NGÔN NGỮ & VĂN HÓA

CHÚC MỪNG NĂM MỚI

Posts Tagged ‘Hà Nội nghìn năm’

Hà Nội: Tham BĐS bỏ hồ

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Năm 7, 2011

“hồ Dần Mất” và “hồ Đang Lấp”

Hồ Dần Mất và hồ Đang Lấp, hai cái tên kì lạ trong danh sách “Các hồ tại Hà Nội” trên Wikipedia lôi cuốn chúng tôi đi tìm hiểu về 2 chiếc hồ này.

Từ đó, theo lời kể của những người già, chúng tôi tìm thấy hành trình “xóa sổ” nhiều hồ, ao của Hà Nội xưa.

Ao Bầu biến thành gò

Theo định vị trên Bách khoa toàn thư Wikipedia, chúng tôi tìm đến khu vực Trại Cá cũ, nay là ngõ Trại Cá, đường Trương Định (Hà Nội). Những người già ở đây cho biết: “Khu này xưa kia toàn là ao hồ, cư dân thưa thớt, nay thì người ta đã lấp hết rồi. Chính cái chỗ bác cháu mình đang ngồi đây là lòng hồ đấy”.

Bác Nguyễn Văn Bình, nhà ở ngõ 129E đường Trương Định nhớ lại: “Quán trà đá này xưa kia chính là Ao Bầu. Ao Bầu thực ra gồm 2 cái ao ngăn với nhau bằng một cái bờ. Bây giờ thì bờ ao chính là lối đi, còn 2 cái ao thì trở thành 2 cái gò”.

Theo tay bác chỉ, gò thứ nhất là nơi chúng tôi đang ngồi, một khu đất chưa có nhà ở, mà theo bác Bình nói: “Nhà nước đã đo đạc cả rồi nhưng chưa sử dụng gì cả.” Giờ đây, khoảng trống này trở thành nơi cho những người vô gia cư lập lán ở tạm và người dân dựng lều lán la liệt để bán hàng cơm hàng nước. “Hà Nội đất vàng đất bạc, thế mà ở đây đất bỏ không còn mênh mông, trong khi người dân thì chưa có chỗ hội họp, chúng tôi thấy phí phạm quá trời!”. Bác Bình chép miệng.

Còn Ao Bầu thứ 2 nằm bên kia đường (xưa kia là bờ ao), thì nay là lù lù một gò những gạch đá, phủ bên trên bằng lớp lớp rác rưởi, chai lọ, túi nilon …

Những người dân Trại Cá kể lại, Ao Bầu ban đầu thuộc quản lý của Hợp tác xã Đông Ba, chuyên dùng để nuôi cá và thả rau muống. Nhưng về sau, do người dân xung quanh thiếu ý thức nên nước ao đã bị ô nhiễm, cá không sống được. Hợp tác xã thôi hoạt động khoảng 10 năm về trước.

Sau đó, do không có ai quản lý, nên những người xây nhà ngoài phố đã nườm nượp chở gạch đá tùy tiện đổ xuống ao. Ao Bầu biến mất. Chỉ còn lại “trận địa rác” và một khoảng đất trống như hiện nay.

Hồ Mẫu Tám 6500m2 còn 40 m2

Diện tích cả hai Ao Bầu lớn hơn hồ Mẫu Tám ở bên cạnh. Theo chỉ dẫn của những người già, tôi tìm sang hồ Mẫu Tám cũng thuộc Trại Cá cũ. Tất cả những gì còn lại của gần 6500m2 mặt nước xưa kia nay chỉ còn khoảng 40 m2, xanh ngăn ngắt nằm trong khuôn viên ngôi biệt thự của ông Bảo Sinh – chủ trang trại chó mèo cảnh nổi tiếng nhất Hà Nội.

Cách đây chừng 35 năm, trên hồ Mẫu Tám, ông Bảo Sinh đã dựng bức tượng Phật bằng gạch này, còn có cả tượng thầy trò Đường Tăng đi lấy kinh, những mong Phật che chở cho các linh hồn, và người dương gian thấy tượng Phật thì đừng làm điều ác.

Nay tượng Phật vẫn còn đó, hàng năm đều được sơn lại trông vừa uy nghiêm vừa hiền hậu, nhưng tượng Tôn Ngộ Không, Trư Bát Giới đã đổ vì rung chấn do ảnh hưởng của việc xây dựng những công trình lớn xung quanh, mặt nước mênh mông hồ Mẫu Tám cũng đã không còn nữa.

