NGÔN NGỮ & VĂN HÓA

CHÚC MỪNG NĂM MỚI

Archive for the ‘Đồ gốm Việt Nam’ Category

Bí ẩn tộc người xâm đất

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Hai 4, 2011

Kim Anh

– Huyền thoại Chu Ru kể rằng vì sự cai trị hà khắc của vua quan một bộ phận người Chăm ở ven biển Nam Trung Bộ đã trốn lên vùng núi cao Nam Tây Nguyên. Họ tự đặt tên là Chu Ru có nghĩa là chiếm đất và gìn giữ nghề truyền thống cùng bao luật tục lạ lùng.

Nghi lễ đặc biệt của nghề gốm ở Krăngọ

Krăngọ (xã Pró, Đơn Dương, Lâm Đồng) là làng gốm thủ công truyền thống nổi tiếng nhất của người Chu Ru; ngay cái tên Krăngọ cũng đã nói lên đặc điểm của làng nghề bởi gọ trong tiếng Chu Ru có nghĩa là nồi đất.
Một trong những nghệ nhân giỏi nhất làng là già Ma Kia (77 tuổi) vừa khéo léo nặn chiếc nồi vừa kể: Xưa kia vào mùa khô, cả làng nổi lửa làm gốm để đổi chiêng chóe, thổ cẩm với người Mạ và K’ho. Nhiều đoàn người từ Lào và Cam-pu-chia cũng dùng voi chở lúa bắp, vòng cườm… vượt rừng sâu núi cao sang Krăngọ để đổi gốm vì gốm Chu Ru nổi tiếng khắp vùng.
Theo ông Tou Prong Tùng – một chức sắc trong làng, đất nguyên liệu để làm gốm được lấy từ núi K’ Lơl, cách làng khoảng 1 km. Chỉ những nghệ nhân lành nghề mới chọn được lớp đất sét phù hợp màu nâu vàng và họ chỉ làm việc này khi người sạch sẽ, tâm hồn thanh thản.
Dụng cụ làm gốm ở Krăngọ cũng hết sức đơn giản: Một chiếc vòng được làm bằng tre (knu) và miếng gỗ nhỏ (tanạp) để nắn gốm cho đẹp, quả trám rừng màu đen (playcanh) dùng đánh bóng sản phẩm.
Nghệ nhân đặt khối đất lên bàn gỗ phẳng cố định rồi đi xung quanh để nặn và tạo dáng gốm hoàn toàn bằng tay: Tay trái đỡ bên trong, còn tay phải cầm tanạp đập đập bên ngoài cho cân đối; dùng knu để làm nhẵn gốm rồi đánh bóng bằng playcanh.
Sau khi nặn, phơi khô và tuốt lại lần cuối cùng, các sản phẩm gốm thô như nồi đất, lu, khạp, bát, lọ hoa, bình rượu… được xếp giữa vườn rồi chất củi chung quanh, nổi lửa đốt khoảng 2 giờ, sau đó ủ tro chừng 2 tiếng đồng hồ nữa là mẻ gốm hoàn thành.
“Kỹ thuật làm gốm Chu Ru khá thô sơ nhưng chính vẻ mộc mạc, dân dã này đã làm nên cái hồn cho sản phẩm” – phó Phòng VH – TT Đơn Dương Đặng Huệ Chí nói. Ông Tou Prong Tùng cũng thổ lộ: Nghi lễ đặc biệt của nghề gốm Krăngọ gây tò mò cho du khách khi khám phá những nét đẹp văn hóa cao nguyên, chẳng hạn khi lấy đất nguyên liệu, nghệ nhân phải chuẩn bị lễ vật gồm chóe rượu cần, đôi gà (1 trống – 1mái) cùng 4 quả trứng và 1 đĩa trầu cau đưa đến nhà chủ đất nhằm xin phép chủ làng, thần đất. Người Chu Ru quả quyết nếu không có nghi lễ này, các sản phẩm gốm sẽ xấu, nứt vỡ nhiều do thần linh quở phạt”.

