thành đạo của họ, võ sĩ đạo. Các tác giả Nhật cho rằng chính mối liên hệ đó đã tạo thành sắc thái đặc biệt của thiền Nhật Bản, khác với thiền Trung Hoa, khác với thiền Ấn Độ (10).
Ta không có giai cấp võ sĩ, nhưng hãy tưởng tượng quân đội thiện chiến đời Trần, luôn luôn tự đặt trong tinh thần sẵn sàng chiến đấu vì bị đe dọa ba lần, mà lần nào cũng đại chiến, lại đặt dưới sự chỉ huy của các tướng lĩnh được luyện tập trong khí thế thiền, chẳng lẽ thiền chỉ có ảnh hưởng trên quân đội Nhật Bản hay sao? Chẳng lẽ quân đội ta không được thừa hưởng về tính kỷ luật? Về lòng can đảm, gan dạ?
Cái gì khiến Trần Hưng Đạo tin chắc ở thắng trận ngay lúc đầu, khi thế giặc đang mạnh như chẻ tre, cái gì khiến ông quả quyết: “Nếu Bệ Hạ muốn hàng, hãy chặt đầu thần trước đã”? Cái gì làm ông quả quyết chắc nịch lần thứ hai, khi quân Nguyên lại chuẩn bị xâm lăng năm 1287: “Năm nay giặc đến dễ đánh”? (11) Ông tin ở gan dạ của quân đội, ông tin ở khí thế của các tướng, ông tin ở ông, và trên hết, ông tin ở tài lãnh đạo. Tài của ông và tài của Vua. Bởi vì vua này là vua thiền. Các tác giả Nhật cho rằng trong thiền ngấm ngầm một sức mạnh vô song do sự tin tưởng rằng con người có đủ khả năng để tự mình thấy được tánh giác. Nơi người lãnh đạo, sức mạnh đó đem lại bình tỉnh, ung dung, khi chỉ huy ở giữa gian nguy vẫn bình yên, sáng suốt.
Hãy đọc lại sử sách để xem Trần Nhân Tông ung dung như thế nào giữa trận mạc, có khi bị giặc đuổi trên sông nước, vẫn bình yên lấy gươm khắc thơ lạc quan vào mạn thuyền. Vua như thế, tướng như thế, làm sao quân không như thế? Lấy một chọi mười là chuyện thường nghe trong chiến trận ngày xưa và cả ngày nay.
Hơn ai hết, ông vua thiền của chúng ta đã đưa vào trận mạc, vào chính sự, vào đời sống, vào hành động, tính không khiếp sợ của triết lý có/không trong Bát Nhã, kinh ruột của thiền tông. “Bồ tát nương trí tuệ bát nhã nên tâm không ngăn ngại; vì tâm không ngăn ngại nên không sợ hãi…” Có gì mà sợ hãi khi đã thâm nhập triết lý có/không, vượt lên trên cả không lẫn có?

Câu có câu không
Đau đáu lo sợ
Cắt đứt sắn bìm
Đó đây vui thích (12)

Trong hành động, vượt lên trên có/không còn bao hàm một ý nghĩa tích cực cùng tột:

Có thì có tự mảy may
Không thì cả thế gian này cũng không

Cho nên khi Nhân Tông nói “không” thì ngài lên Yên Tử. Mà khi ngài nói “có” thì đích thân ngài lãnh đạo chống xâm lăng.
Mà đã nói “có” thì tam thiên đại thiên thế giới đều nằm gọn trên một mũi kim, như thiền tông nói. Vua, tướng, quân, dân cùng nói “có” với nhau trong tiếng “có” phi thường của người lãnh đạo, có đoàn kết nào vững hơn, có lãnh đạo nào chắc hơn? Nhân Tông không cần cho xây chùa như Tokimune để kỷ niệm chiến thắng. Bởi vì, đơn giản quá:

Bụt ở trong nhà
Chẳng phải tìm xa

Bụt ở nơi ngài. Lịch sử gọi ngài là vua Phật, là Phật Hoàng. Vua Phật lãnh đạo cuộc chiến chống xâm lăng, làm sao tách rời đâu là vua, đâu là Phật trong mỗi hành động của ngài? Ở Nhật có tinh thần samourai trong cuộc chiến, nhưng ở Việt Nam có cả một ông vua Phật và cả một hàng ngũ tướng lĩnh thấm nhuần thiền: cứ đem so sánh, ảnh hưởng của thiền ai nhiều hơn ai trong chiến thắng?
Cho nên, Phật giáo Việt Nam ở đời Trần là một hiện tượng kỳ lạ, độc đáo: không ở đâu khác, một ông vua vừa là tướng cầm quân, vừa là thiền tổ. Nơi ông vua ấy, kết tinh một tư tưởng, vừa là cơ sở lý thuyết, vừa là nền tảng giáo dục, lại vừa là thực tiễn hành động. Đó là một đạo Phật đặc biệt Việt Nam.
°°°
Tôi đã trả lời hai câu hỏi nêu lên ở đầu bài này. Trả lời của tôi chỉ xác nhận lại những gì mà các vị trước đã viết, chỉ khác ở chỗ tôi nhìn vấn đề dưới một góc cạnh khác. Bây giờ, trước khi kết thúc, tôi phải trả lời một chất vấn mà chắc có người sẽ đặt ra, cũng dưới khía cạnh so sánh: nếu nói thiền đời Trần dung hợp Khổng, Lão và Tịnh Độ, thì thiền ở Nhật sau Đạo Nguyên cũng vậy, có khác gì nhau?
Quả thật vậy, sau Đạo Nguyên, thiền ở Nhật bắt buộc phải kết hợp với tịnh và đó cũng là đề tài lớn của các vị thiền sư lớn. Người kết hợp giỏi nhất để thích ứng hài hòa nhất với thời đại mới của thế kỷ 18 là Bạch Ẩn Tuệ Hạc (Hakuin, 1685-1769). Thế nhưng, nhiều diễn tiến đã xảy ra khiến thiền ở Nhật đặc biệt ở điểm khác, không phải chỉ ở mối tương giao giữa thiền và tịnh.
Trước hết, ở Nhật không phải chỉ có hai tông thiền và tịnh, mà còn xuất hiện rất sớm, ngay từ thế kỷ 13, một tông thứ ba, phát triển không kém, là Nhật Liên tông mà ở ta không có. Chưa kể thần đạo, vẫn được xem như tôn giáo của dân Nhật.
Thứ hai, cũng rất sớm, thiền ở Nhật mất dần chất tôn giáo để phát triển thành chất văn hóa đi sâu vào đời sống của người Nhật. Chỉ sinh sau khi Đạo Nguyên mất 23 năm, thiền sư Muso (1275-1351) đã đưa thiền vào nghệ thuật vườn. Từ đó, thiền đầu thai vào kiếm đạo, cung đạo, trà đạo, hoa đạo, võ thuật đạo, thư pháp, thâm nhập vào tận nhà ốc, khuê phòng, vào mọi chi tiết của nghệ thuật, tạo thành một văn hóa đặc biệt, có bản sắc riêng mà thế giới đều biết. Ta thán phục bản sắc đó, nhưng chắc có lẽ cũng nên để ý một nhận xét của chính Muso – một nhận xét từ nội bộ: các sư đã trở thành “những cư sĩ xuống tóc”, nhập cửa thiền để vẽ và để làm thơ! (13)
Còn thiền của ta thì sao? Thiền ở Nhật phát triển thành văn hóa thiền, còn ở ta đâu rồi cái chất trí tuệ vạm vỡ của dòng thiền Yên Tử? Trong tình trạng Phật giáo phát triển bề rộng mà thiếu chiều sâu hiện nay, những cố gắng để làm sống lại tinh túy Yên Tử của Hòa thượng Thanh Từ phải được mọi Phật tử xem như cố gắng của chính mình. Và không phải chỉ riêng Phật tử! Bất cứ người Việt Nm nào hãnh diện về lịch sử của nước mình đều muốn nước mình có một triều đại rực rỡ như thế, nhất là trong tình trạng xâm lấn hiện nay. Triều đại rực rỡ đó đã được xây dựng trên một văn hóa rực rỡ. Rực rỡ và độc lập.
——————————
Chú thích:
1. Masumi Shibata, Les maîtres du Zen au Japon, Robert Laffont, 1974, tr. 41.
2. Như trên, tr. 47.
3. Thomas Hoover, L’Expérience Zen, Albin Michel, 1989, tr. 228.
4. Shibata, tr. 64-65.
5. Thích Thanh Từ, Khóa Hư Lục giảng giải, NXB Tổng Hợp, TPHCM, 2008, tr. 249.
6. Trong “Đắc thú lâm tuyền thành đạo”. Xem Lê Mạnh Thát, Toàn Tập Trần Nhân Tông, NWB Thành Phố HCM, 2000, tr. 260-261.
7. Thích Thanh Từ, trong Thiền học đời Trần (nhiều tác giả), NXB Tôn Giáo,2003, tr. 56.
8. Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, tập 2, NXB Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1985, tr. 161.
9. Thomas Hoover, sđd, tr.239.
10. Junjiro Takakusu, Buddhism as philosophy of “thusness”, Philosophy-East and West (ed. by Charles A. Moore), Freeport, New York, 1970, tr. 106.
11. Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, tr. 59.
12. Thích Thanh Từ, Tam tổ Trúc Lâm, NXB Tổng Hợp TPHCM, 2008, tr. 114.
13. Thomas Hoover, sđd., tr. 241.