Như vậy, Hà Nội không hề có cái hồ nào tên là hồ Dần Mất và hồ Đang Lấp. Có phải đó chỉ là một trò chơi chữ trên Wikipedia? Ban đầu khi chúng tôi hỏi những cái tên ấy, ai cũng đi từ ngạc nhiên đến cười ồ lên.

Nhưng những người lớn tuổi ở Trại Cá đã kết thúc câu chuyện kể bằng một câu nói nửa đùa nửa tiếc: “Thế là từ điển họ nói đúng đấy cô ạ. Nhưng giờ phải sửa lại là hồ Đã Mất, và hồ Cũng Mất thì phải hơn!”.

Đáy hồ thành nơi chọi gà

Câu chuyện “bãi bể hóa nương dâu” đất kinh kỳ chưa dừng ở đó. Chúng tôi tìm đến hồ Đình (nay gọi là hồ Bán Nguyệt) trước đình Khương Thượng. Hồ đình Khương Thượng trước kia vốn rộng, nhưng nay cũng đã bị thu hẹp đi, chỉ còn khoảng 250m2, xung quanh từ lâu đã xây kè gạch.

Cô Kim Anh sống ở khu vực này cho biết, ngay cả hồ Hố Mẻ, xưa kia cũng là hồ tự nhiên khá rộng. Nhưng do người dân lấn chiếm nhiều nên nay chỉ còn khoảng 75% diện tích.

Nghe nói, Dự án cải tạo hồ Hố Mẻ đang được triển khai cũng sẽ xây lối đi và trồng cây quanh hồ, như vậy vừa có chỗ cho bà con đi dạo, vừa chấm dứt tình trạng đổ rác và phế thải xây dựng công khai lấn chiếm lòng hồ diễn ra nhiều năm nay.

Làng Khương Thượng xưa kia vốn chi chít ao chuôm, có những nhà có tới 2 hoặc 3 ao, nhưng ngày nay, chỉ còn lại ao Đình (được gọi là Hồ Đình) và hồ Hố Mẻ. Những ao, đầm trong các ngôi làng Hà Nội khác cũng đều chung số phận như chuyện đã nêu trên. Từ những năm 90 của thế kỷ trước tới nay là thời gian tốc độ giảm diện tích mặt ao, hồ tại Hà Nội mạnh mẽ nhất.
Sân bóng trường Thủy Lợi bây giờ; cả dãy phố suốt từ trước của chùa Bộc đến tận ngã tư Chùa Bộc – Thái Hà; cả dãy nhà từ trước cửa đình Kim Liên ra đến cách hầm Kim Liên khoảng 200 mét; … Theo ký ức của những người già thì xưa kia đều là những ao, hồ trải dài theo phố, nhưng nay đều đã thành chung cư, cao ốc, tập thể.

Khu Giảng Võ xưa kia cũng rất nhiều ao lớn nhỏ rải đến tận phố Hào Nam và đê La Thành nhưng bây giờ cũng chỉ còn lại duy nhất hồ Giảng Võ mà thôi.

Đã từng có một thế hệ vì Hà Nội xanh

“Đã từng có trong lòng tôi một hồ Gươm thu nhỏ ngay tại trước đình Khương Thượng”. Đó là lời ông cụ Nhị, 74 tuổi, người bảo vệ đình Khương Thượng, đã sống ở đây từ khi 8 tuổi, đôi mắt ánh lên những niềm vui khi nhớ lại tuổi thơ: “Ngày xưa chính giữa lòng hồ Đình cũng có một đảo nhỏ, cũng gọi tên là đảo Rùa. Trên đó người ta dựng lên một cái miếu nhỏ. Có đảo Rùa trong ao Đình trông cũng rất là hay. Mấy năm trước, khi cải tạo hồ người ta nạo bỏ đảo Rùa đi, nhưng trong lòng tôi không bao giờ quên hình ảnh đầu tiên của ao Đình”.

Cụ Nhị trở về với tuổi 20 của mình. Đó là những ngày sôi nổi hoạt động lao động xã hội chủ nghĩa, cụ đã tham gia cải tạo nhiều hồ to và đẹp của Hà Nội, nhờ thế mà được biết những bằng chứng địa chất của thủ đô.

Hồi đó, cụ cùng các thanh niên nạo vét lòng hồ Bảy Mẫu, dưới đáy hồ toàn những vỉa cây đã biến thành mùn. Nhìn qua thì đó như những lớp đất màu thâm đen, nhưng đem về phơi khô thì đốt rất cháy. “Ban đầu hết sức khó hiểu khi thấy “củi” là một đống đất ở ngoài sân” – Cụ Nhị liên hệ đến thứ mà người dân vùng rừng U Minh gọi là “củi” mà thời bộ đội cụ đã sống cùng dân ở đó.