Nhẫn mái, nhẫn trống – tín vật thiêng liêng

Với người Chu Ru, srí là nhẫn mái dành cho nữ giới và sră là nhẫn trống dành cho nam giới. Đó không chỉ là những vật trang sức, của hồi môn mà còn là tín vật thiêng liêng không thể thiếu khi sơn nữ bắt chồng; thế nhưng, trong số hơn 15.000 người Chu Ru hiện chỉ có 2 – 3 nghệ nhân chế tác được loại nhẫn bạc này, trong đó nổi tiếng nhất là ông Ya Tuất (làng Ma Đanh, Tu Tra, Đơn Dương). Hơn 20 năm – 20 mùa rẫy trôi qua, bếp của gia đình nghệ nhân này lúc nào cũng đỏ lửa để đúc nhẫn.
“Số nhẫn cưới mà chồng tôi làm cho các cô gái bắt chồng nhiều lắm, không thể nhớ hết được đâu!” – bà Ma Wêl (vợ ông Ya Tuất) nói. Không chỉ người Chu Ru mà người Lạch (Lạc Dương, Lâm Đồng), đồng bào Chăm (Ninh Thuận), người Kinh (Đồng Nai, Vũng Tàu) cũng tìm đến đặt làm nhẫn bạc.
Số nhẫn cưới mà chồng tôi làm cho các cô gái bắt chồng nhiều lắm, không thể nhớ hết được đâu! – Bà Ma Wêl (vợ ông Ya Tuất, nghệ nhân làm nhẫn)
Một người Mỹ tên là David Abrecht đã mua 15 chiếc nhẫn mang về nước làm quà. BTC Festival hoa Đà Lạt cũng từng đặt làm 300 chiếc nhẫn cưới để tặng 150 cặp uyên ương trong chương trình tôn vinh tình yêu tại lễ hội.
Nghệ nhân Ya Tuất cho hay nhẫn bạc được làm hoàn toàn thủ công, chủ yếu dựa vào bí quyết của dòng tộc và sự khéo tay của người thợ. Dụng cụ chế tác nhẫn rất đơn giản (chỉ có một thanh sắt nhỏ mài thật sắc để làm dao, còn bễ thổi, ống thổi, kẹp khuôn đúc… đều bằng cây rừng) nhưng các công đoạn chế tác lại rất tỉ mỉ, kỳ công: Đầu tiên nấu chảy sáp ong; lấy dùi gỗ nhúng vào sáp rồi để cho nguội nhằm tạo ra những ống sáp tròn rỗng ruột, sau đó cắt những ống sáp này thành các khoen tròn để tạo khuôn đúc nhẫn. Kế đến là xe sáp thành những sợi mảnh như chỉ rồi bện thành các hình khác nhau để tạo ra các họa tiết trang trí cho nhẫn.
Khuôn sáp nói trên được nhúng vào dung dịch đất và phân trâu rồi phơi nắng từ 1 – 2 ngày cho khô hoàn toàn; sau đó đem đốt trên lửa than để sáp bên trong nóng chảy, còn phần dung dịch đất và phân trâu kết lại thành khuôn âm bản.
Bạc vừa được nấu chảy và đổ vào khuôn âm bản này sẽ cho ra chiếc nhẫn màu xỉn đen, tuy nhiên, sau khi được bỏ vào nồi bồ kết đang đun sôi, chiếc nhẫn sáng dần và lấp lánh ánh bạc. Ya Tuất có thể làm được 12 loại nhẫn khác nhau như nhẫn có mặt đính hạt cây rừng màu đỏ, màu xanh tựa đá hồng ngọc, bích ngọc.
Sở dĩ người Chu Ru dùng phân trâu để chế tác nhẫn vì trâu là con vật tổ thiêng liêng; loại đất để làm khuôn bạc là đất bí mật trong rừng, chỉ nghệ nhân mới biết; củi dùng nấu bạc phải là loại cây rừng có tên kasiu. Đêm trước khi đúc nhẫn, nghệ nhân phải cách ly hoàn toàn với vợ…

