NGÔN NGỮ & VĂN HÓA

CHÚC MỪNG NĂM MỚI

Archive for the ‘Văn hóa các dân tộc’ Category

Mường Nhé có bình yên?

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Năm 10, 2011

Người dân đã về nhà

Theo BBC, nguồn chức sắc tôn giáo cho hay người tham gia bạo động tại Mường Nhé, Điện Biên, đã trở về nhà.

Mục sư Nguyễn Hữu Mạc, Hội trưởng Hội thánh Tin Lành miền Bắc, nói với BBC rằng thông tin cập nhật mà hội thánh nhận được từ nhân sự tại Mường Nhé cho hay người tham gia sự kiện mới rồi, mà đa số là tín đồ Tin Lành, đã “giải tán về nhà”.

“Thế nhưng, chúng tôi cũng được biết tình hình chưa thật sự ổn định và cuộc sống của họ chưa quay trở lại hoàn toàn bình thường.”

Mục sư Mạc không cho biết thêm chi tiết.

Được biết các tín đồ Hmong tham gia vụ bất ổn không có liên quan tới Hội thánh Tin Lành đã chính thức được Nhà nước công nhận, mà đa phần là theo đạo Vàng Chứ, một phiên bản của Tin Lành.

Họ đã được khuyến cáo tập trung tại bản Huổi Khon, xã Nậm Kè, huyện Mường Nhé để đợi Chúa trời.

Mục sư Nguyễn Hữu Mạc cũng nói ông đã nhận được thông tin về thương vong trong các tín đồ, nhưng “chưa chắc chắn và đang đợi kiểm chứng”.

Truyền thông nhà nước không nói tới các vụ bắt giữ và mới chỉ đưa tin một trẻ em ốm bệnh tử vong.

BBC đã có phỏng vấn với ông Giàng A Dình, chủ tịch huyện Mường Nhé. Ông Giàng A Dình đã khẳng định thực tế xảy ra lộn xôn ở huyện ông, nhưng khôn g có thông tin về những con số cụ thể.

Các hội thánh ở tỉnh Điện Biên

Thống kê chính thức cho hay trong địa bàn tỉnh Điện Biên có ba hội thánh hoạt động mạnh.
Trong đó, Hội thánh Tin Lành Việt Nam hoạt động ở 109 bản, 24 xã thuộc 5 huyện với 3.749 hộ, tổng cộng 22.022 tín đồ.

Bên cạnh đó là Hội thánh Liên hữu Cơ đốc miền Nam hoạt động ở huyện Điện Biên Đông và Hội thánh Liên đoàn truyền giáo Phúc âm Ngũ tuần ở huyện Mường Chà.

Đại diện Hội thánh Phúc âm Ngũ tuần nói với BBC họ đã căn dặn tín đồ không tham gia vụ Mường Nhé.

Mấy ngày nay, báo Việt Nam đăng một số bài đả phá đạo Vàng Chứ, được gọi là “tà đạo lợi dụng và xuyên tạc đạo Tin Lành”.

Phó Thủ tướng Việt Nam Trương Vĩnh Trọng, Trưởng ban Chỉ đạo Tây Bắc của Chính phủ, đã có mặt ở nơi xảy ra bạo động của người Hmong tại bản Huổi Khon, xã Nậm Kè, Mường Nhé hôm thứ Bảy 07/05.

Vụ việc được giải quyết trong hòa bình

“Mặc dù đây là vụ tụ tập đông người, gây rối, nhưng vẫn được giải quyết trong hòa bình. Tất cả đồng bào bị lôi kéo, dụ dỗ đều đã trở về quê quán”, Phó thủ tướng Trương Vĩnh Trọng, Trưởng ban chỉ đạo Tây Bắc cho biết.

Nguyên nhân của vụ việc này theo Phó thủ tướng có nhiều, như trình độ của một số người còn hạn chế; do luận điệu tuyên truyền của kẻ xấu… một số người nhẹ dạ, cả tin, hiếu kỳ đã nghe theo. Tuy nhiên, khi các cơ quan chức năng làm rõ những luận điệu tuyên truyền sai trái thì đồng bào đã tự trở về địa phương.

Phó thủ tướng cho biết đã chỉ đạo Đảng bộ, chính quyền huyện Mường Nhé cần tiếp tục gặp gỡ, chia sẻ vui buồn, giúp đồng bào hiểu rõ những luận điệu, âm mưu của kẻ xấu để từ nay trở đi, không nghe theo luận điệu này nữa mà tin tưởng vào thông tin chính thống của các cấp chính quyền.

Phó thủ tướng cũng yêu cầu chính quyền địa phương bảo đảm đời sống, không để đồng bào bị đói; quan tâm, chăm sóc sức khỏe, tạo điều kiện cho con em đồng bào đi học, nhất là con em những người nhẹ dạ cả tin bị dụ dỗ, lôi kéo tập trung đông người, được tiếp tục trở lại học tập.

Ông Trọng khẳng định, Đảng và Chính phủ sẽ có những chính sách cụ thể để đầu tư nhằm cải thiện đời sống cho bà con vùng Tây Bắc, như về giao thông, cơ sở vật chất, tín dụng, đẩy mạnh trồng cây công nghiệp, giải quyết việc làm.

Theo ông Lê Thành Đô, Phó chủ tịch UBND tỉnh Điện Biên, gần đây trong một bộ phận người Mông ở huyện Mường Nhé có thông tin lan truyền rằng những ngày đầu tháng 5, tại Mường Nhé sẽ xuất hiện một “thế lực siêu nhiên”. Thông tin nói “thế lực” này sẽ mang bà con tới miền đất hứa, ở đó mọi người sẽ được ban sức khỏe, hạnh phúc, sự giàu sang và phú quý…

Một số người do nhẹ dạ cả tin đã rủ nhau cùng tụ tập về Mường Nhé để chờ đón sự xuất hiện của “thế lực siêu nhiên”. Lợi dụng tình hình đó, một số phần tử đã kích động, vận động đòi thành lập vương quốc riêng của người Hmông.

(Tổng hợp)
_________________________________________________

Advertisements

Posted in Chính trị Việt Nam, Chuyện pháp luật, Chuyện tôn giáo, Chuyện xã hội, Chuyện đất nước, Tin tức nổi bật, Văn hóa các dân tộc | Tagged: , , | Leave a Comment »

Một góc nhìn về “niềm tự hào Mỹ”

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Năm 4, 2011


-Theo dõi những bài viết về chủ đề “lòng yêu nước” của Vietnamet, hai người bạn lâu năm của Việt Nam là Lady Borton – nhà Việt Nam học – và Chuck Searcy – phụ trách Dự án rà phá bom mìn sau chiến tranh ở Quảng Trị – đã chuyển bài báo sau đây tới toà soạn.

Lời đề tựa của Chuck Searcy:
Bài viết này giải thích một cách sâu sắc về một vết rạn trong tư duy của người Mỹ chúng tôi, đó là ý niệm, rằng người Mỹ là dân tộc “xuất chúng, phi thường”, được “lộc Trời cho”, rằng người Mỹ có thể hành động ở bất kỳ nơi nào trên thế giới mà không sợ bị thiệt hại, mất mát, trừng phạt. Rằng người Mỹ là tiêu chuẩn để cho toàn thế giới vươn tới, hoặc nên hướng tới.
Đây là một khái niệm nguy hại, có tính tự huỷ hoại, nó phanh phui rất nhiều vấn đề lớn mà người Mỹ chúng tôi đang phải đối mặt. Cũng là những vấn đề đang lan ra khắp thế giới như căn bệnh ung thư, bởi vì người Mỹ chưa dám đương đầu với cả thực tế lẫn trách nhiệm về các vấn đề nói trên.
Bài viết dưới đây vạch ra một cách sống động sự khác biệt giữa biểu tượng mà người Mỹ đồng nhất với chính mình, và cách mà các dân tộc khác – được người Mỹ xem là còn xa mới với tới đẳng cấp “ngoại hạng” của Mỹ – đang nhìn nhận người Mỹ.
Cách so sánh như thế cũng giúp đưa ra một cảnh báo cho các bạn Việt Nam của chúng tôi, rằng các bạn không nên để cho đất nước mình trượt theo con dốc của khác biệt giữa cư dân có lợi thế, đặc quyền và diện có hoàn cảnh khó khăn, của “chênh lệch giàu nghèo đang ngày càng doãng ra”[1]. Mong các bạn không sao lãng việc đảm bảo dịch vụ công và bảo vệ lợi ích người dân, thành quả vô cùng quan trọng mà các thế hệ người Việt đã phải hy sinh, mất mát vô cùng to lớn để giành được, trong sự nghiệp chống ách ngoại xâm trước kia, cũng như chống chủ nghĩa thực dân mới, hiện đang nấp dưới chiêu bài đầu tư nước ngoài, công nghệ mới, và các cơ hội thương mại toàn cầu hoá.

Dưới đây VietNamNet lược thuật bài viết[2] mà hai người bạn Mỹ giới thiệu – bài viết của tác giả David Morris, người đồng sáng lập và phó chủ tịch một Viện về phát triển cộng đồng bền vững của Hoa Kỳ, Giám đốc dự án Các quy chế mới (New Rules).

Người Mỹ là số1: Mười phương tuyệt vọng cho nước Mỹ “xuất chúng”

Các nghiên cứu gần đây đã trái ngược với giáo lý cơ bản của tư tưởng cho Mỹ là “siêu hạng”. Báo cáo của viện Brooking chuyên nghiên cứu các vấn đề xã hội của Hoa Kỳ đã so sánh sự năng động kinh tế ở Mỹ và ở các nước khác, viết: “Nhìn xuống đáy của thang lương, sẽ thấy Mỹ ở thế bất lợi so với các nước khác”.
Nhưng với các ứng cử viên tổng thống của Đảng Xã hội Mỹ, câu “nước Mỹ ngoại hạng” lại mang những năng lực thần chú.
Cuốn sách mới của Newt Gingrich (Chủ tịch Hạ viện Hoa Kỳ 1995 – 1999) có tựa đề “Một dân tộc không giống ai: Vì sao nước Mỹ đạt siêu hạng”. Còn bà Sarah Palin – từng liên danh với Mc Cain năm bầu cử 2005 – cũng lấy tiêu đề “nước Mỹ xuất chúng” đặt cho một chương của cuốn “America by Heart” (Nhập tâm nước Mỹ). Các ứng cử viên tổng thống của Đảng Cộng hoà gần đây thường cho rằng chối bỏ tư tưởng “nước Mỹ ngoại hạng” sẽ dẫn đến từ bỏ “trái tim và tâm hồn” Mỹ, rằng “thay đổi quan điểm tôn vinh tư tưởng ‘nước Mỹ xuất chúng’ là sai lạc, dẫn đến phá sản”.
Sau khi phỏng vấn nhiều lãnh đạo Đảng Cộng hoà, phóng viên Bưu điện Washington Karen Tumulty kết luận rằng quan điểm Mỹ “vừa sinh ra đã là thượng đẳng so với các dân tộc khác” là phổ cập. Hầu hết người Mỹ tin rằng sự siêu việt của họ không chỉ là di sản, mà còn là ý nguyện của Đấng bề trên.