Hóa ra đó là những tảng mùn lấy từ rừng U Minh mà cây, lá mục bao thời gian trầm tích, dân cứ xúc về để chất đống đốt dần. Cụ gọi đó là thứ “than non” – thứ “than” luôn làm cho người dân và các nhà khoa học lo lắng mỗi khi mùa khô kéo dài ở rừng U Minh khiến lửa âm thầm cháy từ trong lòng đất. Dưới lòng hồ Hà Nội cũng có những vỉa mùn dày và dấu tích của rừng, cho thấy đó rất có thể đó là vùng trũng do sự sụt lún của rừng ngày xưa.

Xây nhà cao đổi chỗ cho hồ

Vậy là hành trình kiến tạo của tự nhiên đã biến “nương dâu” thành “bể”. Người Hà Nội thế hệ cụ Nhị (thế hệ thanh niên những năm 60 của thế kỷ trước) đã cố làm cho những cái “bể” Hà Nội đẹp hơn bằng tình yêu, bằng sức trẻ của mình.

Còn bàn tay kiến tạo của con người Hà Nội hôm nay lại biến “bể” thành những phố cao tầng. Câu chuyện của nửa thế kỉ trước về những đầm hồ rải bên các phố, thả đầy những bè rau muống sạch, luộc lên xanh ngắt ngọt ngào, đem dầm với thứ quả sấu Hà Nội, mang vị chua dịu vào những bữa cơm ngày hè quen thuộc của xứ Tràng An đã thành quá cũ.

“Xây cho nhà cao cao mãi, mà hồ thì dấu tích đã không còn” – một cao niên chép miệng với chúng tôi. Và Hà Nội ngày nay, hẳn đã không còn là “thủ đô có nhiều hồ, ao nhất trên thế giới” như niềm tự hào của chúng ta ngày xưa nữa.

Người Hà Nội bây giờ không biết đến hình ảnh của những chiếc hồ đầy bèo Tây xanh um như ngọc, cao đến 60 – 70 cm mà cứ hè về trổ đầy hoa màu tím sáng, với một cánh làm nhân như chiếc đuôi công, rực rỡ đến nao lòng ….

Đó chỉ còn là những kí ức yên ả sáng ngời trong tâm trí những bậc cao niên.

theo Giang Linh
__________________________________________

Advertisements

Posted in Chuyện môi trường, Chuyện đất nước, Hà Nội nghìn năm | Tagged: , , | Leave a Comment »

“Bộ trưởng vẫn chưa trả lời tôi”

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Mười Một 18, 2010

– “Có một câu hỏi Bộ trưởng vẫn chưa trả lời tôi là có hay không việc mua từ châu Phi 2.000 viên rubi để lắp mắt cho 1.000 con rồng dùng làm tặng phẩm”. Đại biểu QH Nguyễn Lân Dũng (Đắk Lắk) nói về trả lời chất vấn bằng văn bản của Bộ trưởng Bộ Tài chính Vũ Văn Ninh liên quan đến chi tiêu cho Đại lễ 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội.

Bee.net.vn ghi nhanh ý kiến một số đại biểu QH về những vấn đề “nóng” đã gửi câu hỏi chất vấn bằng văn bản và dự kiến “đối thoại trực tiếp” tại phiên chất vấn của QH tới đây (từ ngày 22 – 24/11).

Đại biểu Nguyễn Lân Dũng: “Chi bao nhiêu cho Đại lễ thống kê không khó”

“Về chi phí cho Đại lễ, từ khi kỳ họp Quốc hội thứ tám khai mạc đến nay, cả Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội và Bộ trưởng Bộ Văn hóa – Thể thao, Du lịch cũng đều không đưa ra con số cụ thể nào khi trả lời đại biểu và báo chí.
Tôi cho rằng chi tiêu bao nhiêu thì có thể thống kê được ngay, không có gì khó. Hơn nữa, những con số đưa ra nếu sai, thì Bộ Tài chính, đại diện cơ quan Nhà nước phải có trách nhiệm cải chính để rộng đường dư luận vì hàng chục tỷ đồng không phải là chuyện nhỏ.

Chủ tịch TP Hà Nội từng nói “Tất cả các công trình 10 năm qua xây dựng đều để hướng tới Đại lễ”. Vì thế, nếu đúng như vậy thì không vấn đề gì. Nhưng nếu chi số tiền đó mà không để lại ấn tượng gì thì rất lãng phí.

Tôi không hiểu tại sao báo chí hỏi nhiều lần về con số chi tiêu này mà không vị lãnh đạo có trách nhiệm nào trả lời được cụ thể bao nhiêu. Còn nói là chưa tổng kết được thì rất khó chấp nhận vì Đại lễ đã kết thúc cũng khá lâu rồi.