Ngăn hồn ma quay về

Gần 15 năm trước, khi đến một số buôn làng vùng sâu của người Chu Ru ở xã Tà Năng (Đức Trọng, Lâm Đồng), chúng tôi không khỏi bàng hoàng khi bắt gặp những ngôi mộ nổi nằm lẩn khuất trong rừng với mùi xác chết đang thối rữa tanh nồng.
Đó là những ngôi nhà nhỏ mái tranh (khoảng 9-12 m²) rêu mốc, bên trong có hơn chục chiếc quan tài chồng chất lên nhau; nhiều cái hòm ván bị mục, lộ sọ người trắng hếu. Người Chu Ru có tập tục lập mộ nổi thay vì chôn người chết xuống đất.
Lần này về thăm lại buôn làng Chu Ru, các già làng của những dòng họ lớn như Ma U, Jơ Rơ Lơng, Nắc Ra Na… đều khẳng định đã vận động bà con buôn làng bỏ tập tục đưa xác người vào nhà mồ.
Thật vậy, ngày càng có nhiều khu nghĩa địa đời sống mới xuất hiện ở các buôn làng Chu Ru xa xôi thay cho nhà mồ nổi. Nếu bạn nhìn thấy một vài nhà mồ nổi tại nghĩa địa thì đó chỉ là nơi cất giữ tài sản làm đẹp lòng người chết chứ không chứa xác như trước.
Người Chu Ru ở huyện Đơn Dương có tập tục chôn chung nhiều người trong một huyệt mộ; khi mộ chung đã có nhiều xác (có khi tới trên 20) thì tổ chức lễ bỏ mả. Theo tộc người này, chết chưa thật sự là mất mà hồn của người chết vẫn vương vấn và có thể quay về trừng phạt người sống.
Muốn người chết ra đi vĩnh viễn, dòng họ phải làm lễ bỏ mả linh đình nhằm thông báo cho hồn ma rằng mọi vướng mắc, nợ nần, phân chia tài sản đã xong, người sống đã hoàn thành phận sự của mình; hồn ma hãy về làng ma và trải qua một vài kiếp sống khác rồi trở lại làm người.
Do tính chất quan trọng như vậy nên lễ bỏ mả thường có qui mô lớn với hàng trăm người tham gia và phô diễn hầu hết những sản phẩm VH – NT đặc sắc nhất. Già Tou Prong Hang kể: Mỗi khi gia đình nào làm lễ thì hầu như cả buôn tạm ngưng chuyện đi rẫy đi rừng để giúp dựng nhà mồ, cột thờ; điêu khắc tượng và vẽ các hoa văn truyền thống.
Một số người mang chiêng ra đánh để giao lưu với các thần linh và làm cho hồn người chết siêu thoát, cầu cho dòng tộc khỏe mạnh, nương rẫy được mùa, không bị ma làm hại. Các đôi trai gái nắm tay nhau say sưa nhảy múa theo tiếng chiêng xung quanh ngôi mộ. Các cụ già thi nhau Chock (vừa khóc vừa nói theo vần theo điệu, lên bổng xuống trầm) để kể lể nhớ thương, tâm sự với hồn người chết.
Già Hang nói cách đây mấy năm chị Ya Nhai (buôn M’Lọn, thị trấn Thạnh Mỹ) đã mổ 8 con trâu để tổ chức lễ bỏ mả cho tám thế hệ từ đời cố ngoại và tháng giêng tới gia đình Jơ Lông Ma Liêng sẽ có lễ tương tự.
Bởi các di sản văn hóa đặc trưng của người Chu Ru rất phong phú, độc đáo nên Sở VH – TT Lâm Đồng đã xây dựng dự án nhằm biến những di sản này thành sản phẩm du lịch hấp dẫn. Trước đó, Sở phối hợp cùng Viện nghiên cứu VH – NT phục dựng lễ bỏ mả và Bộ VH – TT cũng đã hỗ trợ kinh phí để phục dựng lễ hội mừng lúa mới của người Chu Ru ở Lâm Đồng.