_______________________________________________________

Posted in Chính trị Việt Nam, Chuyện chính trị, Chuyện tôn giáo, Chuyện xã hội, Chuyện đất nước, Triết học | Tagged: , , , | Leave a Comment »

Ðức Phật đản sinh

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Năm 28, 2010

Thái Kim Lan

Tháng tư âm lịch, trăng tròn, sen nở, Phật tử mừng Ðức Phật ra đời, cách đây 2630 năm, một điểm mốc xa xôi cho con người hôm nay, nếu tính về thời gian, nhưng nếu tính về sức sáng, sức đầy, sức lớn có thể đẩy lùi u minh thì vầng trăng tháng tư vẫn mãi tròn như thế, vành vạnh rỗng thời gian, minh bạch hiện tiền trong đôi mắt nhân gian.

Tiếp nối hào quang chói lọi của vừng thái dương tháng năm xứ Ấn, “purnima”, ngày trăng tròn của Vaisakha, theo kinh chữ Hán là “viên nguyệt”, tháng tròn trăng – có tên quốc tế Vesak, ngày Phật Ðản – là ngày mặt trăng nối tiếp mặt trời, là ngày hết đêm, ngày không đêm, một ngày “là đây, bây giờ” không còn đối đãi ngày đêm trong hai tầng ánh sáng: ánh sáng của vũ trụ vật thể bên ngoài và ánh sáng của trí tuệ, tâm thức bên trong, một thứ giao thoa ánh sáng cho thấy suốt cả những cõi trời, cõi người, chuyển động kiếp nhân sinh mà trong kinh Ðại Bổn diễn tả:
“… Và mười ngàn thế giới chuyển động, rung động, chuyển động mạnh. Và hào quang vô lượng thần diệu ấy thắng xa oai lực của chư Thiên…” [1].

Ngày Phật đến như thế!

Mặt trời thái dương hệ chói lọi, nhưng mặt trời đi xuống, nhường cho đêm, mặt trời không bao giờ biết đêm, chỉ có trăng mới thao thức với đêm, trăng cải hóa đêm dày, soi đường, làm cho người đi trong đêm tối không còn sợ hãi, ánh trăng thức tỉnh trong lúc mặt trời có thể làm say. Chẳng ai nhìn được mặt trời lâu hơn một giây, còn trăng sáng mà không lòa.
“Ánh sáng phát sanh đến Như Lai, rọi rõ những việc trước kia chưa từng được nghe đến.” [2] , những việc còn nằm trong bóng đêm vô minh.
“Ánh sáng phát sanh đến Như Lai, rọi rõ những việc trước kia chưa từng được nghe đến.” những việc còn nằm trong bóng đêm vô minh.
Chẳng phải tình cờ mà ngày trăng tròn tháng tư được các tông phái Phật giáo đồng ý xác định cho 4 sự kiện trong cuộc đời của Ðức Phật – Ðản sinh, Xuất gia, Thành đạo, Niết Bàn – (khởi đầu từ năm 1956 – Phật lịch 2500), sự kiện được gọi là 4 điểm làm cho “động tâm” con người.
Ý niệm thời gian lịch sử hầu như được thu lại trong một vầng trăng tròn sáng. Nơi vòng tròn luân lưu ấy điểm khởi đầu cũng là điểm cuối cùng, trong suốt, nhất quán. Ý niệm lịch sử đường thẳng được cởi bỏ để chỉ còn ý niệm về chân lý vượt thời gian, “trỗi mầm nhân vượt qua mọi vầng dương” như nhà thơ R. M. Rilke [3] diễn tả khi nhìn thấy Ðức Phật xuất hiện trong tâm mình: mặt trời, đỉnh cao hực sáng của vũ trụ, cao mấy rồi cũng có lần khuất núi nhưng hạt nhân của quả lành đã được nẩy ra và thực chứng từ khi Phật đến với thế gian, vượt trên mọi vầng dương, bất sanh bất diệt:
“Và ngài là vì sao. Và những sao trời khác lạ, mờ mịt mắt trần, lũ lượt về chầu tinh đẩu sáng” [4] (Rilke). Ngôi tinh đẩu trong câu thơ của Rilke cho ta liên tưởng đến ghi chú ở bìa kinh Trường A Hàm: bốn thời điểm của Phật đều vào ngày “thất tinh”, ngày sao mai [5] xuất hiện.
Như Lai đến thế gian với tấm “Thân này là tối hậu” [6] , quả hạnh nhân viên mãn, một con người (ngã = aham, nhân vật đại danh từ, chứ không phải ngã = atta hay atman) [7] , một Nhân Phật sau cùng nhất (duy) của tất cả các đấng Chánh đẳng giác trong muôn kiếp, với hạnh nguyện và khả năng chấm dứt vòng luân hồi sanh tử mà chính Phật cũng đã trải qua. Vượt luân hồi sanh tử là mục đích cao nhất của bước đến Như Lai, đó là ý nghĩa của câu “Thiên thượng thiên hạ, duy ngã (aham) độc tôn, vô lượng sanh tử, ư kim tận hỷ” [8] nói lên hạnh nguyện của Phật đến với nhân loại.
“Duy ngã độc tôn ư tư sanh tử dĩ tận” đi ngược với mọi tư duy về khái niệm bắt đầu có tính nguyên nhân tối thượng, đánh dấu một bước chuyển rốt ráo trong vòng quay luân hồi: không là nguyên nhân cuối cùng mà “ta là người duy nhất” lấy sự chấm dứt luân hồi sanh tử làm điểm khởi đầu.
Như con tằm cựa mình nhả tơ, sợi tơ có một điểm bắt đầu. Mỗi sự bắt đầu trong vũ trụ đều vướng vất một chút siêu hình, nhất là điểm bắt đầu của mọi bắt đầu, vượt khỏi thường nghiệm giác quan, nó bao hàm nghịch lý, đầy chất huyền thoại sáng thế. Bởi vì điểm bắt đầu của mọi bắt đầu cũng cần có một bắt đầu, như con tằm còn nằm trong cái kén u minh, phải chăng lại thêm một nghịch lý khi nói điểm chưa bắt đầu là nguồn gốc của mọi bắt đầu?
Ðọc kinh Ðại Bổn của Phật tự thuyết về sự đến thế gian của Phật, ta thấy những câu hỏi siêu hình về điểm “trước nhất” được thay thế bằng sự nhớ về 91 kiếp trước, như một chuyện “đời xưa”, một câu chuyện truyền kiếp, nó không đòi một giá trị tuyệt đối như những tín lý giáo điều về một nguyên nhân rốt cùng.
Cái không khí “nhớ về” ấy thật ấm cúng nhân tình, giống như mỗi một người từ hơn hai nghìn năm nhớ về thời thơ ấu, trong chùa, trong đình, trong nhà, trong làng xóm, trong rừng, dưới gốc cây đa hay cây bồ đề, đã có lần ngồi nghe bổn sư hay cha mẹ kể chuyện Phật đản sinh:
“Thánh Ma Gia mộng ứng điềm lành, Vua Tịnh Phạn phước sanh con thảo”.
Ðức Phật chỉ con đường (bát chánh đạo) cho mỗi người, mà khi thực hành, con người có thể tìm thấy giác ngộ bất tử ngay trong chính cuộc đời hiện tại, bởi vì mỗi người đều mang chủng tử Phật tính, mỗi một con người là vị Phật đang thành.
Thuở ấy cách đây hơn 2550 năm, 1250 vị Tỳ kheo cũng đã ngồi nghe Phật kể về sự rong ruỗi 91 kiếp với bảy đời Phật Tỳ Bà Thi (Vipassi) như thế. Như Lai, Cồ Ðàm, vị Phật lịch sử đang ngồi kể chuyện cho 1250 vị tỳ kheo về tiền kiếp của Như Lai, là vị Phật “tối hậu” [9] , đến sau cùng. Như Lai không phải là người sáng thế, Như Lai không đưa một yêu sách như thế, Như Lai có tiền kiếp và có cha mẹ, nhưng Như Lai là vị Phật sau rốt (tối hậu) với hạnh nguyện duy nhất: chấm dứt khổ não sanh tử luân hồi. Chỉ có Như Lai, vị Bồ tát duy nhất tuyên bố giải phóng ràng buộc sanh tử, hay nói cách khác, sự xuất hiện của Như Lai là sự xuất hiện của hạnh nguyện giải thoát, của ý chí tự do vượt khỏi trói buộc luân hồi:
“Này các Tỷ-kheo, nay phụ vương của Ta tên là Suddhodana (Tịnh Phạn); mẫu hậu của Ta tên là Mãyã (Ma-da); kinh thành tên là Kapilavatthu (Ca-tỳ-la-vệ).
“Này các Tỷ-kheo, pháp nhĩ là như vậy. Vị Bồ-tát khi sanh ra, Ngài đứng vững, thăng bằng trên hai chân, mặt hướng phía Bắc, bước đi bảy bước, một lọng trắng được che trên. Ngài nhìn khắp cả mọi phương, lớn tiếng như con ngưu vương, thốt ra lời như sau: “Ta là bậc tối thượng ở trên đời ! Ta là bậc tối tôn ở trên đời. Ta là bậc cao nhất ở trên đời. Nay là đời sống cuối cùng, không còn phải tái sanh ở đời này nữa” [10].
Bài kệ trong Kinh Trường A Hàm [11] đã ghi:
“Này các Tỳ-kheo, pháp thường của chư Phật, Bồ-tát Tỳ-bà-thi, khi sanh, do hông phải của mẹ mà ra, chuyên niệm không tán loạn. Ngài từ hông phải ra, vừa đến đất, không cần người đỡ, liền đi bảy bước, ngó khắp bốn phương, rồi đưa tay lên nói rằng: ‘Trên trời dưới đất, duy Ta là tôn quý’, Ta sẽ cứu độ chúng sanh khỏi sinh, già, bệnh, chết. Ấy là thường pháp của chư Phật.”
Giống như sư tử bước,
Ngó khắp cả bốn phương;
Nhân sư tử khi sanh,
Đi bảy bước cũng thế
Lại như rồng lớn đi,
Khắp ngó cả bốn phương,
Đấng nhân long khi sanh,
Đi bảy bước cũng thế
Khi đấng Lưỡng túc sanh,
Đi thong thả bảy bước,
Ngó bốn phương rồi nói.
Sẽ dứt khổ sinh tử.
Ngay lúc mới sanh ra,
Đã không ai sánh bằng,
Tự xét gốc sinh tử,
Thân này thân tối hậu.