Lượng hải hà?

Một nghiên cứu của Viện nghiên cứu Tôn giáo thuộc chính phủ Mỹ và viện Brookings cho thấy 58% dân Mỹ nhất trí với phát biểu: “Chúa đã ban cho nước Mỹ một vị thế đặc biệt trong lịch sử loài người”.
Về phần mình, tôi cũng tin vào quan điểm “nước Mỹ xuất chúng” – nhưng theo nghĩa “nước Mỹ là trường hợp hiếm có, là biệt lệ”, và tôi không nghĩ rằng Chúa trời đã an bài chuyện này. Tôi cho là nước Mỹ có được những lợi thế của mình so với những nước khác, trong một trường hợp hiếm có, phi thường. Đồng thời, cách nước Mỹ xử lý những lợi thế này lại không hề siêu việt, xuất chúng gì cho cam.
Theo tôi, có hai sự phi thường của Mỹ. Thứ nhất, là các điều kiện thuận lợi một cách phi thường mà nước Mỹ có được khi lập nước, và suốt trong 200 năm sau thời điểm ấy. Thứ hai, là cách người Mỹ hoang phí những lợi thế này cũng thật “phi thường”, trong suốt quá trình tạo ra một hệ thống giá trị phi thường đến mức kỳ quặc. Một hệ thống giá trị đã chống lại các thay đổi cần thiết, phải có vào lúc các lợi thế nói trên bị mất đi”.

Rừng vàng biển bạc

Người Mỹ đã trở nên giầu có không phải do đã năng động cá nhân một cách quyết liệt, hay nhờ bàn tay, khối óc biết kinh doanh, hoặc do tài phát minh sáng chế. Người Mỹ chúng tôi sinh ra đã giầu. Cách Ann Richards miêu tả Tổng thống Mỹ George Bush Sr (cha) có thể áp dụng cho toàn nước Mỹ, “Bush sinh ra chẳng xuất chúng gì, nhưng nghĩ rằng mình chơi ‘một vốn bốn lời’”
Khi được yêu cầu chỉ ra sự khác biệt quan trọng nhất giữa Cựu thế giới (châu Âu), và Tân thế giới (Bắc Mỹ), sử gia nổi tiếng Henry Steele Commager nói rằng, trẻ con sinh ra ở Tân thế giới sẽ sống sót.
Nước Mỹ cũng được hưởng lợi ghê gớm từ hàng chục triệu người nhập cư, những người, qua một quá trình chọn lọc tự nhiên theo thuyết Darwin, là những kẻ đầy nghị lực, có đầu óc kinh doanh, chịu khó chịu khổ, đến từ các nước khác. Ở phần tối của bức tranh nhập cư ở Mỹ, người Mỹ hôm nay còn được hưởng lợi ghê gớm từ hàng triệu người di cư không có dự định trước, bị biến thành một đội quân người làm không được trả công lao động tại các đồn điền miền Nam.
Sự phi thường của Mỹ cũng bao gồm lợi thế vô song là được hai đại dương ngăn cách khỏi các kẻ thù tiềm năng. Sau năm 1815, không một quân đội nước ngoài nào đặt chân lên đất Mỹ.
Thế kỷ tiếp sau, các cuộc chiến tranh ở các nước khác mang lại món lợi ghê gớm cho nước Mỹ. “Trong thế kỷ hai mươi, kinh tế Mỹ hai lần không những không bị phá huỷ, mà còn giầu thêm nhờ chiến tranh, khi các đối thủ tiềm năng của nó bị biến thành các bậc hưu trí” – sử gia Godfrey Hodgson viết. Sau chiến tranh thế giới I, Hoa Kỳ trở thành chủ nợ của toàn thế giới. Sau thế chiến hai, châu Âu và Nhật bản nằm trên đống tro tàn, trong khi nước Mỹ sở hữu một tài khoản bằng 40% kinh tế thế giới.
Danh sách những lợi thế phi thường của Mỹ còn dài dài, gồm cả dự trữ vô bờ về nhiên liệu hoá thạch và quặng sắt. 200 năm đầu của lịch sử của mình, nước Mỹ tự cấp về dầu hoả. Hôm nay, nước Mỹ vẫn tự cấp khí đốt một cách thoải mái, và vẫn xuất khẩu than.

Nền văn hoá của “nước Mỹ xuất chúng”

Người Mỹ trở nên giàu có nhất quả đất không phải vì họ được thừa hưởng những nét văn vật siêu phàm, chẳng phải vì họ là sự lựa chọn của Chúa Trời, cũng không hề do có được một Hiến pháp thanh tao và súc tích, cũng không nhờ những câu Tuyên ngôn Độc lập trầm hùng. Chúng tôi giàu nhờ chúng tôi đã may mắn một cách phi thường.
Nhưng huyền thoại về chuyện người Mỹ giàu có hơn nước khác là nhờ được ban phúc lành đã khuyến khích người Mỹ phát triển một nền văn hoá đậm đà bản sắc “siêu phàm”. Chính nền văn hoá này đã biến chúng tôi thành những kẻ không được trang bị thêm năng lực gì để tiếp tục phú cường, khi phước của chúng tôi bất trùng lai; khi đất đai giá hời cùng các nguồn năng lượng tỏ ra suy kiệt; khi những người cừ khôi và sáng láng nhất trên trái đất ở lại nhà họ, không chịu di cư sang các bờ vịnh của nước Mỹ nữa; và khi chiến tranh bắt đầu chất gánh lên đầu lên cổ người Mỹ, đồng thời làm giàu cho các đối thủ kinh tế của nước Mỹ.

Tôi và chúng ta

Cốt lõi của nền văn hoá “siêu phàm” kia là sự tôn vinh “cái tôi”, và một sự khinh thị “chúng ta”. Khi Viện điều tra xã hội học Harris hỏi các công dân Mỹ ở tuổi 18 từ nào là biểu trưng cho người Mỹ, câu trả lời đã không làm ai kinh ngạc. Gần 60% người được hỏi chọn từ “tự do”. Câu trả lời phổ biến thứ hai là “lòng yêu nước”. Chỉ có 4 phần trăm chọn từ “(ý thức) cộng đồng”.
Đối với những “người Mỹ siêu phàm”, tự do có nghĩa là làm gì họ muốn, không bận tâm chuyện đó có ảnh hưởng gì đến các đồng bào mình. Một định nghĩa như thế làm phần còn lại của thế giới hoang mang. Họ (phần còn lại của thế giới) bèn hỏi rằng, phần tinh tuý của tự do kiểu Mỹ phải chăng là đóng thuế thấp, hay không đóng thuế, và quyền được mang súng vào quán ăn? Càng ngày, càng đông lên số người Mỹ mà, nếu được hỏi rằng các cuộc bầu cử gần đây hẳn chẳng có mấy dấu ấn đâu, sẽ trả lời ngay: ‘Anh nói đúng bỏ xừ đi”.
Người Mỹ còn tỏ ra “xuất chúng” khi trả lời câu hỏi sau đây: “Phải chăng chính phủ có trách nhiệm phải thu hẹp khoảng cách về thu nhập?”. Chỉ không đầy 1/3 người Mỹ được hỏi trả lời “phải”, trong khi có tới hơn 2/3 người dân của 26 quốc gia khác trả lời như vậy.

Con chưa hơn cha

Những số liệu gần đây mâu thuẫn về nền tảng với thuyết “nước Mỹ siêu việt”. Một báo cáo của Viện Brooking cho hay khả năng chuyển giao “tính năng động kinh tế” từ đời này sang thế hệ khác ở Mỹ thấp hơn ở các nước khác.
Hiện tại hệ thống y tế của Mỹ là đắt giá nhất, khó tiếp cận nhất, và có năng lực phục vụ thấp nhất trong các nước công nghiệp phát triển.
Lần đầu tiên sau 200 năm đầu của lịch sử nước Mỹ – một kỷ nguyên người Mỹ được xem là lạc quan nhất nhân loại, chúng tôi đang trở thành một cộng đồng thấp thỏm nhất.
Một điều tôi nói đến như sự ưu việt trong lịch sử Mỹ ở đầu bài báo này đến hôm nay đã không còn đúng. Hiện tại, tỷ lệ trẻ em sơ sinh sống sót được ở Mỹ trở nên thấp nhất trong các nước công nghiệp phát triển.
Nhưng hôm nay người Mỹ chúng tôi quả đã trở thành “phi thường”, do nền văn hoá phát sinh từ lịch sử quá may mắn của chúng tôi. Nền văn hoá “phi thường” ấy đã làm chúng tôi đương đầu với thách thức, có lẽ là lớn nhất, đối với sự tồn vong của cộng đồng, cũng như đối với sự hưng thịnh, trong những điều kiện ít thuận lợi hơn nhiều cho nước Mỹ của thế kỷ 21.

Lê Đỗ Huy (lược dịch)

[1] Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng
[2] http://www.alternet.org/story/150691/we%27re_#1_–_ten_depressing_ways_america_is_exceptional
______________________________________________________

Posted in Chuyện xã hội, Văn hóa các dân tộc | Tagged: , , | Leave a Comment »

Ngọc xanh cao nguyên đá

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Hai 13, 2011

– Nơi mùa đông kéo dài nhất ở cực bắc Tổ quốc có người lính Biên phòng đang đằm giữa cái lạnh khắc nghiệt của Cao nguyên đá Hà Giang. Các anh tiếp sức cho nhành đào rẻo cao mang mùa Xuân đến sớm..