Trong phiên chất vấn tới, tôi sẽ hỏi tiếp Bộ trưởng Vũ Văn Ninh về vấn đề này, trách nhiệm của Bộ Tài chính là phải đôn đốc các địa phương báo cáo và trả lời?

Ngoài ra, về việc mua từ châu Phi 2.000 viên rubi để lắp mắt cho 1.000 con rồng dùng làm tặng phẩm, Bộ Tài chính cũng phải nói rõ, không biết thì trả lời không biết, có thật thì trả lời có thật.

Nếu đúng có chuyện đó thì phải làm rõ tiền mua từ đâu. Nếu là tiền của doanh nghiệp thì không vấn đề gì, nhưng nếu là tiền kinh phí Đại lễ thì phải trả lời rõ 1.000 người được nhận là ai.

Về vấn đề đường sắt cao tốc Bắc – Nam, tôi sẽ chất vấn tiếp về hiệu quả của dự án này vì ở Đài Loan, bình quân đầu người là 30.000 đô la, nhưng lượng hành khách đi lại bằng phương tiện này cũng rất ít. Suốt chặng đường từ Bắc Đài Loan đến Nam Đài Loan, cả toa tôi ngồi chỉ có đúng 2 người.

Tôi có tìm hiểu lý do thì người dân Đài Loan nói do giá “quá đắt”, đắt hơn cả vé máy bay.
Trong khi đó, người dân Việt Nam thu nhập thấp hơn họ rất nhiều, mình cần đi rẻ, chưa cần nhanh thì hiệu quả thực sự của tuyến đường này sẽ thế nào. Phải chăng câu chuyện như ĐB Dương Trung Quốc nói khôi hài là “mang quang gánh lên tàu cao tốc”.

Đại biểu Vũ Quang Hải (Hưng Yên): “Chất vấn Bộ trưởng NN&PTNT về phòng chống lũ bão”

“Tôi có hỏi Tổng Thanh tra Chính phủ: Vì sao có tới 11 lần thanh tra, kiểm toán mà vẫn để xảy ra hậu quả nặng nề, kéo theo hơn 80.000 tỷ đồng tiền thuế của dân sẽ bị nhấn chìm?. Trong công văn trả lời chất vấn (theo đường văn bản), Tổng Thanh tra Chính phủ đã giải trình rõ nội dung của 11 cuộc thanh tra, kiểm toán (từ 2006 – 2009).

Tôi nhất trí với nội dung trả lời của Tổng Thanh tra, bước một thì cũng chỉ có thể trả lời như vậy. Chỉ tiếc là trả lời hơi chậm về thời gian, vì tôi gửi cũng khá lâu rồi. Tuy nhiên, vấn đề này có thể thông cảm được vì đây việc cần thận trọng và khách quan.

Trong phiên chất vấn tới chắc tôi không hỏi thêm về vấn đề này vì đang chờ kết quả thanh tra.

Đến nay, tôi cũng gửi hai chất vấn cho Bộ trưởng NN&PTNT và Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải, nhưng vẫn chưa có văn bản trả lời.

Tôi hỏi Bộ trưởng Bộ NN&PTNT về quy hoạch hệ thống phòng chống lũ bão trong điều kiện nước biển dâng, biến đổi khí hậu, đặc biệt là lũ miền Trung, có biện pháp nào để tránh thiệt hại do lũ bão gây ra không?

Đây là việc lớn vì mỗi lần lũ bão là thiệt hại lớn, trong khi đó, chúng ta đã có Pháp lệnh về phòng chống lụt bão, Luật đê điều. Nhất là phải điều tra vấn đề sau khi có đường mòn Hồ Chí Minh và các công trình thủy điện nhưng tại sao nước vẫn dâng nhanh như thế, bài toán này phải được lý giải.

Tôi cũng hỏi Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải về việc thực hiện Luật Điện lực, liên quan đến quy hoạch, phát triển điện lực. Tình trạng thiếu điện cắt điện luân phiên, một số quy định đảm bảo khi thiếu điện thì cắt điện như thế nào cho công bằng?”

Đại biểu Nguyễn Minh Thuyết (Lạng Sơn): “Chưa nhận được trả lời của Thủ tướng về Vinashin”

“Vừa rồi, tôi có gửi câu hỏi chất vấn về trách nhiệm của Thủ tướng trong vụ Vinashin, nhưng đến nay vẫn chưa nhận được văn bản trả lời của Thủ tướng.