____________________________________________

Advertisements

Posted in Văn hóa các dân tộc, Đồ gốm Việt Nam | Tagged: , , | Leave a Comment »

Điều tra vụ ‘cổ vật’ của nguyên Bí thư tỉnh

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Mười Một 18, 2010

Một lãnh đạo tỉnh Ninh Bình xác nhận vụ việc liên quan đến “cổ vật triệu đô” của nguyên Bí thư tỉnh Ninh Bình đang được cơ quan công an tiến hành điều tra theo thẩm quyền.

Trước đó, báo Dân Việt thông tin, ông Đinh Văn Hùng, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Ninh Bình đã mua đôi lọ lục bình giá 40 ngàn đô la và chiếc trống đồng trị giá 1,2 triệu đô la.
Ngày 18/11, Tuổi Trẻ cho hay, báo này đã liên lạc với ông Đinh Văn Hùng, và ông Hùng cho biết sự việc này cơ quan điều tra đang làm. Nói với báo này, ông Hùng cho biết mình đang bị kỷ luật nên không muốn bình luận gì thêm.
Ngoài ra, ông Hùng cũng cho rằng, báo chí cần bám sát các thông tin công khai từ cơ quan chức năng.
“Cùng ngày, một lãnh đạo tỉnh Ninh Bình xác nhận sự việc trên đang được cơ quan công an tiến hành điều tra theo thẩm quyền. Ông Đinh Văn Hùng đã bị kỷ luật nên tỉnh chưa xem xét việc này và chờ đợi các quyết định của cơ quan điều tra” – bản tin của Tuổi Trẻ viết.
Liên quan đến vụ việc này, ngày 17/11, báo Dân Việt cho hay, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Hà Nội đã khởi tố vụ án “trộm cắp tài sản, tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” liên quan đến hai chiếc lọ lục bình và chiếc trống đồng mà ông Đinh Văn Hùng đã mua.
Vụ án được khởi tố vào ngày 29/5/2010, nhưng đến nay vẫn chưa có bị can nào bị khởi tố. Cơ quan điều tra phải gia hạn điều tra để tiếp tục làm rõ hành vi của các nghi phạm liên quan.
“Trả lời về việc vì sao vụ án đã quá thời hạn điều tra nhưng Cơ quan điều tra vẫn chưa khởi tố bị can nào, một cán bộ của cơ quan điều tra cho biết, đây là vụ án phức tạp, liên quan đến nhân sự do T.Ư quản lý. Vì vậy, sau khi hết hạn điều tra vào 31-10-2010, Cơ quan điều tra đã tiếp tục gia hạn điều tra 4 tháng. Việc chưa khởi tố bị can có lý do là đối tượng Trương Văn S, đầu nguồn của vụ trộm cắp bình cổ đã không may mất trong một vụ tai nạn.
Riêng đối với vụ chiếc trống, dù xác định là tài sản quốc gia, tuy nhiên vấn đề khó là việc các chuyên gia xác định chiếc trống có nguồn gốc từ Trung Quốc. Cơ quan điều tra phải xác định rõ ràng và chính xác nó đã được đưa vào Việt Nam như thế nào, thời điểm nào. Bởi ngay cả người đào được chiếc trống ở Việt Nam hiện vẫn không xác định được. Mặt khác, sau khi bị Cơ quan điều tra triệu tập, ông Nguyễn Thế Võ hiện cáo có bệnh tâm thần phải vào viện điều trị” – bản tin ngày 17/11 của Dân Việt đưa.
Theo Tuổi Trẻ, ông Đinh Văn Hùng đã bị kỷ luật với hình thức cảnh cáo, thôi tham gia Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X. Ông Hùng với cương vị ủy viên Trung ương Đảng, bí thư Tỉnh ủy Ninh Bình phải chịu trách nhiệm chính về những khuyết điểm, vi phạm của thường trực tỉnh ủy trong việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, quy chế làm việc và công tác cán bộ; vi phạm quy chế làm việc của tỉnh ủy, quy định 51-QĐ/TW của Ban Bí thư; vi phạm tiêu chuẩn đảng viên, cấp ủy viên và đạo đức lối sống.