Dứt khổ não sinh tử là mục đích của Ðức Phật đến thế gian với “thân tối hậu”, tấm thân cuối cùng thực hiện tự do và bất tử.
Từ “Pháp nhĩ” bảy bước hoa sen [12] đầu tiên trên trái đất báo hiệu ý nguyện giải phóng luân hồi sanh tử, như một hạt mầm, chủng tử Như Lai, chủng tử [13] Phật tính từ muôn kiếp, gặp đất, thái tử Gotama Siddhattha (Cồ Ðàm Tất Ðạt Ða) xuất hiện trong lịch sử nhân loại với ứng thân gồm 32 tướng tốt [14] . “Ðức Phật lịch sử” của giòng họ Sakya (Thích Ca) đã trở nên tấm gương tối hảo cho thực chứng giải thoát. Với tuổi 29, thái tử Tất Ðạt Ða rời khỏi thành Ca-tỳ-la-vệ lên đường “tìm điều lành chữa khổ đau” [15] cho nhân loại, bởi vì con người ai ai cũng sợ già, bệnh, chết. Dưới cội Bồ đề, theo phương pháp nhập định của chính Người tìm ra, Thái tử Tất Ðạt Ða giác ngộ thành Phật [16] . “Thế tôn giác ngộ dưới gốc cây assattha (bát- đa-la)” [17] .
“Amatam adgigatam” đó là lời đầu tiên Phật thốt ra sau khi giác ngộ: “sự bất tử đã được tìm thấy!” Những chữ ấy tuyên báo cả nội dung giáo lý của Phật Cồ Ðàm. Chính sự thực chứng “bất tử” này cho ta hiểu sâu hơn câu tuyên ngôn ý chí tự do, giải phóng sanh tử luân hồi của bảy bước hoa sen. Nếu muốn hiểu toàn bộ giáo lý của Phật, cần hiểu khái niệm “bất tử”, và năm vị đệ tử đầu tiên [18] của ngài đã hiểu, bởi vì họ được Phật chỉ cho thấy lý duyên khởi trong tương quan với giác ngộ bất tử: sự bất tử nằm trong thực chứng “”tất cả những gì sanh khởi đều hoại diệt” (kinci samudhayadhamman sabbam tam nirodhadhammam).

Những gì do duyên sinh
Phật chỉ rõ nguyên nhân
Chúng hủy diệt thế nào
Ðại hiền sư giảng rõ