1. Thăm thẳm đá trước mặt. Vặn nghiêng cả trăm sườn núi, chiếc Ranger đặc chủng của Biên phòng Hà Giang vẫn cắn từng con dốc. Trung tá điều tra tội phạm ma tuý Nguyễn Văn Phương và chiến sỹ lái xe – những người lính gắn đời trai với từng mét thạch địa vùng cao, dường như đã thấm mệt sau nửa ngày cùng phóng viên Tiền Phong vượt cả trăm cây số bên vực vách.
Phía chân trời Công viên địa chất toàn cầu cao hơn ngàn mét so với mực nước biển, Đồn biên phòng Săm Pun không phải là điểm đến cho người yếu bóng vía giữa cái lạnh khắc nghiệt của ngày đông Mèo Vạc.
Những người lính biên ải ngồi hong nắng sớm sân đồn. Da mặt hết thảy nhuốm màu sẫm đỏ. Rẻo cao gió hun hút rít. Cánh rừng Tống Quáng gần đó vẫn in trên mỗi cành cây gãy cụt vì băng tuyết đè nặng từ mùa đông cũ. Đêm qua đài báo không khí lạnh đang tràn về đợt mới.
Ở cái nơi xa lắc thuộc bốn huyện nghèo nhất của tỉnh Hà Giang như chỉ thừa gió, thừa rét, và nhìn chỗ nào cũng thấy đá trơ ra vĩnh viễn, còn lại thiếu thốn tất cả, nhất là thiếu đất, thiếu nước. Mấy luống rau cải yếu ớt chen chân ở khe đất hiếm hoi quanh đồn, thứ rau gần như duy nhất mọc được quanh năm dành cho những ai sống ở Săm Pun lạnh giá, khô khát.
Không ai tắm. Mới chớm mùa khô nhưng anh em biết sẽ lại như năm trước, mỗi người chỉ được vài ca nước mỗi ngày. Cái bể nước mưa, nguồn nước duy nhất mà bộ đội và dân bản hứng lấy lúc đầu hạ, đã muốn cạn vơi đến nửa. Bữa tối dọn ra rất muộn chỉ cơm với rau cải thật ngọt trong hơi ấm ứa ra từ lòng tay người lính, có nụ cười loang ra, chẳng dễ nhận ra ai là lính, ai là chỉ huy đồn.

2. Tiếng gào thảm loang trong màn đêm lúc 0 giờ từ bản Mỏ Phàng. Đuốc lập loè túa ra tìm đến nhà chị Dua ở ven bản sát cột mốc biên giới. Người đàn bà đang ôm đứa con trai năm tuổi co rúm góc giường nấc lên ú ớ chỉ ra vạt đồi đèn ngòm: “Chúng nó… bắt, bắt thằng bé rồi!” – đứa con trai thứ hai mới gần ba tuổi.
Chồng chị đi làm thuê bên Trung Quốc mấy tháng chưa về. Những đối tượng mặc đồ đen bịt mặt đột nhập vào căn nhà len theo khe hở giáp mái. Chúng dí dao sát cổ khống chế. Thằng bé đang say giấc bị cướp đi khi chưa tỉnh, chị Dua khiếp sợ chỉ kịp thét lên một tiếng rồi ngất lịm.
Những đối tượng mặc đồ đen bịt mặt đột nhập vào căn nhà len theo khe hở giáp mái. Chúng gí dao sát cổ khống chế. Thằng bé đang say giấc bị cướp đi khi chưa tỉnh.
Thượng úy Đoàn Khắc Điền cùng những người lính trạm biên phòng Mỏ Phàng lanh lẹ nịt giày, xách súng lao đi. Mấy chục phút sau, Thiếu tá Kim Đình Tư, người phá án giỏi nhất của đồn Săm Pun cũng phi xe máy vượt con đường đá ven biên giới về bản. Nhưng bọn người mặc đồ đen bịt mặt đã biến mất…
Lại thêm một vụ án bí ẩn. Đèn pin sáng rọi từng bụi cây vạt đồi. Những người lính biên thùy một phút lặng lẽ nhìn nhau. Máu như muốn ứa ra từ quầng mắt của họ. Con gái đi nương, đàn bà rẫy củi, trẻ chăn bò… vài ngày lại rộ lên ai đó bỗng dưng mất tích. Vùng biên ải xa lắc nhồi thêm nỗi khiếp sợ mỗi ngày khi màn đêm ập tới. Những bức rào đá quanh nhà xếp mãi lên cao lo lắng.
Bức điện khẩn trong đêm đến từ Bộ chỉ huy Biên phòng Hà Giang vừa chuyển tới, phải phá vụ án này bằng mọi giá. Chín tháng mật phục, tìm kiếm, điều tra. Thượng úy Điền, Thiếu tá Tư, Trung tá Phương, Trung tá Phúc trưởng đồn và hàng chục người lính Săm Pun không có đêm nào ngon giấc.
Ở chiến tuyến phía “cánh gà” nách trái Cao nguyên đá, những người lính Đồn biên phòng Bạch Đích cũng liên tiếp triệt phá hàng chục vụ án bắt cóc, mua bán phụ nữ, trẻ em. Có vụ đặc biệt nghiêm trọng khi một gia đình vợ chồng trẻ người Tày bị kẻ xấu đánh chết, cướp đi con trai đưa sang Trung Quốc.
Chưa phá xong vụ án này, lại có thêm con gái ở bản Cờ Lẳng và Mỏ Phàng bị bắt cóc. Công an tỉnh, dân phòng, và cả bộ đội biên phòng nước bạn cùng vào cuộc, vẫn chưa vơi đi những vụ án lạ.
Thiếu tá Tư, người đã cuốc bộ trên đá đến với 32 thôn bản xa nhất ở Mèo Vạc, nét mặt đọng buồn kể lại vụ án Mùa Thị Mỷ. Anh lặng đi khi nói ả bị bắt nhưng anh em đồn Săm Pun vẫn chưa tìm thấy con trai chị Dua. Mấy cái Tết, anh Tư không thể về quê ở Vĩnh Phúc vì bình yên biên ải…
Người lính điều tra nhìn xa xăm ra núi đá. Anh vừa được Phó Chủ tịch Quốc hội Huỳnh Ngọc Sơn khen thưởng nóng khi giải cứu thành công 2 em nhỏ bị bán sang Trung Quốc cuối năm qua, hơn 30 tên tội phạm từng làm khiếp đảm phụ nữ và trẻ em trên đất này đã bị bắt trong hai năm vừa qua, nhưng vẫn tiềm ẩn đâu đó mối nguy bùng lên nếu người lính biên phòng lơi tay súng.
Còn Thượng úy Điền may mắn hơn bao đồng đội khác khi bén duyên cùng cô giáo tiểu học nên vợ nên chồng. Nhiều cái Tết đến rồi đi, Điền cùng vợ và anh em mang bánh chưng xuống bản đốt lửa cùng vui chén rượu mà chỉ đau đáu lo tội phạm giở trò giữa ngày vui. Giữ bình yên, gieo con chữ vùng cao, có người lính quân hàm xanh và cô giáo cắm bản chưa bao giờ nhụt chí.

3. Tết này lão Thò Vừ ở bản Lùng Thúng có nhà mới. Xuân như đến bản này sớm hơn. Gần đấy là nhà của lão Thò Chư Pó cũng vừa cất xong, tường gạch trát vữa, mái tôn đỏ tươi. Hơn chục mái nhà trong bản nhỏ bừng lên sức sống mới, bên triền đá xám.
Hơn 25 cây số đường biên do đồn Săm Pun quản lý, hàng chục bản làng đã đổi thịt thay da từ bàn tay, lương tâm trách nhiệm người lính. Phên giậu Tổ quốc vững vàng nhờ luỹ thép lòng dân. Dân vùng Cao nguyên đã ví các anh như Ngọc bích vùng đất này.

Ghi chép của Tùng Duy
________________________________________________________

Posted in Chuyện xã hội, Chuyện đất nước, Văn hóa các dân tộc | Tagged: , , | Leave a Comment »

Bí ẩn tộc người xâm đất

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Hai 4, 2011

Kim Anh

– Huyền thoại Chu Ru kể rằng vì sự cai trị hà khắc của vua quan một bộ phận người Chăm ở ven biển Nam Trung Bộ đã trốn lên vùng núi cao Nam Tây Nguyên. Họ tự đặt tên là Chu Ru có nghĩa là chiếm đất và gìn giữ nghề truyền thống cùng bao luật tục lạ lùng.

Nghi lễ đặc biệt của nghề gốm ở Krăngọ

Krăngọ (xã Pró, Đơn Dương, Lâm Đồng) là làng gốm thủ công truyền thống nổi tiếng nhất của người Chu Ru; ngay cái tên Krăngọ cũng đã nói lên đặc điểm của làng nghề bởi gọ trong tiếng Chu Ru có nghĩa là nồi đất.
Một trong những nghệ nhân giỏi nhất làng là già Ma Kia (77 tuổi) vừa khéo léo nặn chiếc nồi vừa kể: Xưa kia vào mùa khô, cả làng nổi lửa làm gốm để đổi chiêng chóe, thổ cẩm với người Mạ và K’ho. Nhiều đoàn người từ Lào và Cam-pu-chia cũng dùng voi chở lúa bắp, vòng cườm… vượt rừng sâu núi cao sang Krăngọ để đổi gốm vì gốm Chu Ru nổi tiếng khắp vùng.
Theo ông Tou Prong Tùng – một chức sắc trong làng, đất nguyên liệu để làm gốm được lấy từ núi K’ Lơl, cách làng khoảng 1 km. Chỉ những nghệ nhân lành nghề mới chọn được lớp đất sét phù hợp màu nâu vàng và họ chỉ làm việc này khi người sạch sẽ, tâm hồn thanh thản.
Dụng cụ làm gốm ở Krăngọ cũng hết sức đơn giản: Một chiếc vòng được làm bằng tre (knu) và miếng gỗ nhỏ (tanạp) để nắn gốm cho đẹp, quả trám rừng màu đen (playcanh) dùng đánh bóng sản phẩm.
Nghệ nhân đặt khối đất lên bàn gỗ phẳng cố định rồi đi xung quanh để nặn và tạo dáng gốm hoàn toàn bằng tay: Tay trái đỡ bên trong, còn tay phải cầm tanạp đập đập bên ngoài cho cân đối; dùng knu để làm nhẵn gốm rồi đánh bóng bằng playcanh.
Sau khi nặn, phơi khô và tuốt lại lần cuối cùng, các sản phẩm gốm thô như nồi đất, lu, khạp, bát, lọ hoa, bình rượu… được xếp giữa vườn rồi chất củi chung quanh, nổi lửa đốt khoảng 2 giờ, sau đó ủ tro chừng 2 tiếng đồng hồ nữa là mẻ gốm hoàn thành.
“Kỹ thuật làm gốm Chu Ru khá thô sơ nhưng chính vẻ mộc mạc, dân dã này đã làm nên cái hồn cho sản phẩm” – phó Phòng VH – TT Đơn Dương Đặng Huệ Chí nói. Ông Tou Prong Tùng cũng thổ lộ: Nghi lễ đặc biệt của nghề gốm Krăngọ gây tò mò cho du khách khi khám phá những nét đẹp văn hóa cao nguyên, chẳng hạn khi lấy đất nguyên liệu, nghệ nhân phải chuẩn bị lễ vật gồm chóe rượu cần, đôi gà (1 trống – 1mái) cùng 4 quả trứng và 1 đĩa trầu cau đưa đến nhà chủ đất nhằm xin phép chủ làng, thần đất. Người Chu Ru quả quyết nếu không có nghi lễ này, các sản phẩm gốm sẽ xấu, nứt vỡ nhiều do thần linh quở phạt”.