Ngoài ra, tôi cũng hỏi Bộ trưởng LĐTB&XH về việc để tồn đọng khá lớn danh sách các cụ chưa phong tặng danh hiệu bà mẹ VN anh hùng, trong khi nhiều cụ đã tuổi cao sức yếu rồi, không thể chờ được nữa.

Vấn đề nữa tôi hỏi Chánh án TAND tối cao, qua một vụ án cụ thể xét xử 14 năm với 6 lần xử đi xử lại, trong đó có 2 lần TAND tối cao đã xử, án đã thi hành. Nhưng bây giờ lại ra quyết định xét xử giám đốc thẩm lần nữa, hiện tượng này là do năng lực cán bộ tòa án có vấn đề hay là cố tình “nuôi án”?

N. Yến
________________________________________________________________

Posted in Chuyện đất nước, Hà Nội nghìn năm, Kinh tế | Tagged: , , | Leave a Comment »

Đại lễ: Người bở hơi tai, người hụt hẫng

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Mười 12, 2010

KHÁNH LINH

Đã không có những phút giây lắng đọng, khi niềm tự hào được thổi bùng lên mạnh mẽ, được cộng hưởng trong hàng vạn, hàng triệu người. Chưa kể, lại có quá nhiều những chen lấn xô đẩy, ép giá…thiếu văn minh.

Chen chúc vì… niềm tự hào chính đáng

Vậy là đại lễ 1000 năm Thăng Long đã kết thúc sau 10 ngày với dồn dập những hoạt động chính trị – xã hội – văn hóa… mà đỉnh điểm là ngày 10/10 với lễ diễu binh – diễu hành lớn nhất trong lịch sử và đêm nghệ thuật “Thăng Long – Hà Nội – Thành phố rồng bay” tại SVĐ Mỹ Đình.
Trong tâm thức của nhiều người Việt Nam, Đại lễ 1000 năm Thăng Long là dịp “ngàn năm có một”, nên nhất định phải về Hà Nội dịp này. Người có thời gian thì về cả tuần, kẻ bận rộn thì vài hôm, bận rộn hơn nữa thì cũng cố về với Thăng Long – Hà Nội ngày cuối tuần, gì thì gì cũng phải ở Hà Nội vào “ngày” thiêng liêng – 10/10/2010, dù đó chỉ là ngày do chính chúng ta đặt ra để kỷ niệm (bởi theo sử ghi thì Thái tổ Lý Công Uẩn dời đô về thành Đại La vào tháng 7 – âm lịch mùa thu năm 1010, nhưng không ghi rõ ngày).
Không thể không nhận thấy niềm tự hào, háo hức chính đáng của rất nhiều con dân đất Việt, những người sẵn sàng đi bộ hàng chục km từ các bến xe về trung tâm thành phố (vì xe buýt quá tải, vì giá xe ôm bị đội lên quá cao khiến họ không đủ sức trả tiền, thậm chí nhiều người muốn trả tiền cũng không tìm nổi xe), sẵn sàng “ăn bờ, ngủ bụi” từ đêm 9/10 để có được một chỗ khả dĩ xem lễ diễu hành sáng 10/10, rồi những người sẵn sàng “vạ vật” gần SVĐ Mỹ Đình từ trưa 10/10 để được xem bằng được chương trình pháo hoa duy nhất của ngày đại lễ, dù họ sẽ không có cơ hội thưởng thức đêm nghệ thuật như những khán giả chọn ngồi nhà để xem cả đêm nghệ thuật và pháo hoa qua truyền hình.
Điều gì đã tạo nên tâm trạng háo hức mãnh liệt đến thế trong hàng triệu người Việt Nam, đủ cả già trẻ lớn bé, từ nông thôn đến thành thị? Người viết bài này rất muốn tin, đó chính là niềm tự hào mãnh liệt, sâu thẳm trong vô thức trái tim họ, tự hào về Thăng Long huy hoàng trong lịch sử, tự hào về các thế hệ ông cha.
Rất nhiều trí thức, nhà văn hóa với tình yêu tha thiết với Thăng Long – Hà Nội, đã mơ ước về Đại lễ 1000 năm Thăng Long đậm chất văn hóa, lịch sử, với một thông điệp rõ ràng của hôm nay gửi đến mai sau, đúng nghĩa với sự kiện 1000 năm mới có một lần. Đó phải là một lễ hội ngập tràn niềm vui, nơi mọi người dân thật sự là chủ nhân của lễ hội, nơi người Hà Nội nói riêng, và người yêu Thăng Long – Hà Nội nói chung phải có dịp để bày tỏ tình yêu ấy với cả nước, với cả thế giới. Mỗi người khi về với Hà Nội trong dịp đại lễ phải thật sự cảm thấy mình được trở về với lịch sử 1000 năm của mảnh đất thiêng này.