Bốn câu kinh ngắn tóm tắt giáo lý Ðức Phật mà Assaji, vị đệ tử thứ năm, trên đường đi khất thực đã đọc lên và làm cho Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên giác ngộ, trở nên những đại đệ tử của Phật, trong lúc hai vị đang ở trên đường đi tìm “sự bất tử” [19].
Theo đó “Amatam”, “bất tử” không phải là “đời sống vĩnh cửu”, bởi vì tất cả những gì thuộc về “đời sống” đều nằm trong qui luật sanh-diệt. Sống và chết thuộc vào nhau, chúng không thể phân cách nhau. Hễ sanh thì diệt, diệt rồi sanh, tất yếu trong chuỗi luân hồi bất tận, cho nên “bất tử” không phải là sự hứa hẹn một cuộc sống trên thiên đường vĩnh cửu sau khi chết, mà là sự chấm dứt chuỗi luân hồi này bằng con đường tu chứng thực hiện giải phóng ngay trong hiện tại, trên trần gian. Từ đó có thể hiểu “duy ngã độc tôn” qua ý nghĩa thực hiện bất tử như là trạng thái siêu vượt, đứng trên hai cực đối đãi sanh tử.
Là vị Phật đã thành do chính giác ngộ “nguồn gốc sanh tử”, Ðức Phật chỉ con đường (bát chánh đạo) cho mỗi người, mà khi thực hành, con người có thể tìm thấy giác ngộ bất tử ngay trong chính cuộc đời hiện tại, bởi vì mỗi người đều mang chủng tử Phật tính, mỗi một con người là vị Phật đang thành.
“Amatam adgigatam” đó là lời đầu tiên Phật thốt ra sau khi giác ngộ: “sự bất tử đã được tìm thấy!” Những chữ ấy tuyên báo cả nội dung giáo lý của Phật Cồ Ðàm.
Có thể nói yếu tính giáo lý của Ðức Phật nằm trong chữ “chuyển”: chuyển bánh xe sanh tử tạo cơ hội giác ngộ bất tử thành Phật. Khả năng chuyển đổi, cải hóa nằm trong tay mỗi người:
“… trong tấm thân cao 6 trượng này – với tri giác và ý thức của nó, cả thế giới đều bao hàm trong ấy cùng với sự hình thành và chấm dứt thế giới cũng như con đường dẫn đến đoạn diệt” [20].
Ðó là hình ảnh con người với những điều kiện hiện sinh giới hạn và khả thể vượt giới hạn của nó: con người tạo khổ và con người có thể diệt khổ (tứ diệu đế). Ðức Phật cho rằng con người là thực thể có cơ hội và khả năng ưu việt hơn tất cả những sinh thể (ngay cả thiên nhân) khác trong quá trình giải phóng thực hiện tự do và giác ngộ bất tử. Ðược làm người là một hạnh ngộ trong viễn tượng giác ngộ thành Phật. Quá trình “chuyển nghiệp”, đổi mới con người từ hiện trạng đau khổ, bị ràng buộc bởi những điều kiện hiện sinh trở nên con người tự tại, tự do, giải tỏa mọi trói buộc là một quá trình tu chứng gồm cả ba lãnh vực: tri thức (prajna= Tuệ), đạo đức (sila = Giới) và hội nhập ý thức nhất thể hay nhập định (sammadha= Ðịnh).
Hội nhập tu chứng đòi hỏi một cái nhìn đúng đắn về bản chất mọi sự vật. Chìa khóa mở ra chân trời nhân sinh mới không ở đâu khác hơn là ý chí thay đổi cái “ngã” chấp chặt vào những định kiến, nhất là chấp chặt vào chính cái “ngã” của nó như một khái niệm bản thể thường còn, cố định, vô điều kiện và không khổ não. Trên bình diện tri thức luận, đó là một khái niệm mâu thuẫn với chính nó và với thực tại vô thường. Một khái niệm “ngã” cố định, đóng kín tất cả cửa khai thông, không tạo được điều kiện chuyển đổi cho chính nó, là nguyên nhân tạo nên ảo tưởng và khổ não. Tri kiến như thật cho thấy khi phân tích khái niệm “ngã” ta chỉ thấy những nhóm tập hợp “năm uẩn” (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) nằm trong tương quan điều kiện duyên khởi “cái này có thì cái kia có”, chúng vô thường và không có một bản thể tự sinh, chúng “vô ngã”. Vô ngã là bản chất của ngã trong dòng duyên khởi của thập nhị nhân duyên.
Với khái niệm “vô ngã” Ðức Phật không phủ nhận hiện sinh, hủy diệt nhân cách hay hạ thấp con người, ngược lại chính cái nhìn “vô ngã” trả lại cho con người khả năng cải đổi (chuyển nghiệp) sống động, mà nó đánh mất trong lúc mê muội giữ chặt cái tôi, khả năng có thể tự nâng con người từ bình diện giới hạn ràng buộc hiện sinh lên bình diện tự do, khai phóng, có phẩm chất nhân tính cao quí. Trên bình diện tri thức luận, cái nhìn vô ngã linh động hóa vai trò của chủ thể trong tương quan điều kiện với thế giới khách thể. Nhìn đúng tương quan ấy trong dòng thể tính biến chuyển (werden) là đến gần chân lý, phá vỡ vô minh và sai lầm, nguyên nhân của khổ trạng. Trên bình diện đạo đức học, cái nhìn “vô ngã” là điều kiện cho hành động đạo đức, bởi vì nó khai thông khả năng chuyển đổi con người, tạo điều kiện xả bỏ vị kỷ, phá chấp ngã, chuẩn bị tâm linh hòa nhập và cảm thông với tha nhân, mở rộng tình thương, từ bi với muôn loài. Trên bình diện hội nhập ý thức nhất thể, cái nhìn “vô ngã” đưa ta thâm nhập Niết bàn, không còn vướng mắc, mọi phân biệt được giải tỏa, tự do và bình đẳng được thực hiện trong tâm vô phân biệt: sống và để cho người khác cùng sống, sự sống mới chan hòa.
Sự bất tử không nẩy mầm trên mảnh đất khô cứng của cái ngã vị kỷ, chỉ biết có “tôi”, chính trên mảnh đất của “tôi và người”, của “chúng ta”, “bất tử” hiện thực như con sông đổ vào đại dương trở nên vô bờ.
Ngài Xá Lợi Phất đã trình bày cho Phật thực chứng “bất tử”, mà ngài đã không tìm được ở những đạo sư khác trước khi đến học Phật, căn cứ vào lời dạy vô thường vô ngã của Phật như sau:
Nếu có ai hỏi Xá Lợi Phất đã thực hành như thế nào trong khi căn cứ vào sự giải phóng để đạt được liễu tri là ngài không còn ở trong qui luật sanh tử (tái sinh) nữa: “Ðệ tử sẽ trả lời: căn cứ vào sự giải phóng nội tâm, bởi vì đệ tử đã chấm dứt mọi thủ và chấp, nên đệ tử sống thường xuyên trong sự vững tâm tự chủ, không để những thâm nhập, những ảnh hưởng trần thế chế ngự. Ðồng thời đệ tử không chối bỏ cái ngã” [21] .
Chấm dứt cái ngã hủ hóa để chuyển cái ngã vào hội nhập thực chứng siêu việt sinh tử, kinh nghiệm này của ngài Xá Lợi Phất làm rõ ý niệm “bất tử” của Ðức Phật: muốn “bất tử” cần phải chính mình sửa đổi nội dung “sanh tử” như qui luật đè nặng con người đã xem” sống” như một tiến trình đường thẳng đến cái “chết” (duyên sanh lão tử sanh [22] ). Sống trong sợ hãi cái chết, sống trong viễn tượng để chết, sống trong tùy thuộc ảo ảnh vĩnh cửu, chẳng khác gì đang chết trong từng phút từng giây, con người sống mà chết trong sự vô minh của chính mình. Ý niệm “Bất tử” của Ðức Phật trả lại định nghĩa đích thực cho khái niệm sống: sống là không chết (bất tử), là sống trong từng phút từng giây, không một giây buông thả để thần chết có thể “nhìn thấy ta”, đó là kinh nghiệm của Phật trong khi quán tưởng dưới gốc cây Bồ Ðề, và cũng là kinh nghiệm của đại đệ tử Xá Lợi Phất. Ý niệm “bất tử” không kéo dài thời gian vật lý của chuỗi “sống chết” mà đổi phẩm chất, ý nghĩa sống lên trên một cấp bực khác, ở đó sức sống chan hòa trong mỗi sát na thức tỉnh, sáng tạo, không sợ hãi.
Xá Lợi Phất là mẫu con người mới, được Ðức Phật truy nhận là một trong những đệ tử đắc đạo nhất về giác ngộ bất tử.
Sự chuyển đổi tình trạng “sống trong sợ hãi cái chết” sang “sống không sợ chết” hay sống trong tự do sáng tạo là một quá trình tu chứng. Giác ngộ bất tử nằm trong thực chứng rốt ráo nguyên nhân của khổ đến từ vô minh và ảo tưởng nhầm lẫn bản chất sự vật vốn vô thường, biến đổi như những thực thể thường còn, bất biến, nằm ở sự dứt bỏ tham sân si, chấp ngã, nằm trong sự thực chứng khổ não, vô thường, vô ngã, thực hiện hạnh từ bi không làm hại chúng sanh (ahimsa) [23] từ đó đạt được trạng thái Niết Bàn, một trạng thái vượt trên đối đãi sanh tử, tự do trong nghĩa cởi bỏ mọi ràng buộc, nhất là mọi ham muốn thế lực đến từ sự chấp ngã, nguyên do của mọi tranh chấp thế lực. Lòng ham muốn thế lực là điều mà Ðức Phật khuyên cần phải hủy diệt để thực hiện hòa bình nội tâm. Trong suốt 45 năm thuyết giảng độ sinh, Ðức Phật đã là vị sứ giả hòa bình tối hảo với giáo lý giác ngộ bao dung căn cứ trên “như thật tri kiến” và bất bạo động [24]:

Khi thức không âu lo
Khi ngủ chẳng sợ hãi
Ngày đêm không khởi lên
Phiền não bận lòng Ta.
Ta không thấy tai hại,
Một chỗ nào trên đời.
Do vậy, ta nằm nghỉ,
Tâm từ, thương chúng sanh [25].

Chân lý mà Ðức Phật muốn chúng sanh đạt được như Ngài là một chân lý do trí tuệ khai mở và mỗi người có thể tự mình chứng nghiệm chứ không do một thế lực hay uy quyền ngoại tại, ngay cả uy quyền của Thượng đế hay của chính Ðức Phật, bắt buộc hay ban phát, đồng thời chân lý này không phải chỉ để thoả mãn tò mò tri thức ngay cả tri thức khoa học. Theo Ðức Phật, chân lý chỉ là chân lý trong nghĩa vừa đúng thật vừa giúp con người giải thoát mọi phiền não trói buộc, phục vụ nhân loại, thực hiện quân bình nội tâm, tự tại, hóa giải sợ hãi và tuyệt vọng:

Với tâm trong sáng, hãy nhìn cõi đời biến đổi như không,
Dứt sạch ngã điên rồ, thoát khỏi tử thần người giải phóng,
Thần chết chẳng thấy ta, kẻ nhìn thế gian như nhà rỗng [26]

Một khi thấy rõ được lý duyên khởi, nguyên lý của vô thường, nắm vững qui luật sanh diệt, con người trở nên tự chủ, tự do, thức tỉnh và tinh tấn, chuyển đổi hướng đi bánh xe luân hồi về hướng bánh xe chánh pháp [27] , phát triển quân bình tâm trí, sự sợ chết biến mất, bất tử được thực chứng, trạng thái hòa bình tịch tịnh – Niết bàn – được hội nhập.

Tự mình, điều ác làm,
Tự mình, làm nhiễm ô.
Tự mình, ác không làm,
Tự mình, làm thanh tịnh.
Tịnh, không tịnh tự mình.
Không ai thanh tịnh ai! [28]