Nhẫn mái, nhẫn trống – tín vật thiêng liêng

Với người Chu Ru, srí là nhẫn mái dành cho nữ giới và sră là nhẫn trống dành cho nam giới. Đó không chỉ là những vật trang sức, của hồi môn mà còn là tín vật thiêng liêng không thể thiếu khi sơn nữ bắt chồng; thế nhưng, trong số hơn 15.000 người Chu Ru hiện chỉ có 2 – 3 nghệ nhân chế tác được loại nhẫn bạc này, trong đó nổi tiếng nhất là ông Ya Tuất (làng Ma Đanh, Tu Tra, Đơn Dương). Hơn 20 năm – 20 mùa rẫy trôi qua, bếp của gia đình nghệ nhân này lúc nào cũng đỏ lửa để đúc nhẫn.
“Số nhẫn cưới mà chồng tôi làm cho các cô gái bắt chồng nhiều lắm, không thể nhớ hết được đâu!” – bà Ma Wêl (vợ ông Ya Tuất) nói. Không chỉ người Chu Ru mà người Lạch (Lạc Dương, Lâm Đồng), đồng bào Chăm (Ninh Thuận), người Kinh (Đồng Nai, Vũng Tàu) cũng tìm đến đặt làm nhẫn bạc.
Số nhẫn cưới mà chồng tôi làm cho các cô gái bắt chồng nhiều lắm, không thể nhớ hết được đâu! – Bà Ma Wêl (vợ ông Ya Tuất, nghệ nhân làm nhẫn)
Một người Mỹ tên là David Abrecht đã mua 15 chiếc nhẫn mang về nước làm quà. BTC Festival hoa Đà Lạt cũng từng đặt làm 300 chiếc nhẫn cưới để tặng 150 cặp uyên ương trong chương trình tôn vinh tình yêu tại lễ hội.
Nghệ nhân Ya Tuất cho hay nhẫn bạc được làm hoàn toàn thủ công, chủ yếu dựa vào bí quyết của dòng tộc và sự khéo tay của người thợ. Dụng cụ chế tác nhẫn rất đơn giản (chỉ có một thanh sắt nhỏ mài thật sắc để làm dao, còn bễ thổi, ống thổi, kẹp khuôn đúc… đều bằng cây rừng) nhưng các công đoạn chế tác lại rất tỉ mỉ, kỳ công: Đầu tiên nấu chảy sáp ong; lấy dùi gỗ nhúng vào sáp rồi để cho nguội nhằm tạo ra những ống sáp tròn rỗng ruột, sau đó cắt những ống sáp này thành các khoen tròn để tạo khuôn đúc nhẫn. Kế đến là xe sáp thành những sợi mảnh như chỉ rồi bện thành các hình khác nhau để tạo ra các họa tiết trang trí cho nhẫn.
Khuôn sáp nói trên được nhúng vào dung dịch đất và phân trâu rồi phơi nắng từ 1 – 2 ngày cho khô hoàn toàn; sau đó đem đốt trên lửa than để sáp bên trong nóng chảy, còn phần dung dịch đất và phân trâu kết lại thành khuôn âm bản.
Bạc vừa được nấu chảy và đổ vào khuôn âm bản này sẽ cho ra chiếc nhẫn màu xỉn đen, tuy nhiên, sau khi được bỏ vào nồi bồ kết đang đun sôi, chiếc nhẫn sáng dần và lấp lánh ánh bạc. Ya Tuất có thể làm được 12 loại nhẫn khác nhau như nhẫn có mặt đính hạt cây rừng màu đỏ, màu xanh tựa đá hồng ngọc, bích ngọc.
Sở dĩ người Chu Ru dùng phân trâu để chế tác nhẫn vì trâu là con vật tổ thiêng liêng; loại đất để làm khuôn bạc là đất bí mật trong rừng, chỉ nghệ nhân mới biết; củi dùng nấu bạc phải là loại cây rừng có tên kasiu. Đêm trước khi đúc nhẫn, nghệ nhân phải cách ly hoàn toàn với vợ…

Ngăn hồn ma quay về

Gần 15 năm trước, khi đến một số buôn làng vùng sâu của người Chu Ru ở xã Tà Năng (Đức Trọng, Lâm Đồng), chúng tôi không khỏi bàng hoàng khi bắt gặp những ngôi mộ nổi nằm lẩn khuất trong rừng với mùi xác chết đang thối rữa tanh nồng.
Đó là những ngôi nhà nhỏ mái tranh (khoảng 9-12 m²) rêu mốc, bên trong có hơn chục chiếc quan tài chồng chất lên nhau; nhiều cái hòm ván bị mục, lộ sọ người trắng hếu. Người Chu Ru có tập tục lập mộ nổi thay vì chôn người chết xuống đất.
Lần này về thăm lại buôn làng Chu Ru, các già làng của những dòng họ lớn như Ma U, Jơ Rơ Lơng, Nắc Ra Na… đều khẳng định đã vận động bà con buôn làng bỏ tập tục đưa xác người vào nhà mồ.
Thật vậy, ngày càng có nhiều khu nghĩa địa đời sống mới xuất hiện ở các buôn làng Chu Ru xa xôi thay cho nhà mồ nổi. Nếu bạn nhìn thấy một vài nhà mồ nổi tại nghĩa địa thì đó chỉ là nơi cất giữ tài sản làm đẹp lòng người chết chứ không chứa xác như trước.
Người Chu Ru ở huyện Đơn Dương có tập tục chôn chung nhiều người trong một huyệt mộ; khi mộ chung đã có nhiều xác (có khi tới trên 20) thì tổ chức lễ bỏ mả. Theo tộc người này, chết chưa thật sự là mất mà hồn của người chết vẫn vương vấn và có thể quay về trừng phạt người sống.
Muốn người chết ra đi vĩnh viễn, dòng họ phải làm lễ bỏ mả linh đình nhằm thông báo cho hồn ma rằng mọi vướng mắc, nợ nần, phân chia tài sản đã xong, người sống đã hoàn thành phận sự của mình; hồn ma hãy về làng ma và trải qua một vài kiếp sống khác rồi trở lại làm người.
Do tính chất quan trọng như vậy nên lễ bỏ mả thường có qui mô lớn với hàng trăm người tham gia và phô diễn hầu hết những sản phẩm VH – NT đặc sắc nhất. Già Tou Prong Hang kể: Mỗi khi gia đình nào làm lễ thì hầu như cả buôn tạm ngưng chuyện đi rẫy đi rừng để giúp dựng nhà mồ, cột thờ; điêu khắc tượng và vẽ các hoa văn truyền thống.
Một số người mang chiêng ra đánh để giao lưu với các thần linh và làm cho hồn người chết siêu thoát, cầu cho dòng tộc khỏe mạnh, nương rẫy được mùa, không bị ma làm hại. Các đôi trai gái nắm tay nhau say sưa nhảy múa theo tiếng chiêng xung quanh ngôi mộ. Các cụ già thi nhau Chock (vừa khóc vừa nói theo vần theo điệu, lên bổng xuống trầm) để kể lể nhớ thương, tâm sự với hồn người chết.
Già Hang nói cách đây mấy năm chị Ya Nhai (buôn M’Lọn, thị trấn Thạnh Mỹ) đã mổ 8 con trâu để tổ chức lễ bỏ mả cho tám thế hệ từ đời cố ngoại và tháng giêng tới gia đình Jơ Lông Ma Liêng sẽ có lễ tương tự.
Bởi các di sản văn hóa đặc trưng của người Chu Ru rất phong phú, độc đáo nên Sở VH – TT Lâm Đồng đã xây dựng dự án nhằm biến những di sản này thành sản phẩm du lịch hấp dẫn. Trước đó, Sở phối hợp cùng Viện nghiên cứu VH – NT phục dựng lễ bỏ mả và Bộ VH – TT cũng đã hỗ trợ kinh phí để phục dựng lễ hội mừng lúa mới của người Chu Ru ở Lâm Đồng.

____________________________________________

Posted in Văn hóa các dân tộc, Đồ gốm Việt Nam | Tagged: , , | Leave a Comment »

Bi hài những ông Tây “trốn” tết Việt

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Hai 3, 2011

-Nếu những người nước ngoài lần đầu được đón Tết ở Việt Nam đều có chung tâm lý lạ lẫm, ngạc nhiên vì đường phố vắng hoe, bị bỏ đói, hoặc phải đi bộ về nhà… thì một số khác lại tỏ ra thích thú, thấy nghiện Tết Việt, số nữa lại lo lắng tìm cách “chạy trốn”…

Lơ ngơ ngày Tết

Là giáo viên dạy tiếng Anh của một trường Đại học tại Hà Nội, không ít lần John đã đón Tết ở Việt Nam. Nhớ lại lần đầu tiên anh một mình giữa thủ đô trong không khí vắng tanh, yên lặng đến lạ lùng anh nói: “Thường ngày Hà Nội đông đúc, nhộn nhịp là thế mà hôm đó bỗng đường xá vắng hoe, không một bóng dáng hàng quán nào mở cửa”.

Lúc đó, John đã rất hoang mang anh không hiểu chuyện gì đang diễn ra ở đây, “tôi đã rất lo, vì có lẽ tôi sẽ không thể mua được thứ gì để ăn trong ngày hôm đó”, John nghĩ.

Vì đó là những ngày đầu anh tới Việt Nam, nên anh chưa hiểu hết được những phong tục, tập quán ở đây. Nhưng dù đã lang thang đến gần hết ngày thì đúng như anh nghĩ, anh đã không thể tìm thấy dù chỉ là một quán nước vỉa hè. Sau đó anh mới biết, cái hôm cả Hà Nội không ai muốn ra đường đó là ngày mồng 1 Tết, (hay còn gọi là Tết âm lịch, Tết Nguyên Đán của Việt Nam).
Còn Anna Claude Lacote, người Pháp thì cho biết, tối hôm 30 chị cùng bạn trai đi dạo quanh bờ hồ, gần đến 12h, bỗng thấy dòng người đổ về khu vực bờ hồ đông nghìn nghịt, người đông đến nỗi hai người không thể nhúc nhích được tí nào. Đối với tôi, ngày hôm đó đúng là một kỷ niệm nhớ đời, “anh ấy cố nắm tay tôi thật chặt như thể sợ tôi bị người ta đẩy đi mất, phải đến gần sáng chúng tôi mới về được đến nhà”, Anna nói.

“Nếu bạn muốn đi chơi ở Hà Nội vào những dịp đó, bạn nên xác định rõ bạn sẽ phải tự đi bộ để về nhà”, đó là lời khuyên chân thành được đúc kết từ kinh nghiệm của một vị du khách tên là Tsang ở Hồng Kông. “Tôi đã phải mất nhiều giờ để đứng vẫy taxi, dòng người quá đông, không một chiếc taxi nào dám dừng lại. Cuối cùng tôi buộc phải tự đi bộ khoảng 4-5km vì việc riêng của mình. Đó là cả một quãng đường kinh khủng, tôi chưa bao giờ đi bộ xa đến thế, nhưng nếu phải đứng cả buổi để vẫy xe thì có lẽ đó vẫn là giải pháp tối ưu nhất”, Tsang chia sẻ.