Quan bở hơi tai, dân thấy mình… hẫng hụt?

Tiếc thay, từ mơ ước đến thực tế lại có một khoảng cách rất xa. Dù nhiều người trong số những trí thức, nhà văn hóa ấy đã tạm quên đi những kiến nghị tâm huyết đã nói to lên mà không ai biết đến, để cùng vui với Thăng Long – Hà Nội những ngày vừa qua.
Không ai có đủ sức để tham gia hết những hoạt động kỷ niệm ngày đại lễ (chỉ tính riêng hoạt động chính thức được đăng tải rộng khắp, đã có tới 50 hoạt động trải suốt 10 ngày). Vài chục hoạt động, trải dài trong cả 10 ngày, nhưng lại thiếu vắng một sự kiện đủ sức lay động trái tim của hàng triệu người có mặt ở Hà Nội những ngày qua. Nhiều nhất là những lễ khánh thành, lễ khai mạc triển lãm – liên hoan, các chương trình biểu diễn nghệ thuật… nhưng lại thiếu vắng các hoạt động mang tính cộng đồng, nơi người dân có thể thật sự đóng góp sức mình, hòa vui cùng đại lễ. Phần lớn những lễ khánh thành, lễ khai mạc chỉ là dịp dành cho một số ít người, trong khi các vị lãnh đạo mệt “bở hơi tai” vì phải “phân thân” để có mặt hết sự kiện này đến sự kiện khác, thì người dân lại cảm thấy hẫng hụt vì chẳng có mấy nơi để mà đi.
Người dân chỉ có thể chọn đến xem một vài sự kiện, trong đó 2 sự kiện quan trọng nhất diễn ra trong chính ngày Đại lễ 10/10 lại chỉ dành cho khách mời, người dân chỉ có thể chờ đợi dọc các tuyến đường để xem đoàn diễu binh – diễu hành đi qua, hoặc chờ đợi bên ngoài SVĐ Mỹ Đình để xem pháo hoa nghệ thuật sau khi đêm nghệ thuật kết thúc. Chen chúc, chầu chực cả buổi chỉ để được xem vài phút đoàn diễu hành đi qua, hoặc xem gần nửa tiếng pháo hoa bừng sáng trên bầu trời Hà Nội đúng đêm đại lễ. Vậy chứ biết bao người đã phải bỏ cuộc giữa chừng vì không đủ sức để chen chúc, đành xem đại lễ tại nhà người quen.
Sang ngày 11/10, Hà Nội trở lại với nhịp sống thường ngày, nhưng chắc chắn nhiều người cảm thấy thủ đô như vắng vẻ hơn, bình yên hơn, có lẽ bởi đã kịp “quen” với cảm giác nhộn nhịp, đông đúc, đâu đâu cũng thấy cả biển người của những ngày đại lễ. Khó mà đoán được “dân số” Hà Nội ngày cao điểm nhất là bao nhiêu, chỉ biết nhiều người phải chọn cách tránh lên những khu vực trung tâm, nếu được nữa thì tránh… ra đường, để khỏi bị căng thẳng, mệt mỏi.
Đã không có những phút giây lắng đọng, khi niềm tự hào được thổi bùng lên mạnh mẽ, được cộng hưởng trong hàng vạn, hàng triệu người. Chưa kể, lại có quá nhiều những chen lấn xô đẩy, những giẫm đạp lên hoa và cây trang trí, rồi việc đẩy giá trông xe, bán nước giải khát với giá cắt cổ để tranh thủ kiếm tiền nhân đại lễ. Chợt nghĩ, với những người “thức thời” ấy, không biết họ có “hả hê” tổng kết đại lễ theo kiểu đã lãi được bao nhiêu tiền trên sự đau khổ của đồng loại không?
Những người dân bốn phương khi tạm biệt đại lễ 1000 năm Thăng Long Long – Hà Nội trở về, trong họ sẽ còn lại cảm xúc gì mạnh mẽ hơn? Cảm xúc thiêng liêng tràn đầy tự hào mình là con dân đất Việt ngàn năm văn hiến, hay cảm giác thất vọng, bực dọc vì những biểu hiện “thiếu văn hóa”?

_____________________________________________________________

Posted in Chuyện lễ hội, Chuyện xã hội, Chuyện đất nước, Hà Nội nghìn năm | Tagged: , , | Leave a Comment »

Lý Công Uẩn, đường tới thành Thăng Long: Tìm đâu hồn Việt?