Như Lai đến thế gian này, nói như S. Radhakrishnan, “… để thực hiện chứ không phải để hủy diệt”, trong một chừng mực cũng đồng nghĩa với nhận định” [29]. Thế tôn lấy sự chấm dứt sanh tử luân hồi” làm khởi điểm cho ý chí tự do thực hiện hội nhập tâm linh siêu việt sanh tử, hay nói cách khác, Như Lai đến thế gian nhằm thực chứng sự sống xứng đáng (bất tử) của con người trong hiện tại.
Thế tôn lấy sự chấm dứt sanh tử luân hồi” làm khởi điểm cho ý chí tự do thực hiện hội nhập tâm linh siêu việt sanh tử, hay nói cách khác, Như Lai đến thế gian nhằm thực chứng sự sống xứng đáng (bất tử) của con người trong hiện tại.
Ðã 50 năm từ khi ngày lễ Vesak được thế giới công nhận là ngày lễ quốc tế, nhận xét của S. Radhakrishnan về Ðức Phật và giáo lý của Ngài trong ngày Phật đản năm 1956 vẫn còn thời sự, chứng tỏ giáo lý của Ngài vượt trên vô thường, biến chuyển, vì sự sống của con người:
“Sau vô số những tìm kiếm, có khi loài người biết xác lập chính mình, giác ngộ mục đích sự hiện hữu của mình một cách cao thượng, để rồi lại làm mất chính mình trong tiến trình phân hóa rất chậm chạp. Ðức Phật nhắm tới việc gây dựng một hạng người tự do mới, thoát khỏi những thành kiến, quyết tâm xây dựng tương lai, và chỉ trông cậy vào chính mình. Giáo lý nhân bản của ngài vượt lên trên những hàng rào chủng tộc và quốc gia. Nhưng tình trạng hỗn loạn của thế giới phản chiếu sự xao động trong tâm trí con người. Lịch sử đã trở thành tính cách hoàn cầu. Ðề tài của lịch sử không còn là Âu hay Á, Ðông hay Tây, mà là nhân loại ở mọi xứ và mọi thời đại. Thế giới là một thực thể độc nhất, dù người ta muốn hay không muốn, và dù có sự chia rẽ về chính trị. Vận mệnh của mỗi người có liên quan tới vận mệnh của người khác. Nhưng chúng ta đang chịu sự mệt mỏi của tâm linh và sự gia tăng tâm vị kỷ cá nhân cũng như tập thể, làm cho ý niệm thế giới đại đồng khó có tính cách hấp dẫn, cái mà chúng ta đang cần là một quan kiến tâm linh về vũ trụ mà xứ Ấn độ này đã có, để lại thổi vào cuộc đời, mở tung những cánh cửa đang đóng kín đời người. Chúng ta phải tái lập lý tưởng tự do tâm linh. Nếu muốn có hòa bình, chúng ta phải duy trì sự hòa hợp nội tâm đó, sự thăng bằng tâm linh đó, vốn là những thành tố thiết yếu cho hòa bình. Chúng ta phải thủ đắc chính mình, dù phải mất tất cả những thứ khác. Tinh thần tự do sẽ không hạn chế lòng từ ái của mình, sẽ nhận ra điểm linh quang trong mỗi con người, và sẽ cống hiến chính mình cho lợi ích của nhân loại. Nó sẽ liệng bỏ mọi sự lo âu, trừ sự sợ mình làm điều xấu, sẽ vượt lên trên hàng rào thời gian và sự chết để tìm năng lực vô tận trong bất tử.”
Giác ngộ trong tự do, hoà bình và hòa hợp, đó là thông điệp bất tử mà Ðức Phật Thích Ca đã để lại cho chúng ta hôm nay trong thế kỷ toàn cầu hóa, sau khi nhập diệt với lời căn dặn mỗi người “hãy tự thắp đuốc lên mà đi”. Với tuổi thọ 80, mà Ngài tự cho là ngắn ngủi “tuổi thọ của Ta không bao nhiêu, ít ỏi, tuổi thọ loài người khoảng một trăm năm hay hơn một chút” [30] so với tuổi thọ loài người là tám vạn năm thời A la hán Tỳ Bà Thi (Vipassi). 45 năm thuyết Pháp không ngừng nghỉ đã là 45 năm thực chứng Niết Bàn của Ðức Phật. Là một Ðấng Toàn Hảo, hành động của Ngài không bị động lực của tham sân si chi phối và do đấy không có hậu quả luân hồi. Ðộc lập với những năng lực bản năng tái sinh (chấp thủ) nhưng “tấm thân tối hậu” ấy cũng nằm trong định luật sinh diệt, như Ngài đã nhắn nhủ người đại đệ tử cận kề nhất Ananda không nên bi lụy, hãy lấy Chánh Pháp của Phật để thấy Phật.
Thiên kinh vạn quyển đã viết về sự tích của Phật. Giữa tất cả những huyền thoại, ca ngợi, tôn sùng, như kẻ đi tìm và gặp: những người thợ tạc tượng có thể (cũng như đã) lấy ra được khối ngọc trong suốt qua lời nói của chính Phật về Người để tạc tượng:
“Này Sariputta, những ai nói một cách chơn chánh sẽ nói như sau: “Một vị hữu tình không bị chi phối đã sanh ra ở đời vì hạnh phúc của số đông, vì an lạc cho số đông, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư thiên và loài người”” [31].
Một cách đơn giản, sau khi giác ngộ, Ðức Phật tự xưng là Như Lai, Tathagata, có nghĩa người đã đi đến chân lý, như thế, tự tại thong dong, cứu độ chúng sinh.

Vui thay Phật ra đời!
Vui thay Pháp được giảng! [32]

München, ngày Phật Ðản, 2630, PL 2550 (12. 05. 2006)
————————
Chú thích:
[1]Trung Bộ Kinh, Kinh Ðại Bổn 29, Thích Minh Châu dịch
[2]Kinh Chuyển PhápLuân
[3]R. M. Rilke (1875-1926), thi hào Ðức, thơ ca ngợi Ðức Phật (bản dịch Thái Kim Lan)
Đức Phật trong hào quang
Tâm của toàn Tâm, Nhân của Nhân
Quả Hạnh Nhân – vừa viên thành, thấm ngọt
Cái TẤT CẢ ấy vút đến sao trời muôn một
Là xác thịt quả nhân: xin chào hân hạnh!
Hãy xem! Nơi thân này còn chi vướng bận,
trong vô cùng là lớp vỏ ngoại thân
và nơi đó mật dâng đầy tràn ứ
và bên ngoài ấp ủ ánh hồng quang
Bởi lẽ trên tận đỉnh cao kia, tròn đầy hực nóng
Vầng thái dương đang chuyển bóng tà dương
Nhưng “quả thật” chính từ trong trái hạnh
đã trỗi mầm nhân vượt qua mọi vầng dương.
[4]Rilke, đd, thơ:
Đức Phật
Dường như Ngài đang lắng nghe. Tĩnh lặng: cõi xa…
Ta dừng lại và không còn nghe im lắng
Và Ngài là vì sao. Và những sao trời khác lạ,
mờ mịt mắt trần, lũ lượt về quanh tinh đẩu sáng…
Ngôi tinh đẩu trong câu thơ của Rilke cho ta làm liên tưởng đến ghi chú ở bìa kinh Trường A Hàm: bốn thời điểm của Phật đều vào ngày “thất tinh” ngày sao mai mọc lên. Ngày Phật đản sanh là ngày trăng rằm nằm trong hình tượng sao Pusya, thất tinh. (xem thêm, K. Leider, Buddha, Lübecker Akademie Verlag, 2002, tr. 221)
[5]Kinh Trường A Hàm ghi 4 sự kiện vào ngày mồng 8 tháng 4, gọi là ngày thất tinh = sao mai mọc lên
[6]Kinh Trường A hàm
[7]chữ “ngã” ở đây trong kinh tạng Pali là “aham”, một đại danh từ nhân vật theo qui ước văn phạm, không có nghĩa của chữ “ngã” = atta = atman trong ngã chấp hay ngã mạn.
[8]Câu kinh “duy ngã độc tôn” đứng một mình thường gây hiểu lầm là Ðức Phật tự cho cái ngã của Ngài cao nhất, mâu thuẫn với lời dạy về vô ngã của Phật. “Duy ngã” cũng thường được hiểu theo ý niệm “ngã” trong ngã chấp. Xem ghi chú 7.
[9]Theo Kinh Ðại Bổn, Phật là vị A La Hán thứ bảy sau Vipassi (Tỳ Bà Thi), Sikhi (Thi Khí), Vessabhu (Tỳ Xá Bà), Kakushanda (Câu lâu Tôn), Konagamana (Câu Na Hàm), Kassapa (Ca diếp)
[10]Trung Bộ Kinh, Kinh Ðại Bổn, 29, Thích Minh Châu dịch
[11]số1, Kinh Ðại Bản Duyên , ThíchTuệ Sỹ dịch
[12]Theo Kinh Ưu bà tắc giới, Ðại Thừa, Ðức Phật Thích được sanh ra ở bên hông tượng trưng cho vô sanh, khi sinh ra đi 7 bước với biểu tượng như sau:
1. Thị Ðông phương, vi chúng sanh, vị đạo thủ cố, tri trí tuệ
2. Thị Nam Phương, vị chúng sanh, lương phước điền cố, bỏ ác làm lành, tạo phúc đức
3. Thị Tây phương, vị chúng sanh, dĩ tối hậu thân cố, thanh tịnh
4. Thị Bắc phương, vị chúng sanh, ngã đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, đạt Niết Bàn
5. Thị hạ phương, vị chúng sanh, di dục hàng ma cố
6. Thị Thượng phương, vị chúng sanh, qui y thiên nhân cố.
7. Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn
[13]ý niệm “chủng tử” trong Phật giáo cho rằng hạt vô thức được tàng trữ từ muôn kiếp trong vùng chứa ý thức gọi là A lại da.
[14]Trường Bộ Kinh, Kinh Ðại Bổn, Thích Minh Châu dịch
[15]D XVI, 5
[16]M 26, 36.
[17]Trung Bộ Kinh, đd. Thích Minh Châu dịch
[18]Năm vị đệ tử đầu tiên của Phật: Kondamnya, Vappa, Bhaddya,, Mahanama và Assaji, những vị này đã cùng thái tử Tất Ðạt Ða luyện tập Yoga và đã bỏ Phật khi Ngài chấm dứt phương pháp tu luyện ấy để thực hành phương pháp Thiền định đạt Niết bàn.
[19]Kurt Schmidt, Buddha und seine Jünger (Ðức Phật và các đệ tử), Konstanz, 1955, tr. 14
[20]Anguttara Nikaya IV, 45
[21]S XII, 32
[22]Trường Bộ Kinh, Kinh Ðại Bổn, Thích Minh Châu dịch
[23]Trình bày giáo lý Phật giáo, E. Conze đặt “ahimsa”, không làm hại, bất bạo động lên hàng đầu: tránh mọi vũ lực, từ không giết hại người và vật cho đến bắt nô lệ tư tưởng, từ bỏ chấp”ngã” atta hay atman, và “bất tử” (E. Conze, Buddhimus)
[24]Ðức Phật là vị đạo sư đầu tiên đã cương quyết bãi bỏ nghi lễ tôn giáo tế thần bằng giết hại sinh vật, cũng như giải thể độc quyền giác ngộ của giai cấp Bà La Môn và sự phân biệt giai cấp trong xã hội Ấn độ đương thời
[25]Trung Ưng I, 136, Thích Minh Châu dịch
[26](Sn 1119)
[27]Bát chánh đạo: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định.
[28]Pháp Cú 165
[29]S. Radhakrishnan 1888-1975, “2500 Phật giáo”, B. V. Bapat, lời giới thiệu của S. Radhakrishnan, Thích Nguyên Tạng dịch Việt từ Anh ngữ, Trang Quảng Ðức.
[30]Trường Bộ Kinh, Kinh Ðại Bổn, Thích Minh Châu dịch
[31]Trung Bộ Kinh, I, 83, Thích Minh Châu dịch
[32]Dhammapada, Pháp cú, Thích Thiện Châu dịch