Tết ở Việt Nam là khoảng thời gian đặc biệt, để gia đình được quây quần, đầm ấm bên nhau, đây là một phong tục từ lâu đời cũng là một nét đẹp văn hóa đặc sắc của dân tộc Việt Nam. Không ít khách nước ngoài đã có những kỷ niệm và nhiều ấn tượng đặc biệt, thậm chí nhiều du khách đã không ngần ngại chia sẻ mình rất thích đón Tết tại Việt Nam, “Tôi nghiện Tết Việt…”

Tuy nhiên, nhiều người do không hiểu về những phong tục tập quán, do cách sinh hoạt bị thay đổi đột ngột nên đã khiến không ít những vị khách nước ngoài phải rơi vào tình huống cười ra nước mắt.

Nỗi sợ làm “người mẫu”

Nếu tính ra, đây là sẽ Tết thứ 2 Jean được đón Tết cùng vợ ở Việt Nam. Nhưng khác với năm ngoái, năm nay, Jean đã thương lượng với vợ để đặt vé đi du lịch từ cách đó hơn một tháng.

Anh cho biết, Tết ở Việt Nam rất vui, nhưng mình muốn đi du lịch để được nghỉ ngơi và có thời gian giành trọn vẹn cho gia đình. Theo lời kể của anh, do năm trước anh là rể mới, công việc lại bận rộn ít về quê, nên có mỗi dịp Tết là cơ hội tuyệt vời để ông bố vợ được dắt “chàng rể tây” đi khoe với họ hàng.

Khổ một nỗi, Tiếng Việt bị hạn chế nên mỗi khi bước ra khỏi nhà là bố vợ lại không quên kéo anh lại dặn anh phải nói thế nào cho phải. Thậm chí, ông còn phát âm từng từ một để anh đánh vần cho chắc ăn.

Khi đến nhà ai anh cũng thấy mọi người bê mâm mời ăn, mời uống. Từ chối thì không được vì thấy bảo “cả năm bị xui xẻo”, hơn nữa anh cũng đâu dám to gan làm mất lòng bố vợ. Cuối cùng suốt mấy ngày Tết, anh chỉ có mỗi việc ăn rồi lại đi với bố vợ rồi lại ăn, và ngủ… Kết quả là anh bị một trận “tào tháo” đuổi bơ phờ vì không hợp khẩu vị. Còn vợ anh thì cho biết, có lẽ do phải học đi học lại quá nhiều lần mà đến đêm anh vẫn nói mơ mấy câu nói của bố vợ dạy.
Còn với Bill thì lý do để anh muốn đưa vợ đi Thái Lan là “anh không muốn làm người mẫu”. Bill cho biết, từ chục năm về trước chuyện dắt một ông Tây về ra mắt ở một xã nghèo như quê vợ tôi thì đúng là chuyện xưa nay hiếm.

Cảnh đầu tiên khi cô ấy đưa tôi về nhà là cả một đám trẻ chạy theo, bọn chúng nhìn tôi chằm chằm rồi bàn tán không ngớt lời. Còn bố vợ và mấy cậu em thì tự hào ra mặt, chúng đưa tôi đi khắp nơi, đi đâu chúng cũng muốn lôi tôi đi cùng. Không phải vì quý mến mà vì chúng muốn tôi “người mẫu” để chúng được thể oai với bạn bè. Hễ đi tới đâu, mọi người lại xúm lại người thì bảo tôi cao quá, người thì nói trắng quá, người lại nói mắt xanh nhỉ… việc đó khiến tôi rất lúng túng.

Cho đến bây giờ, dù Tây về làng không còn là chuyện lạ nữa, mấy cậu em cũng không còn rủ tôi đi cùng nữa, nhưng năm nào cũng vậy, cứ Tết là tôi lại phải lẽo đẽo đi theo làm “người mẫu” cho bố vợ. Dù chẳng muốn tí nào, nhưng chiều vợ lại sợ mất lòng bố vợ nên anh cứ âm thầm đi theo mà trong lòng thì mệt mỏi vô cùng.

Một cái Tết, luôn có rất nhiều ý nghĩa với mỗi người, với mỗi gia đình và với cả dân tộc. Để giữ cho không khí ngày Tết được vui vầy, đầm ấm mỗi người nên tự biết cân bằng, sáng tạo để không khí ngày Tết có thêm nhiều màu sắc mới, độc đáo, và hấp dẫn không chỉ với riêng mình mà với tất cả mọi người.

V.L
_____________________________________________________________

Posted in Chuyện lễ hội, Thuần phong mĩ tục, Văn hóa các dân tộc | Tagged: , , | Leave a Comment »

Một số nghi lễ dân gian tiến hành vào đầu Xuân

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Hai 3, 2011

Những ngày đầu Năm mới, người dân Việt Nam vẫn giữ được tập tục tiến hành một số nghi lễ truyền thống vào đầu Xuân.

Lễ động thổ

Lễ động thổ hàng năm được tiến hành sau ngày mùng 3 tết. Động thổ phải có lễ cúng Thổ thần để trình xin bắt đầu động đến đất cho một Năm mới.

Xưa kia, tại Việt Nam lễ này cũng được tổ chức từ triều đình tới nhân dân, nhưng về sau lễ này chỉ còn tồn tại trong dân chúng.

Thực ra, ngày làm lễ động thổ không nhất định là phải vào ngày nào, nhưng để giúp dân chúng tiện việc làm ăn, nhiều làng thường cử hành lễ này sau ba ngày tết. Các bậc kỳ lão và quan viên được cử làm chủ tế và bồi tế để cúng thần Đất. Lễ vật cúng gồm hương đăng, trầu rượu, y phục và kim ngân đồ mã.

Trong buổi lễ, ông chủ tế với áo thụng xanh cuốc mấy nhát xuống đất để lấy một cục đất đặt lên bàn thờ, tường trình với Thổ thần xin cho dân làng được động thổ.

Sau buổi lễ động thổ này, dân làng mới được động tới đất. Ai cuốc xới trước lễ động thổ bị dân làng bắt vạ. Trong ba ngày tết, nếu không may có ai mệnh chung, tang gia phải quàn lại trong nhà, đợi lễ động thổ xong mới được đào huyệt an táng.

Lễ khai hạ

Theo tục lệ Việt Nam, ngày mùng 7 tháng Giêng là ngày hạ cây nêu. Cây nêu trồng trong năm, khi sửa soạn đón tết cùng với cung tên bằng vôi trắng vẽ trước cửa nhà để “trừ ma quỷ,” nay được hạ xuống.

Lễ hạ nêu còn được gọi là lễ khai hạ. Nhân dịp này, ngoài lễ cúng trời đất, người ta còn sửa lễ cúng gia tiên, cúng Thổ công và thần tài. Thường sau ngày lễ này, mọi công việc thường xuyên mới được bắt đầu trở lại.

Ngày nay, nhiều nơi không còn lễ khai hạ nữa, tuy nhiên tại các gia đình Việt Nam nhất là những gia đình buôn bán, ngày mồng 7 tháng Giêng vẫn có cúng lễ, cầu buôn may bán đắt, phát đạt, thịnh vượng quanh năm.

Lễ Thần Nông

Thần Nông là vị “vua” đầu tiên đã dạy dân nghề làm ruộng, chế ra cày bừa và là người đầu tiên đã làm lễ tịch điền hoặc hạ điền. Lễ Thần Nông tức là lễ tế vua Thần Nông để cầu mong cho mùa màng và nghề nông phát đạt.

Trên các quyển lịch hàng năm, người ta thường vẽ một mục đồng dắt một con trâu. Mục đồng tức là vua Thần Nông, còn con trâu tượng trưng cho nghề nông. Hình mục đồng cũng như con trâu thay đổi hàng năm tùy theo sự ước đoán của Khâm thiên giám về mùa màng năm đó tốt hay xấu.

Năm nào được mùa, Thần Nông giày dép chỉnh tề, còn năm nào mùa kém, Thần Nông có vẻ như vội vàng hấp tấp nên chỉ đi giày một chân.

Con trâu đổi màu tùy theo hành của mỗi năm, vàng, đen, trắng, xanh, đỏ ứng với Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Hàng năm xưa có tục tế và rước Thần Nông tại triều đình.

Lễ tịch điền

Lễ tịch điền còn gọi là lễ hạ điền do chính vua Thần Nông đặt ra. Cũng như một số nghi lễ khác, lễ tịch điền của người Trung Quốc đã du nhập sang Việt Nam. Hàng năm vào đầu xuân, nhà vua lại tự thân cày mấy luống đất để làm gương cho dân chúng và cử hành lễ tịch điền. Tiếp sau vua, các hoàng thân, các quan văn võ, các chức sắc, bộ lão sở tại cũng ra cày.

Tại các tỉnh, các xã cũng có lễ tịch điền. Ở tỉnh, quan tỉnh bắt đầu lễ tịch điền bằng việc cày và ở xã là vị chức sắc cao nhất trong xã. Tùy từng triều đại, việc cử hành lễ tịch điền có lúc long trọng, lúc đơn giản và ở mỗi địa phương cũng có những tục lệ riêng.

Lễ khai ấn

Tục truyền, lễ khai ấn thường được tiến hành sau ngày rằm tháng Giêng. Các ấn đã được lau chùi trong năm. Ngày xuân, Bộ Lễ chọn ngày lành, giờ tốt để làm lễ khai ấn, nghĩa là dùng ấn đóng lên một công văn chỉ dụ. Thường bản văn đầu tiên được đóng ấn là bản văn tốt lành.

Tại các tỉnh, huyện, xã, mỗi viên chức có ấn đều chọn ngày khai ấn. Ngày xưa, người ta còn có sửa lễ cúng vị thần giữ ấn tín trong dịp lễ khai ấn.

Lễ khai bút

Tuy không có quy định bắt buộc về lễ khai bút đầu xuân, song ý tưởng tôn trọng việc học đã nâng thành một hành động mang ý niệm tâm linh và trở thành truyền thống văn hóa không thể thiếu đối với dân tộc Việt Nam mỗi dịp Năm mới.

Ngày xưa, dịp đầu Năm mới, sau lễ cúng đón giao thừa, các viên quan, các nhà giáo, nhà sư, các môn đồ chuẩn bị án thư, nghiên mực, bút lông và giấy hoặc lụa để làm lễ khai bút đầu năm.

Mực thường dùng là mực Tàu thơm được mài kỹ và sau đó người khai bút sẽ thảo lên giấy trắng hoặc lụa trắng. Bên án thư, có người đặt một đỉnh trầm ngát hương bay tỏa lẫn với hương xuân giao mùa ngoài cửa.