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Chín 28, 2010

Nguyễn Đắc Xuân

“Bộ phim Trung Quốc nói tiếng Việt” Lý Công Uẩn, đường tới thành Thăng Long nếu được Việt Nam quyết định chiếu trong dịp đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long là một sự xác nhận trước thế giới rằng 1000 năm trước Việt Nam từng là chư hầu của Trung Quốc. – Nhà văn nghiên cứu lịch sử Nguyễn Đắc Xuân viết.

LTS: Nhà văn – nhà nghiên cứu lịch sử Nguyễn Đắc Xuân gửi tới Tuần Việt Nam bài viết chia sẻ những suy ngẫm, trăn trở của ông khi xem giới thiệu phim Lý Công Uẩn, đường tới thành Thăng Long.

Là một nhà văn nghiên cứu lịch sử ở Huế và không chuyên về chuyện làm điện ảnh, nhưng do tôi có chút kinh nghiệm nghiên cứu cổ trang để “tái hiện lễ đăng quang của vua Quang Trung”- một lễ hội quan trọng trong Chương trình Festival Huế 2008 và là tác giả bài báo “Làm phim Thái tổ Lý Công Uẩn – kiến nghị một giải pháp” đăng trên báo Hồn Việt (số 11, tháng 5-2008) cách đây mấy năm, một vài báo hình và báo điện tử chuyển cho tôi xem một số hình ảnh, đoạn phim ngắn giới thiệu bộ phim cổ trang truyền hình 19 tập Lý Công Uẩn, đường tới thành Thăng Long sẽ phát sóng trong dịp kỷ niệm 1000 năm Thăng Long- Hà Nội. Họ đặt cho tôi một số câu hỏi về sự cảm nhận về bộ phim đó.
Chưa được xem bộ phim dài 19 tập này, khắc họa giai đoạn từ thời tiền Lê đến khi Lý Công Uẩn lên ngôi, quyết định dời đô từ Hoa Lư ra thành Đại La, sau đổi tên là Thăng Long, đặt nền móng vững chắc cho thời kỳ ổn định và phát triển dài lâu của đất nước”, nên tôi chưa có ý kiến gì về nội dung kịch bản, về tư tưởng thời Lý xuyên suốt bộ phim, về thông điệp của triều Lý để lại trong lịch sử VN. Tôi chỉ xin bình luận về những thông tin, hình ảnh đã thu thập được từ những đoạn phim quảng cáo, giới thiệu phim mới.
Không chuyên về chuyện làm điện ảnh, nhất là phim lịch sử, nên bài viết có điều gì bất cập, kính mong các nhà chuyên môn, các nhà sử học, các thức giả bổ cứu hoặc cho tôi một cơ hội được học thêm.

Tác giả kịch bản, đạo diễn, diễn viên- có hiểu lịch sử VN?