______________________________________________________

Posted in Chuyện tôn giáo, Chuyện triết học, Triết học | Tagged: , , , , | Leave a Comment »

Đáng để chúng ta phải khóc!

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Năm 23, 2010

Khánh Linh

“Phải có gì của riêng ta thì mới dung thông được với cái của người. Khi ta không biết ta là ai mà mở cửa đón nhận thì mất luôn cả mình. Điều đáng sợ nhất trong văn hóa VN là đánh mất bản sắc của mình, vậy nhưng, hình như ta còn chưa nhất trí được bản sắc của mình là gì nữa” – GS Cao Huy Thuần.

Cái gì đã làm ta thành ta?

Chiều 23/5, thuyết trình “Thiền đời Trần – Thiền Việt Nam” là buổi thuyết trình cuối cùng của Tuần lễ văn hóa Phật giáo 2010 hướng tới 1000 năm Thăng Long – Hà Nội. Giữa cái nắng gay gắt của buổi trưa xứ Huế, GS Cao Huy Thuần không chỉ đưa người nghe trở ngược lịch sử 7, 8 thế kỷ để cùng hồi tưởng về triều Trần – triều đại huy hoàng bậc nhất trong lịch sử, mà còn sang tận đất nước Nhật Bản xa xôi để làm phép so sánh, xem người Nhật đã chuyển hóa thiền Trung Hoa thành của báu của nước Nhật đã được cả thế giới công nhận là rất riêng như thế nào?, xem “Cái gì làm họ đã thành họ, xét cho kỹ, biết đâu ta sẽ thấy ra cái gì đã làm ta thành ta?”.
GS Cao Huy Thuần tự nhận ngay từ đầu buổi thuyết trình, trả lời hai câu hỏi mà Tuần Việt Nam đã đặt ra “Có hay không một dòng thiền mang sắc thái Việt Nam? Có đúng hay không dòng thiền Yên Tử đã tạo nên sức mạnh cho Việt Nam để đánh bại xâm lăng Nguyên Mông?” trong hoàn cảnh vấn đề đã được thảo luận quá nhiều trong sách vở và trong các cuộc hội thảo, thật khó có thể nói thêm điều gì mới lạ trong tình trạng tư liệu ít ỏi đã được khai thác lâu nay.

Bởi thế, GS Cao Huy Thuần đã làm phép so sánh hai nhân vật lỗi lạc, thiền sư Đạo Nguyên (Dogen), người đã xây dựng nên thiền tông Nhật mà ảnh hưởng vẫn còn sâu đậm trên thiền học thế giới cho đến ngày nay, và vua Trần Thái Tông – nhà tư tưởng lớn nhất của Việt Nam, và Trần Nhân tông, vị tổ thiền của Việt Nam.
Cùng một thời đại, cùng là những nhà cải cách, những tư tưởng gia cỡ lớn, cùng bắt tay đặt nền móng cho ngôi nhà thiền, mỗi người trên dải đất của mình, nhưng GS Thuần đã khắc họa sự khác nhau là vô cùng căn bản: thiền của Đạo Nguyên cực đoan, thiền của đời Trần dung hợp hài hòa các yếu tố khác biệt.
Thiền sư Đạo Nguyên sau khi vượt biển sang Trung Hoa (của nhà Tống) đã học, đã ngộ lúc 26 tuổi, trở thành tổ thứ 8 của phái thiền Tào Động. Trở về Nhật, có người hỏi ông đã học được gì ở Trung Hoa, ông nói: học được mắt ngang mũi dọc. Ông đả kích việc tụng kinh, đả kích cả Khổng giáo và Lão giáo, đanh thép cứng rắn với cả quan niệm thông thường về chữ hiếu. Chân lý của ông cũng chắc nịch như mũi thì dọc, mắt thì ngang. Chỉ ngồi, chỉ ngồi, chỉ ngồi. Không làm gì. Không tìm gì. Không chờ đợi gì. Nhờ định, tuệ sáng. Như con rồng gặp nước, như con cọp gặp rừng. Ngay cả người không hiểu gì cả, người dốt, người ngu vẫn có thể vượt qua người thông minh, đầy kiến thức, nếu cứ kiên trì tọa thiền, lấy ánh sáng từ định. Thực hành, thực hành, thực hành: tọa thiền với giác ngộ là một. Cho đến nay, sách ông viết vẫn là chữ nghĩa gối đầu giường ở Âu Mỹ, ông thuộc làu kinh kệ, thơ của ông thơm tho trong sử thiền của thế giới.
Ngược lại, với Trần Thái Tông thì tinh thần dung thông, tránh cực đoan, nổi bật như trăng sáng giữa trời. Với ông, ngồi thiền không loại bỏ niệm Phật, học kinh, cũng không loại bỏ Khổng với Lão. Khổng Tử, Lão Tử xuất hiện nhiều lần trong Khóa Hư Lục, với tất cả thành kính của Vua. “Sách Nho dạy: “Thi ân bố đức”. Kinh Đạo dạy: “Ái vật háo sanh”. Điểm Việt Nam nhất là Trần Thái Tông dung thông tất cả dưới ánh sáng của thiền. Như so sánh của GS Thuần, Đạo Nguyên dạy: cứ ngồi, đừng làm gì cả, đừng tìm gì, tìm là hỏng, vướng vào cái chuyện tìm, dính mắc chuyện chứng đắc là tâm dính bụi, là kẹt. Trần Thái Tông cũng dạy như vậy, bằng thơ:

Nước chảy xuống non đâu có ý
Mây bay qua núi vốn không tâm.

Nghĩa là, cả hai cùng tu một pháp, cùng vào một cửa, cùng ngộ như nhau, nhưng khi truyền đạt, giáo huấn, dạy dỗ, áp dụng, một bên thì cực đoan, một bên thì diệu dụng. Lý do là bởi, một bên chỉ là ông thiền sư với vài trăm đệ tử, còn bên kia ông thiền sư còn là ông vua của cả một nước, cả triệu dân. “Trị nước mà cực đoan thì hỏng. Huống hồ trị một nước nhỏ phải đối phó với xâm lăng như mối họa truyền kiếp. Đố ai tìm được một mưu chước nào khác để giữ nước ngoài quốc sách đoàn kết toàn dân”.

Kiếm báu vẫn còn nằm trong hộp ?