V.T (tổng hợp)
________________________________________________________________________

Nguyên Bí thư Tỉnh ủy nói về trống, lọ triệu đô

Chiều 16/11, phóng viên có mặt tại trụ sở Tỉnh ủy Ninh Bình. Phòng Bí thư Tỉnh ủy vẫn sáng đèn nhưng nhân viên cho biết ông Đinh Văn Hùng đã về nghỉ tại nhà riêng.

Chỉ con cái tôi chơi (!?)

Nhà riêng Bí thư Tỉnh ủy Ninh Bình Đinh Văn Hùng là một ngôi nhà ba tầng với những lồng sắt kiên cố bao quanh nằm trên mặt đường Trần Hưng Đạo. Sau nhiều lần bấm chuông, một người phụ nữ trạc 50 tuổi ra mở cửa.

Khi nghe chúng tôi giới thiệu là phóng viên, người phụ nữ ngập ngừng cho biết ông Hùng không có nhà. Chỉ chiếc xe ô tô bốn chỗ biển 80B để trước cửa nhà, chúng tôi đề nghị chị báo cáo lại nội dung báo muốn trao đổi với ông Hùng.

Ít phút sau, ông Hùng xuất hiện với khuôn mặt và dáng vẻ mệt mỏi. Vị Bí thư tỉnh nói: “Thực sự bây giờ tôi không muốn tham gia gì vào việc này nữa. Tôi nói bây giờ sẽ không khách quan, các anh nên tìm hỏi chỗ các cơ quan liên quan thì hay hơn”.
Về đôi lục bình bị mất trộm trong nhà thờ xứ Hà Hồi và chiếc trống đồng 2.000 năm tuổi, ông Hùng khẳng định: “Tôi không sở hữu hai món đồ cổ đó. Hai cổ vật này các anh nên làm việc với Công an Hà Nội để làm rõ nguồn gốc xuất xứ. Tôi cũng không chơi đồ cổ mà chỉ có con cái tôi chơi. Tôi không tham gia vào việc này. Bây giờ tôi nói thì thành nói đi nói lại không hay, tôi rất ngại và không muốn lên diễn đàn. Có những việc quan trọng hơn mà tôi còn chẳng thanh minh nữa là chuyện này”.
Về hình thức kỉ luật mà Ban chấp hành TƯ Đảng vừa ra thông báo, ông Hùng nói: “Bây giờ có nói cũng không giải quyết được gì cả, chỉ là “mang gậy chống trời”. Hiện mới chỉ có thông báo chung về quyết định kỷ luật cảnh cáo chứ chưa có quyết định riêng về việc tôi nghỉ công tác và thôi chức vụ Bí thư Tỉnh ủy”.

Thừa… 4 cổ vật (?)

Liên quan đến vụ 21 cổ vật này, vào đúng thời điểm Đoàn kiểm tra TƯ về làm việc tại Ninh Bình, còn xuất hiện hai bảng kê danh sách hiện vật cổ của gia đình ông Nguyễn Thế Võ do Sở VH-TT&DL xác nhận.
Cụ thể ngày 23/2/2010 Phó giám đốc Sở Nguyễn Đức Long ký quyết định xác nhận ông Võ có 1.165 hiện vật. Tuy nhiên chỉ 3 ngày sau đó, cũng là ông Nguyễn Đức Long ký lại xác nhận ông Võ có 1.169 hiện vật, tăng thêm 4 hiện vật so với bản xác nhận cũ.
Đáng chú ý là trong 4 hiện vật bất ngờ tăng thêm này, có cả trống đồng cổ sản xuất tại Trung Quốc, đôi lục bình là tang vật của vụ án mà CA Hà Nội đang điều tra và một trống đồng khác chưa rõ nguồn gốc. Câu hỏi đặt ra là: Ông Võ có thêm 4 hiện vật, hay đây là hình thức hợp thức hóa các hiện vật cổ của gia đình bí thư Đinh Văn Hùng?