Nội dung bài khai bút thường là một câu đối, một bài thơ đường luật ứng tác hoặc một câu danh ngôn, một lời chúc mọi người, có khi là một lời tự chúc với bản thân như một tâm nguyện trước Năm mới.

Bài khai bút sau đó được đặt ở một nơi trang trọng, có khi là đầu một cuốn sổ nhật ký, một án thư, có khi được treo trang trọng trong thư phòng hoặc phòng khách trong suốt Năm mới ấy.

Lễ khai bút là một phong tục trang nghiêm và thiêng liêng với mong muốn hướng tới một thế giới tinh thần rộng lớn, bày tỏ nguyện vọng kẻ sĩ lập ngôn cao đẹp của người trí thức trước cuộc đời.

_____________________________________________________

Posted in Thuần phong mĩ tục, Văn hóa các dân tộc | Tagged: , , | Leave a Comment »

Cuối tuần đi chợ ngựa Bắc Hà

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Mười Hai 19, 2010

Tuệ Thư

– Tương truyền, đã đến Bắc Hà thì phải thử ba món “rượu ngô, mận tam hoa, thắng cố” bởi không phải nơi nào cũng có đủ ba món ngon ấy. Thế nhưng, còn một thứ nữa không thể không kể đến, đó là chợ ngựa và cuộc đua ngựa – “đặc sản” chính hiệu của chợ Bắc Hà.

Thủng thẳng dắt ngựa xuống chợ ven sông

Ta có nên dùng từ họp chợ sớm tinh mơ cho việc thông báo rằng họp chợ đã bắt đầu, giống như ở một cái chợ chốn thị thành không nhỉ? Chỉ biết rằng người miền núi coi chợ phiên như một phần của cuộc sống, đấy không những là nơi mua bán trao đổi các món hàng cần thiết, mà chợ còn là nơi để được mặc đẹp, là lý do để rời làng rời bản xuống chợ, để được nhìn thấy nhau, được ngồi bên nhau, bên chén rượu ngô thơm nồng.
Từ tối hôm trước, người ta đã thủng thẳng dắt ngựa xuống tới chợ, chẳng có gì khiến họ phải tất bật cả.
Cứ thủng thẳng đủng đỉnh buộc ngựa vào một góc, rồi kiếm một chỗ nghỉ ngơi trong chợ nằm chờ ánh rạng đông xua tan cái lạnh của vùng cao.
Sau khi mải mê với những chiếc váy sặc sỡ của các cô gái Mông hoa, thả mình với chén rượu nồng, bạn hãy cùng tôi bước chân tới chợ ngựa nằm ven hồ phía sau chợ chính.
Nếu bạn biết rằng, xưa kia, nếu đứng từ trên cao nhìn xuống, chợ ngựa đông đúc như đang lạc vào trong một khu rừng nào đó với hàng đàn ngựa. Giờ đây chợ Ngựa đã dần mất đi những… “bạt ngàn” ngựa và… người. Không khí của chợ cũng chỉ sôi động bằng mấy phần so với xưa kia, dẫu rằng mỗi phiên chợ ngày nay vẫn có tới hàng trăm con ngựa từ khắp nẻo rừng núi làng bản đổ về.
Đa phần là thanh niên bản, thi thoảng có cả những đôi vợ chồng cùng dắt ngựa đi chợ. Có chút bóng dáng những các cô gái, chợ ngựa cũng đẹp hơn hẳn nhờ sắc màu của khăn đội đầu và váy sặc sỡ của người Mông Hoa.
Nhìn ngựa mà đoán chủ. Mua bán, cũng là duyên, là lộc. Kẻ thì đắt may vừa bán, tấp nập kẻ hỏi người mua, kẻ thì bó gối ngồi không, chẳng ai hỏi đến, cứ là buồn thiu. Nhưng cũng chẳng vấn đề gì, tí nữa ra làm tợp rượu là lại thấy ấm ấp thôi mà.
Một phiên chợ nhất là chợ ngựa với những tay buôn sành sỏi có thể mua được những chú ngựa có sức khỏe tốt nhất với giá được mặc cả sát sàn sạt, có bài bản và gay cấn ra trò. Người mua được quyền xem xét, thử ngựa xem có khỏe không bằng cách xem mắt, xem răng, vỗ mông ngựa và phi thử ngựa. Thật chẳng khác gì một người đi mua xe đạp cũ hồi xưa. Họ cũng săm soi từng chiếc lốp, chiếc vành, từng ghi đông, xích – líp đến tay phanh hay nan hoa.
Theo dõi cùng với những người đang đứng bán ngựa ở chợ Bắc Hà mới thấy ở đây sự mua bán vẫn còn theo lối buôn của người xưa, người mua nếu thấy người bán là người dân tộc, trước sự thật thà của họ cũng chẳng mấy khi dùng thủ thuật hay… “kỹ năng” mua bán, còn người bán thì vẫn bản chất thật từ bao đời, nếu có đôi chút lanh lợi thì người mua từ đồng bằng cũng… thừa biết mà “vặn” lại. Thế nên cuộc đối thoại mua bán trao đổi rất thẳng và thật.

Cuộc đua hồn nhiên

Bắc Hà còn nổi tiếng bởi các cuộc đua ngựa đã có từ những năm 80 của thế kỷ 20 nhưng sau một thời gian, gần đây các cuộc đua ngựa mới bắt đầu được tổ chức lại.
Xưa kia, vào mùa xuân, các chàng trai từ các bản Phố, Bản Già, Bản Cái, Cốc Ly… thường cưỡi ngựa đi đón người yêu từ các bản khác. Trên đường các anh trai bản gặp nhau và thường nảy sinh ra các cuộc đua ngựa ngẫu hứng. Cũng có thể do đặc trưng của người miền núi thường dùng ngựa thồ hàng, thế nên từ đó mà các cuộc đua ngựa được hình thành.
Gần đây đua ngựa Bắc Hà đang ngày càng trở nên hấp dẫn, riêng tôi, vẫn cảm thấy may mắn khi mình được chứng kiến những cảnh đua ngoan mục.
Ngựa, cũng không phải là ngựa chuyên để đua giống như nước ngoài, đa số đều lấy ngựa nhà, tức là ngựa chuyên để dùng trong công việc như thồ hàng, đi lại. Những chú ngựa này đâu có được đào tạo chăm sóc kiểu… “chuyên nghiệp” để thi đấu đâu, chúng chỉ là công cụ của người vùng cao.
Đến lượt các kỵ sĩ, cũng chẳng ai được huấn luyện dạy dỗ trên đường đua phải thế nào, bởi họ chỉ là những người ngày ngày quen thong dong trên lưng ngựa. Thế mà đến cuộc đua, họ đội trên đầu những chiếc mũ bảo hiểm xe máy, chân đi dép nhựa quai hậu nhảy lên lưng ngựa, sẵn sàng tham gia cuộc đua.
Những con ngựa ngày thường dễ bảo dễ nghe thế, sao hôm nay chạy được vài vòng lại dở chứng, đường đua không đi, lại cứ thấy người quen đang ngồi trên khán đài là quay ngoắt đầu lại, có khi còn hất cả chủ xuống.
Tiếng reo hò vỗ tay của bà con làm cho kỵ sĩ lấy lại được tinh thần, cố ghìm cương ngựa mà nhảy lên, tiếp tục hòa vào cuộc đua…
Gió và bụi sau tiếng vó ngựa. Người kỵ sĩ khéo léo sao cho ngựa phải quen đường đua và nghe lời mình. Nếu có ngã thì cũng biết cách ngã làm sao không bị ngựa dẫm lên. Đó chính là những bí quyết riêng của các kỵ sĩ dân tộc. Những người nông dân thật thà chân chất đã biểu diễn những pha đẹp mắt trên lưng ngựa.
Một cuộc đua quá thô sơ và hồn nhiên, đáng yêu như chính bản chất hiền hòa của người dân tộc. Năm nay các kỵ sĩ đã không còn đi dép nhựa quai hậu như trước nữa mà đã có giày tử tế, áo đồng phục do có hãng tài trợ.
Giải đua ngựa Bắc Hà đang ngày càng được chú ý đầu tư chắc chắn sẽ hấp dẫn du khách hơn; nhưng dư vị về những cuộc đua xưa hẳn sẽ khó có thể quên được bởi sự chân thật, hồn nhiên, bản năng của miền núi Bắc Hà.

__________________________________________________

Posted in Chuyện du lịch VN, Văn hóa các dân tộc | Tagged: , , | Leave a Comment »

Truyền nhân của 18 cuốn truyện cổ Tày

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Mười Hai 15, 2010

Trần Hòa – Ba Zin

– Đó là ông Ma Thanh Sợi, 66 tuổi người dân tộc Tày bản Rịa (xã Nghĩa Đô, Bảo Yên, Lào Cai). Ông là truyền nhân đời thứ 3 và là nghệ nhân văn hóa của tộc Tày bản Rịa. 18 cuốn truyện cổ ấy là tài sản tinh thần vô giá mà ông Sợi bấy nhiêu năm đã phải đánh đổi để giữ gìn.

Người được “bọc” trong núi

Từ thị trấn Phố Ràng chúng tôi vượt qua 26 cây số đường rừng bằng chiếc Minsk cổ. Từ đỉnh núi Khau Rịa nhìn xuống, bản Rịa như một kỳ quan đá xám ngoét phớt màu ban mai. Người bản Rịa có câu: “Khửn ngài lống dạc” – tức là “lên dễ xuống khó” – từ đỉnh Khau Rịa, chúng tôi phải “ấn phanh” liên hồi mà con “ngựa chiến” vẫn vù vù lao xuống dốc như đá rơi giữa vực.

Trong bản có ngôi nhà sàn cổ kính gần 100 tuổi làm bằng lim rừng Lùng Vái. Ông Sợi tự hào về ngôi nhà ấy lắm. Có dạo, đại gia trên phố đi chiếc xế hộp cáu cạnh đến năn nỉ mua lại ngôi nhà nhưng ông Sợi không bán. “Ngôi nhà này là “khoăn” (linh hồn) của cả bản làng, mất “khoăn” là mất tất cả” – ông Sợi nói trong những làn khói quyện thơm lừng từ ấm trà dây rừng vừa chín tới.
Tốt nghiệp khoa Sư phạm tại Yên Bái, ông Sợi được điều lên mở lớp ở Nậm Xây – nơi mà người dân gọi thầy giáo là “thầy gió” – một xã đặc biệt khó khăn và gần như 100% mù chữ. Vừa quản lý vừa huấn luyện các lớp đào tạo giáo viên thôn bản được một thời gian, ông gặp ngay phải một họa lớn – “họa thăng chức” – ông được cấp trên giao quyền trưởng phòng giáo dục huyện Văn Bàn. Sở dĩ, gọi là “họa thăng chức” vì với ông Sợi, được gần gụi nhân dân, được ngày ngày “môn khỏa lồng nà” (xắn quần xuống ruộng) với bà con thôn bản là điều hạnh phúc. Một thời gian sau, ông xung phong đi B chiến đấu.