Từ nhận định này, GS Cao Huy Thuần nhẹ nhàng trả lời câu hỏi thứ hai, đúng là dòng thiền Yên Tử mà Phật hoàng Trần Nhân Tông là tổ đã giúp Việt Nam đánh bại xâm lăng, “vì lẽ giản dị mà ai cũng đều nói: một trong những yếu tố chính giúp nhà Trần đánh bại Nguyên Mông là đoàn kết quốc gia. Đoàn kết quốc gia là một. Lãnh đạo giỏi là hai. Cả hai yếu tố đều nằm trong thiền tông Việt Nam đời Trần, y như kiếm báu nằm trong hộp”.
Đời Trần để lại một gia bảo vô song cho văn hóa Việt Nam: “lấy thiền tông làm chỗ tựa để dung hợp Khổng, Lão vào một nhà”

Thiền đời Trần là thiền Việt Nam, tư tưởng của Việt Nam. Việt Nam cần đoàn kết để chống xâm lăng trước mắt; ông vua là tư tưởng gia; dung hợp là quốc sách; thực tế ấy đi vào tư tưởng thiền của ông vua; thiền ấy kết tinh thực tiễn Việt Nam; ấy là thiền Việt Nam, đặc biệt Việt Nam.
Vua Trần Nhân Tông, sơ tổ của thiền Trúc Lâm, vân du nhiều nơi trong nước để khuyên dân tu trì ngũ giới và làm mười điều thiện. Bởi vì Vua biết: tu thiền không phải ai cũng tu được, ngược lại, trì ngũ giới và hành thập thiện thì toàn dân ai cũng tu được cả, nói như Hòa thượng Thanh Từ là Phật giáo được quần chúng hóa. Từ đó, GS Cao Huy Thuần nhận định, Phật giáo đời Trần vừa rộng vừa sâu, rộng ở nền móng, sâu ở thượng đỉnh, dưới trên đều cùng một tư tưởng thông suốt, như lời nhận xét của Nho gia Lê Quát “Nhà Phật lấy họa phúc để cảm động lòng người sao mà được người tin theo sâu bền như thế! Trên từ vương công, dưới đến dân thường, hễ bố thí vào việc nhà Phật dù đến hết tiền của cũng không sẻn tiếc… Cho nên trong tự kinh thành, ngoài đến châu phủ, cho đến thôn cùng ngõ hẻm, không phải ra lệnh mà tuân theo, không bắt phải thề mà giữ đúng”. Đố luật pháp trên thế gian này chỗ nào có điều thần kỳ ấy.
Vậy Thiền Việt Nam đã ảnh hưởng thế nào lên tài ba lãnh đạo của các vua Trần của ta? Theo GS Cao Huy Thuần, Trần Hưng Đạo có được cái khí thế “Nếu Bệ hạ muốn hàng, hãy chặt đầu thần trước đã” là bởi ông tin ở gan dạ của quân đội, ông tin ở khí thế của các tướng, ông tin ở ông, và trên hết, ông tin ở tài lãnh đạo. Tài của ông, và tài của vua thiền Trần Nhân Tông, người đã đưa vào trận mạc, vào chính sự, vào đời sống, vào hành động, tính không khiếp sợ của triết lý có/không trong Bát Nhã, kinh ruột của thiền tông. “Bồ tát nương trí tuệ bát nhã nên tâm không ngăn ngại; vì tâm không ngăn ngại nên không sợ hãi…”
Cho nên khi Nhân Tông nói “không” thì ngài lên Yên Tử. Mà khi ngài nói “có” thì đích thân ngài lãnh đạo chống xâm lăng. Mà đã nói “có” thì tam thiên đại thiên thế giới đều nằm gọn trên một mũi kim, như thiền tông nói. Vua, tướng, quân, dân cùng nói “có” với nhau trong tiếng “có” phi thường của người lãnh đạo, có đoàn kết nào vững hơn, có lãnh đạo nào chắc hơn?
Thế đó, Lịch sử gọi ngài là vua Phật, là Phật hoàng. GS Cao Huy Thuần xác nhận lại một nhận định đã cũ nhưng dưới một góc nhìn mới “Vua Phật lãnh đạo cuộc chiến chống xâm lăng, làm sao tách rời đâu là vua, đâu là Phật trong mỗi hành động của ngài? Ở Nhật có tinh thần samourai trong cuộc chiến, nhưng ở Việt Nam có cả một ông vua Phật và cả một hàng ngũ tướng lĩnh thấm nhuần thiền. Phật giáo Việt Nam ở đời Trần là một hiện tượng kỳ lạ, độc đáo: không ở đâu khác, một ông vua vừa là tướng cầm quân, vừa là thiền tổ. Nơi ông vua ấy, kết tinh một tư tưởng, vừa là cơ sở lý thuyết, vừa là nền tảng giáo dục, lại vừa là thực tiễn hành động. Đó là một đạo Phật đặc biệt Việt Nam”.

Ta mất đi nền văn hóa độc lập?

Thuyết trình của GS Cao Huy Thuần không chỉ dừng lại ở sự xác nhận những giá trị huy hoàng của Thiền đời Trần, mà phần thảo luận tưởng như không thể dừng lại sau đó mở ra những ưu tư, xót xa khi nhìn lại lịch sử, vì sao giá trị huy hoàng ấy đã hoàn toàn đứt gãy sau đời Trần?
Đã so sánh với Nhật Bản, thì không thể không so sánh cách Việt Nam và Nhật Bản nhìn Trung Hoa, bởi từ cái nhìn mới xác định ra cách đối phó.
Xót xa thay khi Việt Nam đã “thua” Nhật Bản hẳn ở phương diện này, trong tiếp xúc với Tống Nho của Trung Hoa, Nhật Bản có sự kính phục, nhưng chỉ đến thế kỷ 14, 15 họ đã bắt đầu cái nhìn xét lại, để từ đó có sự canh tân về tư tưởng, trước cả khi có sự tiếp xúc với văn hóa phương Tây thời Minh Trị Thiên Hoàng.
Còn Việt Nam, như GS Thuần đau xót thừa nhận “Sau đời Trần, dường như ta mất đi nền văn hóa độc lập, văn hóa Việt Nam, ta nhìn Trung Quốc theo cách quá sức tôn thờ mà không đặt lại vấn đề”, và GS khẩn thiết đề nghị phải nhìn lại ảnh hưởng của Trung Quốc đối với Việt Nam. “Phải có gì của riêng ta thì mới dung thông được với cái của người. Khi ta không biết ta là ai mà mở cửa đón nhận thì mất luôn cả mình. Điều đáng sợ nhất trong văn hóa VN là đánh mất bản sắc của mình, vậy nhưng, hình như ta còn chưa nhất trí được bản sắc của mình là gì nữa”.
Thừa nhận Phật giáo hiện nay phát triển rộng, nhưng lại thiếu chiều sâu, mong mỏi của GS Cao Huy Thuần, cũng là mong mỏi của rất nhiều trí thức có mặt trong buổi thuyết trình, là làm sao phục hưng lại tinh thần sâu sắc của đạo Phật thời Trần.

Đáng để chúng ta phải khóc !

Một điều đau xót cho những người muốn tìm lại những giá trị của ông cha là nguồn sử liệu quá ít ỏi còn lại, khiến chúng ta không thể hiểu sâu sắc những giá trị huy hoàng cùng những chặng đường thịnh suy của dân tộc. Liệu có phải Khổng giáo được nhà Lê đưa lên hàng đầu để củng cố quyền lực của triều đình, bởi Khổng giáo là lý thuyết giúp chính trị một cách hữu hiệu hơn? Hay bởi chúng ta đã “10 phần di sản không còn được một” sau cuộc xâm lăng của nhà Minh, khiến chúng ta bị đứt đoạn với quá khứ, phải áp dụng tư tưởng Tống Nho của Trung Hoa?
Nói như GS Cao Huy Thuần khi kết thúc buổi thuyết trình, dân tộc chúng ta quá bất hạnh khi bị đứt đoạn với cái gia tài rực rỡ của đạo Phật rất phương phi, vạm vỡ thời Trần Thái Tông. Nhà Minh đã phá hoại, lục bắt tất cả những di sản vật thể và di sản tinh thần của chúng ta, khiến chúng ta hiện nay chỉ hiểu biết lờ mờ về những thành tựu của quá khứ. “Đó là một tội ác đối với lịch sử, tương đương với tội ác diệt chủng, bởi không có gì tàn bạo hơn, sát hại hơn là diệt chủng về văn hóa, khiến chúng ta không biết chúng ta là ai, khiến chúng ta thành nô lệ về đầu óc. Điều đó đáng để chúng ta phải khóc”.

_________________________________________________________

Posted in Chuyện lịch sử, Chuyện tôn giáo, Chuyện triết học, Chuyện đất nước, văn hóa | Tagged: , , , | Leave a Comment »

Giáo Hoàng trả lời về bê bối ấu dâm

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Năm 12, 2010

Giáo Hoàng đã có những nhận xét thẳng thắn nhất trước báo giới về vụ bê bối lạm dụng trẻ em.

Đức Giáo Hoàng Benedict XVI nói bê bối lạm dụng trẻ em của Giáo Hội cho thấy mối đe dọa lớn nhất đối với Công Giáo đến từ “tội lỗi ngay bên trong” Giáo Hội.

Ngài đã có các nhận xét trên khi trả lời một câu hỏi trong chuyến đi tới Bồ Đào Nha.
Trước đó, những người chỉ trích đã cáo buộc Vatican là tìm cách đổ lỗi cho truyền thông và các lực lượng chống đối Giáo Hội về mức độ leo thang quanh vụ bê bối.
Tuy nhiên, Giáo Hoàng đã nói vấn đề xuất phát từ ngay trong Giáo Hội, và nói sự tha thứ “không thay thế được công lý”.