Ngày 17/11, trao đổi với phóng viên, ông Nguyễn Đức Long- Phó giám đốc Sở VH-TT&DL tỉnh Ninh Bình cho biết: “Về 2 bản xác nhận số lượng cổ vật của ông Võ có sự chênh lệch nhau và những vấn đề liên quan khác, hiện tại Sở VH-TT&DL tỉnh chưa có ý kiến gì về đang trong quá trình vì đang trong quá trình điều tra của công an. Cách đây ít ngày, lực lượng cảnh sát điều tra cũng về làm việc với Sở về sự việc này và hiện tại đang giữ tất cả những hồ sơ liên quan đến sự việc”.
Cũng trong ngày 17/11, phóng viên đã tìm đến Bảo tàng Cổ vật Võ Hằng Gia của ông Nguyễn Thế Võ thì cửa bảo tàng đóng kín. Sau khi bấm chuông, một người đàn ông khoảng 40 tuổi ra mở cửa và hỏi chúng tôi từ đâu đến và có mua bán cổ vật hay không. Khi chúng tôi tỏ ý muốn vào thăm quan bảo tàng thì người đàn ông này cho biết, hiện chủ nhân bảo tàng đang đi vắng. Dẫu vậy, theo quan sát của PV thì ngoài cửa bảo tàng vẫn có nhiều xe ô tô đỗ dọc bên đường và trong đại sảnh vẫn nhộn nhịp người đi lại.

(Theo Dân Việt)
______________________________________________________________

Posted in Chuyện pháp luật, Kinh tế, Đồ gốm Việt Nam | Tagged: , , | Leave a Comment »

Lấp lánh tinh thần Đại Việt

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Ba 4, 2010

Kim Yến & Qúy Hòa

SGTT Xuân 2010 – Sài Gòn, vào một ngày xuân, nếu muốn tận hưởng một chén trà trong sự tri âm, để nhớ về Thăng Long, không gì thú bằng được ngắm và trò chuyện bất tận về những kiệt tác mộc mạc mà thẳm sâu của gốm hoa nâu trong ngôi nhà ấm của anh Nguyễn Văn Dòng, giám đốc công ty in Trần Phú. Những lá, hoa, chim muông hiện lên thân thuộc, đầy sức sống, được vẽ bằng cả tâm hồn, sự linh cảm, gần như những ám hoạ, mềm mại và u uẩn…

Nằm ẩn mình trong một con hẻm nhỏ, nơi đây cất giữ nhiều tác phẩm quý giá của người xưa. Theo “giang hồ” đồn đại, và qua lời mách bảo của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp và hoạ sĩ Lê Thiết Cương, thì Hà Nội có một hoạ sĩ tên Linh và Sài Gòn có một doanh nhân tên Dòng đang sở hữu những tiêu bản gốm hoa nâu từng làm say đắm bao nhà sưu tập trong và ngoài nước. Đã có khá nhiều nhà sưu tập nước ngoài gạ gẫm, nhưng anh Dòng một mực giữ riết. Quyết tâm của anh là chỉ lưu truyền trong nước, chứ nhất định không để “chảy máu” ra ngoài. Đến với gốm cổ chưa lâu, nhưng cách tìm hiểu, sưu tập, khảo cứu của anh Dòng khá chuyên nghiệp. Mỗi một tác phẩm anh chọn lựa đều có sự đối chiếu với nhiều bản sách gốc của các nhà sưu tập trong và ngoài nước, và sưu tập có hệ thống. Anh nói: “Từng đi các bảo tàng nước ngoài, xem những sản phẩm gốm cổ Việt Nam được trưng bày và đánh giá rất cao. Là người đi sau, tôi đau lòng lắm khi thấy đa số các di vật cổ của Việt Nam đã theo chân ra nước ngoài, và chúng ta phải cất công mang nó trở về Việt Nam với cái giá cao hơn xưa rất nhiều. Từ đó tôi bắt đầu tìm mọi cách sở hữu, gìn giữ để bảo vệ di sản cho đời sau”.