Năm 1981, phục viên trở về quê hương, ông Sợi làm “đầu tàu” với vai trò bí thư, rồi chủ tịch xã cho đến khi chính thức trở thành “truyền nhân tinh thần” của người bản Rịa…

Truyền nhân đời thứ ba

Khi còn sống, “pò” (bố) của ông Sợi vốn là một “kho sử sống” của người Tày bản Rịa. Bao nhiêu năm chờ con đi kháng chiến, khi thấy con trở về ông cụ đã truyền lại những cuốn truyện cổ ấy lại cho con trai như một món quà mà “Pà” (trời) đã gửi trọn.

Thân sinh ông Sợi vốn là truyền nhân đời thứ 2 của bản Rịa. Ông Sợi là đời thứ 3 đã lặn lội khắp các bản làng của người Tày và các dân tộc anh em để tìm lại những câu chuyện cổ tích của bản Rịa.
Không biết dùng chữ nghĩa nào để có thể tả hết những gian truân trong mấy mươi năm qua mà ông Sợi đã trải qua. Lên rừng, vượt núi, chui hang nào đã thấm hết khó nhọc. Có những câu chuyện có được, ông Sợi đã phải “kin lẩu” (uống) cả vại rượu để cảm ơn các già làng, già bản…
Đến nay, ông đã sưu tầm được thêm nhiều truyện cổ, 322 câu tục ngữ, các phong tục tập quán làm nhà, cưới, sinh đẻ, ma chay, các món ăn dân tộc, tập quán chữa bệnh của riêng dân tộc Tày… Đó thực sự là những kho báu vô giá và cũng là ước nguyện “hoàn chỉnh linh hồn” mà người Tày bản Rịa mong muốn.

Trong quá trình sưu tầm, không ít lần ông định bỏ cuộc vì nhiều trở ngại. Ông tự vấn mình rằng, sưu tầm để làm gì? Trong khi những người am hiểu hầu hết đã mang kho tàng cổ ấy xuống tầng sâu của đất. Người còn sống thì hầu hết đã già cả nên trí nhớ kém… Sưu tầm ở những người này nhiều khi không đúng nguyên bản.

Cái khó “ló” cái khôn, không chịu bỏ cuộc nên để có được thông tin hoàn chỉnh ông Sợi phải đi nhiều, hỏi nhiều, chọn lọc ở nhiều người am hiểu ở khắp các làng bản kết hợp với những câu chuyện còn lại trong sách cổ để biên soạn.
Ông Sợi chia sẻ: “Cũng may là trí nhớ tôi còn tốt vì hồi những năm 60, tôi được “nằng cắp các bú” (hầu chuyện các cụ) nên những câu chuyện sau này được nghe tôi đều cố nhớ lại để phân tích…

Trong đó có những câu chuyện độc đáo như: Sự tích cây thanh thảo; Núi Ba Cụ; Hai người bạn già gặp nhau; Bụt sửa người; Làng Chón… Bụt sửa người là một trong những câu chuyện vừa hóm hỉnh lại mang tính nhân văn cao. Câu chuyện kể rằng, xưa kia có một chàng trai tên Pịa mồ côi xấu xí sống với bà ngoại. Vì xấu lại nghèo nên không lấy được “mía” (vợ). Pịa liền bỏ vào rừng sâu và gặp được Bụt. Nghe hết sự tình, Bụt đã “hóa phép” cho Pịa thành một chàng trai tuấn tú.

Trước khi về bản, Bụt dặn Pịa: Ai cầm “vấy” (dương vật) thì con sẽ lấy làm vợ. Không ngờ khi về đến bản, thấy Pịa đẹp trai, tất cả gái bản đã chạy ra tranh nhau để cầm “vấy”. Pịa sợ quá, bỏ trốn khỏi bản rồi gặp một cô gái đẹp. Cô gái ấy như bị bùa mê nên đã cầm “vấy” Pịa. Họ thành vợ thành chồng và sống rất hạnh phúc. Sau này, trai bản Rịa ước được như Pịa nên thi nhau vào rừng sâu tìm Bụt…

Ước mơ giản dị của truyền nhân

Những câu chuyện độc đáo của người Tày bản Rịa rất nhiều mà sức người thì có hạn. Bước sang tuổi 66, sức trai bản điền không còn nữa mà núi rừng hùng vĩ lại ẩn chứa biết bao những bí hiểm. Những câu chuyện cổ của dân tộc Tày như những khối vàng già đang ẩn nấp đâu đây rất cần những truyền nhân chí nghĩa cần cù tiếp tục khai phá.

Để tạm thời phá bỏ những lo lắng ấy, ông Sợi đã trao tất cả đề tài sưu tầm được cho Sở Văn hóa tỉnh Lào Cai quản lý và tiếp tục công trình tìm kiếm. 2.760 trang chép tay chưa một lần công bố sẽ được in ấn cẩn thận trong thời gian không xa để những người yêu văn hóa dân tộc có thể tìm hiểu và thưởng thức những câu chuyện “độc nhất vô nhị” trên thế giới…

Với những kết quả nghiên cứu này, năm 2009, ông Sợi đã được công nhận là nghệ nhân văn hóa dân gian. Bao nhiêu năm cống hiến vì những đặc sắc của văn hóa dân tộc, đến nay khi tuổi đã như Mặt Trời xế núi, ước mơ lớn nhất của ông là có được nguồn tài trợ nho nhỏ để tiếp tục công việc sưu tầm và xuất bản xong 18 cuốn truyện cổ.

[Ngoài những câu chuyện độc đáo ấy, trong quá trình sưu tầm ông Sợi đã vô tình phát hiện ra nhiều thú vị trong ngôn ngữ nói của người Tày Nghĩa Đô. Ông nhận ra rằng, người Tày Nghĩa Đô đã không ngừng sáng tạo chữ viết và tiếng nói trên cơ sở tiếng Tày bản địa.
Ngôn ngữ nói của người dân tộc đều bắt nguồn từ phần từ vựng (từ ngữ), âm vựng (ngữ âm) mà tạo thành. Tiếng nói của người Tày về từ vựng hầu hết giống nhau. Còn ngữ âm (âm vựng) khi phát ra lại khác nhau, gắn liền với địa danh. Nét độc đáo tiếng nói của người Tày Nghĩa Đô còn được biểu hiện rất hóm hỉnh, ngoài 24 chữ cái của tiếng Việt, còn có 4 âm tiết nữa, khi phát ra hoàn toàn khác, không nằm trong ngữ Việt, đó là các từ đầu tiếng gắn sát với chữ p, ph, b, m.]

_____________________________________________________________

Posted in Văn hóa các dân tộc | Tagged: , , | Leave a Comment »

Bí ẩn ở núi “trời kêu”

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Năm 24, 2010

Đức Lợi

– Người dân xã Trung Xuân (Quan Sơn, Thanh Hóa) đã phát hiện trên những ngọn núi ở đây có nhiều hòm đục bằng thân cây gỗ. Những chiếc quan tài này nằm cheo leo trên đỉnh núi dựng đứng khiến cho dân làng có nhiều câu hỏi lớn chưa có lời giải đáp. Phóng viên đã vượt qua nhiều vách núi và tận mặt chứng kiến kiểu an táng độc đáo này…

Tìm nguồn nước, ra hài cốt

Anh Hà Văn Hùng, Phó chủ tịch UBND xã Trung Xuân kể cho chúng tôi nghe về câu chuyện lạ kỳ trên núi Phá Họ (người dân thường gọi là núi “trời kêu”).
Năm 1997, thời tiết khô hạn, dòng sông Lò chảy qua 5 bản trong xã cạn khô, người dân trong bản phải đi tìm nguồn nước khắp nơi. Ở trước làng có ngọn núi Phá Họ. Núi có nhiều đỉnh thác cheo leo, đến cả những tay thợ săn lão luyện trong bản cũng không dám trèo lên. Trong khi đó, nguồn nước người dân tìm được ngày càng nhỏ giọt. Anh Hùng đánh liều mang theo dây thừng, leo lên đỉnh núi tìm nguồn nước.

Vượt qua các vách đá cheo leo, nham nhở trong suốt 3 giờ đồng hồ, cuối cùng anh Hùng đã lên đến gần đỉnh núi. “Trước mắt tôi hiện ra những chiếc hòm làm từ thân cây gỗ lớn, nằm cheo leo trên vách đá của hang. Dưới cái hang đó là một nguồn nước trong mát. Đi sâu vào bên trong hang còn sót lại bộ hộp sọ to và xương ống chân rất dài. Tôi đã mang chiếc hộp sọ về bản cho mọi người cùng xem. Đây có thể là nơi sinh sống của một gia đình của bộ tộc nào đó.”
Được anh Hùng dẫn đường, chúng tôi đã “đột nhập” hang “trời kêu”. Tôi được tận mắt chứng kiến những chiếc hòm được làm bằng các loại thân gỗ quý như lim, lát, pơmu… Một cảm giác rờn rợn gợn lên trong tôi khi nhìn vào những bộ xương người đã bị phân hủy. Duy nhất chỉ còn một bộ xương còn nguyên hộp sọ và xương ống chân. Trong hang có các vật dụng sinh hoạt hằng ngày làm bằng đồ gốm như bát, chum, am…

Anh Hùng cho biết, cách đây hơn 10 năm, những bộ hòm bằng gỗ còn nguyên vẹn. Rồi người ta kháo nhau rằng, đây là nơi sinh sống của một bộ tộc giàu có. Sau khi bị diệt vong thì họ để lại nhiều đồ trang sức. Người dân đổ về lùng sục, đập nát các thân gỗ để tìm châu báu. Nay, chỉ còn khoảng 10 bộ hòm bằng thân gỗ tương đối nguyên vẹn. Còn lại là một đống hoang tàn, vỡ nát…

Kho quan tài của người xưa?

Từ trung tâm xã Trung Xuân, vượt qua con đường núi hiểm trở và dòng sông Lò chảy xiết, hơn 2 giờ đồng hồ sau chúng tôi mới có mặt tại bản Muống. Ngọn núi Pha Dờn được người dân nơi đây ví như “nóc nhà Đông Dương”. Nó không chỉ cao nhất nhì Huyện Quan Sơn mà nếu nhìn từ dưới lên đỉnh núi cheo leo trên một vách đá, với các tảng đá dựng đứng. Điều kỳ lạ là trên đỉnh núi đó lại có một chiếc hang chứa rất nhiều hòm đục bằng thân cây.