“Cần ăn năn”

Đức Thánh Cha nói với các phóng viên trên chiếc phi cơ đi Bồ Đào Nha: “Hôm nay chúng ta chứng kiến một cách đáng sợ rằng sự khủng bố đáng sợ nhất đối với Giáo Hội lại không đến từ kẻ thù bên ngoài mà phát sinh từ tội lỗi ngay bên trong.”
Phóng viên BBC tại Vatican đi cùng Đức Giáo Hoàng nói lời nhận xét trên là phản ứng trực tiếp nhất tới các câu hỏi của báo giới, và là những ngôn từ mạnh mẽ nhất của Ngài về vụ bê bối lạm dụng trẻ em.
Đức Giáo Hoàng Benedict nói Giáo Hội “rất cần” nhìn nhận việc phải ăn năn về những tội lỗi của mình và “chấp nhận việc thanh lọc”.
Tuy nhiên, Ngài nói thêm rằng sự tha thứ không thể thay thế cho công lý.
Trong mấy tháng qua đã có một làn sóng cáo buộc giới chức Tòa Thánh tại Âu Châu và Nam Mỹ đã không xử lý một cách đúng mức đối với các tu sỹ bị cáo buộc lạm dụng tình dục trẻ em, và có trường hợp họ chỉ bị thuyên chuyển sang địa phận mới, khiến cho có thêm nhiều em nhỏ có nguy cơ bị lạm dụng.
Bản thân Đức Giáo Hoàng cũng bị cáo buộc là một phần trong văn hóa bí mật và không áp dụng các biện pháp đủ mạnh đối với những kẻ ấu dâm khi Ngài còn là một hồng y tại Rome.
Tuy nhiên, các ủng hộ viên của Ngài nói Ngài là giáo hoàng tích cực nhất trong việc đương đầu với vụ lạm dụng.

“Cuộc khủng hoảng tinh thần”

Giáo Hoàng sẽ có buổi lễ tại Fatima, một trong các điểm hành hương thiêng liêng ở Âu châu.
Sau đó, Giáo Hoàng đã đáp xuống thủ đô Lisbon, bất chấp lo sợ bụi núi lửa có thể gây hại tới các chuyến bay trong khu vực, làm gián đoạn các kế hoạch của Ngài.
Trong chuyến công du bốn ngày, Ngài sẽ có các buổi lễ ngoài trời tại Lisbon, tại đền thờ Fatima và tại Oporto.
Các quan chức của Giáo Hội nói Ngài sẽ đề cập tới cuộc khủng hoảng tinh thần và kinh tế tại Âu Châu.
Phóng viên BBC David Willey từ Lisbon nói Đức Giáo Hoàng dự định sẽ nói với người dân Bồ Đào Nha là hãy tìm vầng thái dương trong niềm tin để vượt qua những khó khăn vật chất.
Bồ Đào Nha là một trong các quốc gia bị ảnh hưởng tồi tệ nhất từ khó khăn kinh tế vốn đang khiến nhiều quốc gia Âu châu điên đầu.
Hàng chục ngàn người dự kiến sẽ dự buổi lễ trọng tại Lisbon vào hôm thứ Ba.
Tuy nhiên, điểm quan trọng của chuyến công du là buổi thăm viếng Fatima vào thứ Tư và thứ Năm, với buổi lễ trọng ngoài trời dự kiến sẽ có sự tham dự của 500 ngàn người.
Fatima là một trong các địa điểm hành hương chính tại Âu châu của người Công Giáo.

________________________________________________

Posted in Chuyện pháp luật, Chuyện tôn giáo, Tin tức nổi bật | Tagged: , , | Leave a Comment »

Tổng Giám mục Hà Nội phải ra đi

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Tư 24, 2010

Vatican đã chỉ định Tổng Giám mục phó để chuẩn bị thay thế Tổng giám mục Hà Nội, Joseph Ngô quang Kiệt, người bị chính quyền Việt Nam chỉ trích sau các vụ giáo dân biểu tình đòi đất.
Việc thay thế TGM Ngô Quang Kiệt và bổ nhiệm Đức Cha Nhơn vào chức vụ mới này “gây bất ngờ ” mặc dù tin đồn về việc bổ nhiệm này đã được loan truyền từ ít lâu nay.

Tin hôm 22/04 cho hay Đức Tổng Giám mục Nguyễn Văn Nhơn, hiện là Chủ tịch Hội đồng Giám mục Việt Nam sẽ chính thức rời Đà Lạt về Hà Nội.
Trả lời trang conggiaovietnam.net, Tổng Giám mục Ngô Quang Kiệt, người gần đây có sang Roma nói theo ông “Đức cha Phêrô Nguyễn Văn Nhơn là bậc đáng kính hoàn toàn xứng đáng nhiệm vụ Tổng giám mục” cho Hà Nội.
Trả lời BBC hôm 23/04, Linh mục Huỳnh Công Minh, phát ngôn nhân cho Tổng Giám mục địa phận sài gòn giải thích về việc này:
“Theo hệ thống của Giáo Hội Roma, việc bổ nhiệm tổng giám mục phó là để thay thế tổng tổng giám mục, do đó, Đức Cha Nhơn sẽ thay Đức Cha Kiệt”.
Linh mục Huỳnh Công Minh cũng xác nhận ngay cả Đức Cha Nhơn cũng không muốn nhận nhiệm vụ này vì ” ngoài kia khó khăn lắm trong lúc đó trong này đã yên hàng”.
Trước các tin tức rằng chính sức ép từ Hà Nội khiến Vatican để ông ra đi, TGM Ngô Quang Kiệt được trích lời trên các mạng Công giáo nói:
“Tôi chỉ bị áp lực của lương tâm trách nhiệm. Từ hai năm nay sức khỏe tôi sa sút không thể làm việc trí óc có hiệu quả. Tôi đã trình bày với Tòa Thánh để xin nghỉ vì lợi ích của Giáo hội, riêng của Tổng giáo phận Hà Nội.”

Bị chỉ trích

Báo chí nhà nước tại Việt Nam từng công khai chỉ trích và đòi TGM Ngô Quang Kiệt phải ra đi sau các vụ giáo dân biểu tình và cầu nguyện đông người, bắt đầu từ cuối 2007 tại Hà Nội.
Người ta tin rằng TGM Kiệt đã tạo niềm tin cho giáo dân Hà Nội rằng họ sẽ đạt được thắng lợi trong cuộc tranh chấp ban đầu mang tính dân sự nhưng ngày càng trở nên một thách thức chính trị với nhà nước.
Truyền thông Việt Nam cũng đả phá mạng lời phát biểu của ông rằng, “Chúng tôi đi nước ngoài rất nhiều, chúng tôi rất là nhục nhã khi cầm cái hộ chiếu Việt Nam đi đâu cũng bị soi xét, chúng tôi buồn lắm chứ, chúng tôi mong muốn đất nước mình mạnh lên”.
Cùng lúc, ở các cấp cao nhất, Vatican và chính quyền Việt Nam muốn hướng tới một quan hệ lâu dài.
Chủ tịch nước Việt Nam, ông Nguyễn Minh Triết vừa gặp Đức Giáo hoàng Benedict XVI tại Tòa thánh Vatican ngày 11/12 trong bước đi hướng tới chỗ bình thường hóa quan hệ ngoại giao.
Tòa Thánh Vatican vừa là một nhà nước, vừa chăm sóc phần hồn của các tín đồ Công giáo toàn cầu mà tại Việt Nam có từ 6 đến 7 triệu.
Việt Nam là nước có tín đồ Công giáo thần phục Vatican đông thứ nhì châu Á, chỉ sau Philippines nhưng lại không có quan hệ ngoại giao với Tòa Thánh.
Hai bên đã có nhiều phái đoàn cao cấp thăm viếng lẫn nhau từ cuối thập niên 1990 nhưng còn nhiều vấn đề phải giải quyết.
Một trong những vấn đề còn khúc mắc là tranh chấp đất đai và các cơ sở Công giáo mà chính quyền cách mạng cộng sản tịch thu sau năm 1955 tại miền Bắc và sau 1975 tại miền Nam.
Trong một bài trả lời phỏng vấn với hãng thông tấn Fides, Tổng Giám mục TPHCM, Hồng y Phạm Minh Mẫn nói sau 1975 chỉ riêng Giáo phận Sài Gòn ‘bị mất 400 cơ sở’.
Các vụ tranh chấp ở Tòa Khâm sứ cũ và Thái Hà ở Hà Nội hơn hai năm qua cũng thu hút dư luận.
Hồi tháng 12, Đức cha Phero Nguyễn Văn Nhơn chủ tịch Hội đồng giám mục Việt Nam gọi cuộc gặp giữa Giáo hoàng và chủ tịch Nguyễn Minh Triết là biến cố làm cho “tâm hồn các tín hữu công giáo Việt Nam tràn đầy hy vọng.”

_________________________________________

Posted in Chuyện tôn giáo | Tagged: , , | Leave a Comment »