Trong các di sản vật thể mang tính bản địa thuần Việt nhất, tiêu biểu cho nền văn minh lúa nước, không tìm thấy ở bất kỳ nước nào khác, chắc chắn phải kể đến gốm hoa nâu thời Lý – Trần, thế kỷ 11 – 14, thời kỳ mà Phật giáo phát triển rực rỡ, con người sống thanh thản, an hoà với trời đất… Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng đây là thời kỳ “Phục hưng” sau đêm trường Bắc thuộc của văn hoá Đại Việt. Các học giả nước ngoài từng khen ngợi Việt Nam như một “cường quốc gốm sứ trong lịch sử”, mà tiêu biểu là gốm hoa nâu, thể hiện sự riêng biệt từ chất liệu, kỹ thuật, hoa văn trang trí, tài nghệ kiến trúc.

Có lẽ vì thế anh đã theo đuổi bền bỉ để tìm được những thạp, những bình, những liễn, âu, với kích thước khá lớn. Anh Dòng cho biết: “Theo những tài liệu tôi đọc được, gốm hoa nâu có thể được sản xuất từ hai điểm chính là Phủ Thiên Trường, Nam Định, quê hương nhà Trần, và Hoàng Thành Thăng Long. Khai quật Hoàng Thành Thăng Long, người ta đã phát hiện dấu vết các lò gốm cổ, với những bao nung, những dụng cụ sản xuất gốm như con kê để đặt gốm vào lò nung, cùng số lượng lớn các tiêu bản gốm hoa nâu rất đẹp như chiếc thạp lớn có nắp trang trí hoa sen và chiếc chậu trang trí hình bốn con chim đang đi kiếm mồi trong bốn tư thế khác nhau, xen giữa là cành lá sen và hoa sen nhỏ. Điều đó minh chứng gốm hoa nâu như một nghệ thuật đẹp, tinh tế, một nền nghệ thuật Phật giáo lấp lánh tinh thần Đại Việt với sức sống tự thân và hội nhập, ý thức tự cường dân tộc của người Việt”.

Màu nâu trầm và hoa sen là biểu tượng chủ đạo của Phật giáo, và cũng là biểu tượng của gốm hoa nâu. Men nâu có rất nhiều sắc, từ nâu nhạt đến nâu đậm gần như đen. Đặc biệt quyến rũ trong bộ sưu tập của anh là những chiếc bình có hoạ tiết hoa sen nâu uốn lượn trên sóng nước, hoa sen mọc nghiêng, được kết lại với nhau thành từng dây phóng khoáng, mềm mại, nổi bật trên nền trắng ngà của gốm. Ngay trên cùng một món, men nâu cũng pha nhiều sắc. Có những bát, chén men nâu có gờ miệng không nhẵn mà lại gãy cạnh như hình hoa cúc, trong lòng bát là những ám hoạ hoa cúc khác, rõ ràng là chén bát dùng trên bàn thờ chứ không phải để dùng trong đời sống hàng ngày. Bình ấm men nâu rất đặc sắc, có nhiều bình men nhoè. Xương gốm xốp, dày, nặng, có độ rỗng, nhờ được nung dưới độ nung cao trong bao nung. Anh Dòng giải thích: “Ngay từ khi mới ra đời ở Thăng Long, gốm hoa nâu đã xuất trình một kỹ thuật riêng: cạo xương gốm khi mới phủ men nền để tạo đồ án trang trí, sau đó người thợ gốm dùng bút lông vẽ hoa văn màu nâu trên phần được cạo ấy. Điều đó đưa đến một khoảng chênh sắc, giữa men nền – màu trắng ngà với hoa văn màu nâu đỏ”.