Hơn 20 năm về trước, trong một lần đi săn, anh Hà Văn Thủy đã bắn một con khỉ bị thương. Lần theo vết máu, anh tiến dần về hướng khỉ chạy thì giật mình kinh hãi khi thấy trong hang có rất nhiều hòm làm bằng thân cây.
Thần hồn nát thần tính, anh phi một mạch về bản kể cho người dân nhưng không ai tin. Cũng đúng, bởi đây là địa điểm mà chưa một người dân địa phương nào đặt chân đến. Khi trấn tĩnh lại, một mình anh lại cất công trở lại hang, treo một chiếc bao tải lên thân cây, cắm ra cửa hang để đánh dấu.

“Ngọn núi này toàn là đá tai mèo, vách đá thẳng đứng nhưng biết đường lên cũng không khó lắm. Nguy hiểm nhất ở đoạn giữa có nhiều đá, sảy tay cái coi như mất mạng. Nhiều người lên đến gần nửa đã phải đầu hàng vì không biết đường đi lòng vòng, không còn sức để leo tiếp nên phải lùi bước”, anh Thủy cảnh báo.

Vượt qua nhiều hang đá, vách núi cheo leo, cuối cùng chúng tôi đã lên được hang hòm. Đây là một chiếc hang rộng chừng 20m2, trên có một cây gỗ vắt ngang, mà theo ông trưởng bản Hà Văn Muông thì cây gỗ này được dùng để bảo vệ hang và để treo đồ đạc.

Theo quan sát của chúng tôi, trong hang hiện có gần 30 bộ hòm, tức gần 60 miếng gỗ úp lại với nhau. Các hòm này lại có các kích cỡ khác nhau như loại lớn nhất có bán kính 50cm, nhỏ hơn thì 40cm. Ở phần đầu thân gỗ được đục rộng hơn so với phần thân và cả 2 đầu đều có hai chốt để định vị vị trí khi chôn cất.

“Hòm này làm chủ yếu bằng gỗ gụ, dổi, nghiến… cũng phải đến 300 – 400 năm nhưng gỗ vẫn còn rắn chắc, còn nguyên bản”, anh Thủy quả quyết. Điều lạ là đây lại toàn là những chiếc hòm đã được mở nắp, nhìn vào bên trong không có bất cứ cái gì. Một số người phỏng đoán, có thể nơi đây được người xưa làm nơi chứa hòm để khi người mất mang xuống dưới chôn cất…

Chỉ nghe kể lại

Đem theo những điều bí ẩn về những chiếc hòm trên đỉnh núi, chúng tôi gặp cụ Hà Văn Khái ở bản Muỗng. Chốn cao sơn dường như đã tiếp thêm sức mạnh cho cụ già hơn trăm tuổi nhưng vẫn còn minh mẫn này.

Cụ Khái cho biết, cụ cũng chỉ được nghe ông bà kể lại rằng ngày xưa ở khu vực này có rất nhiều dân tộc khác nhau. Nhiều dân tộc bị tàn sát và phải ẩn nấp vào các hang núi, nên cũng không biết được những người lên trên hang đó là người gốc ở đâu. Các hang có chứa hòm bằng thân gỗ và xương người, trước đây cụ cũng chưa nghe thấy bao giờ.

Phong tục của người Thái lấy gỗ về đục thân làm hòm, chôn cất người mất là có từ lâu đời. Trong mỗi gia đình, nhất là nhà có người từ độ tuổi 50 trở lên phải có ít nhất 1 – 2 bộ hòm đục bằng thân cây gỗ tốt.
“Trước khi bỏ hòm vào huyệt đạo, phải lấy than từ gỗ để lót một lớp xuống dưới hòm và một lớp than trên hòm rồi mới lấp đất vào. Ngày xưa hỏa táng xong thì lấy tro để chôn, giờ không hỏa táng thì lấy than củi lót xuống dưới với mong muốn người mất đi sẽ được ấm áp, yên lành”, cụ Hà Văn Khái cho biết.

[“Ngày xưa tôi có nghe cụ đẻ ra bố tôi kể lại về một bộ tộc chân vòng kiềng, bàn chân to, thân người cao lớn, tiếng Thái họ là “người giới”. Người giới đi khai hoang nương rẫy, họ đã có thể làm ra gốm với nhiều loại hoa văn đẹp, được tìm thấy tại các ruộng trong bản. Họ có nhiều đổi mới trong trồng lúa trên các nương rẫy nên đời sống họ rất ổn định. Không hiểu sao họ đã bị một đội quân Hán từ bên Quan Hóa sang giết hại nên bị diệt vong”.
Ông Hà Văn Bình (Chủ tịch UBND xã Trung Xuân)]

________________________________________________________

Posted in Tin tức nổi bật, Văn hóa các dân tộc | Tagged: , , , | Leave a Comment »

“Vương quốc” của người Việt cổ

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Năm 23, 2010

Nguyễn Cảnh Dũng

– Tỉnh Hoà Bình có nhiều địa điểm mà xưa kia người nguyên thuỷ đã chọn làm nơi sinh sống. Thế nhưng, hiếm có nơi nào sự sống lại tập trung nhiều như ở xã Cao Răm, huyện Lương Sơn. Tại đây, nhiều hang động trên dãy núi đá Sáng cao chất ngất nối dài hàng trăm mét là nơi tổ tiên ta đã sinh sống.

Thung lũng cổ

Vẫn còn đó cái nghèo cái đói trên mảnh đất này nhưng ai đó đã bảo Cao Răm như một bức tranh hoàn mỹ của đất trời thật chẳng sai. Ở giữa thung lũng bằng phẳng, rộng lớn người dân đang ở là những dãy núi cao hùng vĩ bao bọc. Xuyên qua thung lũng là con sông Bùi bốn mùa tắm mát cho cánh đồng luôn xanh ngát. Những người Mường sống trên mảnh đất này tự hào lắm, họ bảo đây là mảnh đất tổ tiên người Việt đã từng sống và bây giờ con cháu họ tiếp tục sinh sôi phát triển ở đây.

Cụ Bùi Ngọc Nghê, một người cao niên của xã Cao Răm bảo, cụ cũng không nhớ rõ người Mường đã sinh sống ở thung lũng Cao Răm này từ lúc nào nhưng phải có từ lâu lắm. Hết thế hệ này đến thế hệ khác nối tiếp nhau định cư bên chân dãy núi Sáng.

Sống giữa nơi núi rừng âm u, bà con hay kể câu chuyện về một hang đá được gọi là hang Chổ, nơi linh thiêng nhất của bản. Ngày đó, chẳng ai dám bén mảng lại gần cửa hang vì các cụ bảo nơi đó là nhà của tổ tiên trước đây. Những ngày lễ, Tết, bà con phải tổ chức cúng lễ. Nếu ai xâm phạm vào đó sẽ bị thần linh phạt nặng.

Những câu chuyện nhuốm màu truyền thuyết được các đời sau “thêu dệt” ngày một huyền bí hơn, ăn sâu vào tiềm thức của những cư dân Mường nơi đây. Đời nọ truyền cho đời kia nên họ rất thận trọng mỗi khi vào các hang đá.

Dấu ấn thời gian

Những hang đá dưới chân núi Sáng là niềm tự hào đối với người dân xã Cao Răm. Ông Bùi Tiến Ất, Chủ tịch UBND xã mỗi khi nhắc tới địa danh đó cũng tỏ ra rất thành kính. Riêng hang Chổ được ông Ất giải thích: Nguồn gốc của từ Chổ theo tiếng Mường nghĩa là hang ốc vì trong hang có nhiều ốc. Năm 1930, bà Ma đơ Len Cô Ni, một nhà khoa học người Pháp đã tìm về đây nghiên cứu. Những phát hiện của bà đã được báo cáo tại Hội nghị tiền sử Đông Nam Á. Báo cáo đó đã làm các nhà khảo cổ hết sức ngạc nhiên và thích thú.

Khi chúng tôi có ý định đến thăm hang Chổ, ông Ất đã tận tình cử cán bộ địa phương am hiểu địa bàn dẫn đường. Nhìn từ xa, dãy núi Sáng cao sừng sững giữa trời. Cửa hang Chổ rộng thênh thang ở ngay ngọn núi cao nhất. Phía trước là thung lũng rộng, đất đai phì nhiêu, cây cối tươi tốt. Đứng từ cửa hang phóng tầm mắt ra là cả xã Cao Răm rộng lớn.

Anh Bùi Hải Quân, cán bộ văn hoá xã Cao Răm cho biết, trước kia hang này có hàng nghìn, hàng vạn con dơi sinh sống. Bà con thường vào đây lấy phân dơi về làm thuốc súng. Nhiều hơn cả vẫn là những lớp vỏ ốc. Lần đầu đến đây ai cũng bất ngờ về những lớp ốc hoá thạch dày đến 2 – 3m. “Điều này chứng tỏ tổ tiên của ta phải sống ở trong hang này rất nhiều năm. Họ sống gần sông, gần suối nên có thể dễ dàng tiến hành việc săn lượm kiếm tìm thức ăn. Ở trên một ngọn núi cao thế này cũng rất an toàn”, anh Quân khẳng định.

Sau lần nữ khảo cổ học người Pháp về đây khai quật, do điều kiện sống khó khăn, chiến tranh kéo dài nên mãi sau này các nhà khảo cổ học trong nước mới tiếp tục nghiên cứu. Sau mỗi lần khai quật đều phát hiện được rất nhiều hiện vật có giá trị.
Qua kết quả điều tra, thám sát và nghiên cứu các nhà khảo cổ học đều cho rằng, hang Chổ là mái nhà cổ của người nguyên thuỷ. Căn cứ vào số lượng cũng như các hiện vật tìm được, các nhà khảo cổ khẳng định: Hang Chổ có những yếu tố biểu hiện của một giai đoạn cao của Văn hoá Hoà Bình, có niên đại trên dưới 10.000 năm trong giai đoạn chuyển tiếp sang trung kỳ đá mới ở nước ta.

Ngoài hang Chổ, ở Cao Răm còn có hang Mãn Nguyện, hang Khụ Thượng… đều là nơi được người nguyên thuỷ chọn làm nơi trú ngụ. Cao Răm trở thành cái nôi của tổ tiên người Việt cổ.
Xứ Mường (Hoà Bình) là cái nôi của người Việt cổ, nơi đây ẩn chứa nhiều di chỉ của người nguyên thuỷ. Nhiều nhà khoa học trên thế giới đã tìm về đây để nghiên cứu và có những phát hiện gây chấn động. Tất cả những phát hiện đều khẳng định, nền văn hoá thuộc thời đại đồ đá tập trung nhiều nhất vẫn là ở Việt Nam chúng ta.

______________________________________________________

Posted in Chuyện lịch sử, Di tích, Văn hóa các dân tộc | Tagged: , , , | Leave a Comment »