Đam mê những tác phẩm mang tính thẩm mỹ cao, nhất là những độc bản, quá trình phát hiện, theo đuổi và nghiên cứu để có khả năng tiếp cận mỗi tác phẩm với anh như thể chinh phục một người tình. Chỉ vào kho sách về gốm đầy ắp, anh kể: “Nghề này đòi hỏi thời gian, đam mê dữ dội, và cả sự hy sinh nữa. Nhưng cái được lớn nhất là giúp mình cảm nhận cả một dòng chảy ngầm của văn hoá, tinh thần, vẻ đẹp lịch sử của dân tộc. Chính vì vậy mà tôi luôn có ý thức sưu tầm xuyên suốt cả một quá trình. Gốm cổ có hồn lắm, khi đã chơi là nhập tâm. Sự mộc mạc và tính ngẫu hứng vừa là thế mạnh và thế yếu của gốm cổ Việt Nam. Nhưng tôi yêu cái dị biệt, cái xô lệch, cái bay bổng ấy. Nó như thơ tự do vậy. Khác hẳn với gốm Trung Quốc niêm luật chặt chẽ như thơ Đường. Có những cổ vật mình mê mẩn đến nằm mơ còn bị ám ảnh cả năm trời, chẳng bao giờ dám nghĩ mình sở hữu được. Thế rồi bất chợt một ngày đẹp trời nó tự tìm đến với mình, như thể nhân duyên vậy. Có những niềm tin nhiều khi không giải thích được”.

Chơi gốm không thể không có bạn, để giao lưu, chia sẻ kinh nghiệm. Với anh, bạn chính là thầy. Anh đã học được rất nhiều từ tình bạn với nhà khảo cổ Bùi Minh Trí, nhà nghiên cứu Phan Cẩm Thượng, hoạ sĩ Lê Thiết Cương.

[Nhà nghiên cứu Phan Cẩm Thượng

“Đặt một chiếc bát gốm ngày nay bên cạnh một chiếc bát gốm thời Lý Trần, người ta không khỏi băn khoăn sao lại có lúc con người sống đẹp và khoẻ mạnh như vậy, không khỏi nghi ngờ về văn minh hiện tại như là sự tụt hậu của phẩm chất nhân tính. Chiếc bát Trần chân cao, vẽ hoa văn lam loáng thoáng như cây cỏ, dáng giản đơn, đặt khít tay những tráng sĩ đánh quân Nguyên. Chiếc bát Lý thì thanh nhã, mỏng và lượn vành, như bông hoa trên tay. Kiểu dáng đồ vật nói lên cái đời sống sinh ra nó, người sử dụng nó. Chắc hẳn Lý Trần là thời kỳ người Đại Việt sống rất thanh thản trong tinh thần Phật giáo. Việc trang trí hoa văn chân chim được làm tinh xảo tới mức, người ta có cảm giác một con chim nào đó vừa đi qua, dẫm lên chiếc bát và để lại những dấu chân. Ta hình dung con người thời đó mạnh mẽ cương trực, lại có độ khoan dung của những Phật tử, họ dùng những bát gốm đen lớn để uống rượu, ăn cơm và rau bằng những chiếc bát men ngọc thanh nhã. Bát đũa tuy là đồ dùng thường nhật nhỏ mọn, nhưng cái thường nhật lại thể hiện mức độ văn hoá rõ nhất. Nhìn vào đồ gốm Lý Trần thấy rõ đây là thời võ công thịnh trị, thời mà văn minh Việt có được sự tập trung, dưới ánh sáng của tinh thần Phật giáo, có được cái mà vua Trần Thái Tông đã viết trong Khoá hư lục: Chớ có cắm cổ nhai cơm, mà uổng phí cả đời người”.]

___________________________________________________

Posted in văn hóa, Đồ gốm Việt Nam | Tagged: , , , , | Leave a Comment »