Người viết kịch bản: Tác giả kịch bản được công bố là ông Trịnh Văn Sơn – Tổng Giám đốc Công ty CP Truyền thông Trường Thành (có người gọi ông là Sơn Trường Thành – cũng là Giám đốc sản xuất bộ phim). Trịnh Văn Sơn là một người chưa bao giờ được giới điện ảnh VN biết tên là một nhà viết kịch bản phim nói chung chứ chưa đề cập đến người viết kịch bản phim lịch sử nói riêng.
Ông đột nhiên “nổi lên” như một bậc thầy viết kịch bản lớn. Không rõ kịch bản phim lịch sử đầu tay của ông Sơn Trường Thành có được một bậc thầy viết kịch bản phim lịch sử VN nào góp ý trước chưa? Chỉ biết ông đem kịch bản của ông qua nhờ nhà viết kịch bản nổi tiếng của Trung Quốc là Kha Chương Hòa “chuốt lại”.
Ông Kha Chương Hòa là một nhà viết kịch bản phim lịch sử cổ trang Trung Quốc giỏi, nhưng ông chưa hề biết tâm tính người Việt Nam, chưa hề học lịch sử Việt Nam, (nếu có học thì cũng là sự méo mó, xuyên tạc từ sách sử Trung Quốc về Việt Nam). Vì thế tôi nghi ngờ cái sự chuốt đúng đắn của ông Chương Hòa về lịch sử VN quá!
Ông Sơn Trường Thành lại nổi lên như một nhà “đại tư bản” trong giới kinh doanh văn hóa VN. Ông đã bỏ ra đến trên 100 tỷ đồng (nghe nói 7 triệu USD) để thuê người Tàu dựng cuốn phim đầu tay của mình. Ông đóng góp một công trình nghệ thuật kỷ niệm 1000 năm Thăng Long hay ông lợi dụng 1000 năm Thăng Long để kinh doanh văn hóa nghệ thuật? Sự thực như thế nào còn phải chờ thực tế trả lời.
Đạo diễn: Bộ phim Lý Công Uẩn, đường đến thành Thăng Long có 3 đạo diễn:
Đạo diễn Cận Đức Mậu, là một người làm phim cổ trang của Trung Quốc nổi tiếng, tôi rất kinh phục. Nghe nói trước khi bắt tay làm phim, Cận Đức Mậu đã có lần lần sang VN, đến thắp hương ở đền vua Đinh, vua Lê, tượng đài Lý Công Uẩn, tuyển chọn diễn viên và “cảm nhận văn hóa Việt”. Nhưng tôi không tin “ông ấy hiểu rất rõ về VN”, nhất là lịch sử VN như một người có trách nhiệm trong đoàn làm phim đã khẳng định.
Cận Đức Mậu sang VN vái chỗ này, thắp hương nơi kia có khác gì hàng triệu khách du lịch đến VN? Vài cái chắp tay vái lạy, đôi lần thắp vài cây hương không thể chứng tỏ được sự hiểu biết lịch sử và sự kính trọng tổ tiên chúng ta của vị đạo diễn.
Nếu hiểu và tôn trọng lịch sử VN thì không bao giờ ông tùy tiện tạo sự hoành tráng cho bộ phim bằng những cảnh kỵ mã phi trên thảo nguyên vô cùng xa lạ với dân tộc VN như ảnh dưới đây:
Đây là đội kỵ binh của Nguyên Mông. Trong lịch sử từ xưa đến nay VN chưa bao giờ có một đội quân mặc giáp trụ cưỡi ngựa như thế. Đường VN hẹp, nhiều sông suối, cầu nhỏ, không có những cánh đồng cỏ lớn lấy đường đâu cho kỵ binh đi, lấy cỏ đâu cho một đoàn ngựa chiến như thế ăn?
Chỉ có những đạo diễn không biết gì về hoàn cảnh VN mới tự tiện ghép những những màn kỵ binh có sẵn trong phim cổ trang của Trung Quốc vào cho phim VN như thế thôi.
Một thông tin trên mạng tôi không nhớ địa chỉ cho biết bộ phim còn có một đạo diễn thứ hai nữa cũng là người Trung Quốc. Vị này là người phụ tá đắc lực cho đạo diễn chính Cận Đức Mậu, được đạo diễn chính giao thực hiện phần quan trọng của bộ phim.
Đạo diễn Tạ Huy Cường là người VN, đã đạo diễn một số phim ngắn ở VN (đạo diễn game show Chắp cánh thương hiệu) chưa có mấy tên tuổi trong giới điện ảnh VN. Chính anh đã tự nhận là “lần đầu tiên làm phim cổ trang lớn” ở Trung Quốc. Anh không biết tiếng Trung nên khi “không có phiên dịch… thì chúng tôi nói chuyện với ê kíp của Trung Quốc bằng hình thể hoặc nói xong nhìn nhau cười”.
Qua đó ta có thể biết đạo diễn Tạ Huy Cường không có vai trò gì nhiều khi quay các trường đoạn hoành tráng do hàng trăm diễn viên Trung Quốc đóng.
Đạo diễn Tạ Huy Cường có mặt ở trường quay Hoành Điếm, Triết Giang (Trung Quốc) trong thời gian quay bộ phim, có lẽ chỉ trên tư cách một người đi học việc, đi tu nghiệp làm phim cổ trang và được thực tập đạo diễn một số đoạn dân chúng đơn giản thôi.
Vai trò của đạo diễn VN giới hạn như vậy khó có thể tạo được cái hồn Việt cho bộ phim.
Diễn viên: Phim có 45 nhân vật chính, phần lớn những nhân vật chính do diễn viên VN đảm nhận. Diễn viên Tiến Lộc (theo báo chí viết anh vừa được biết đến trong vai ca sỹ Quang Bình đồng tính trong phim Nhà có nhiều cửa sổ) đảm nhận vai Lý Công Uẩn. Lần đầu tiên Tiến Lộc đóng phim lịch sử. Á hậu Thụy Vân (chưa hề đóng phim bao giờ) vào vai Lê Thị Thanh Liên – hồng nhan tri kỷ của Lý Công Uẩn. Diễn viên – NSƯT Trung Hiếu của nhà hát kịch Hà Nội được chọn vào vai Đinh Bộ Lĩnh. Nam diễn viên Hoàng Hải vào vai Lê Hoàn, Phan Hòa trong vai Thái hậu Dương Vân Nga.v.v.
Sự hiểu biết về lịch sử VN đặc biệt là triều Lý của những diễn viên chính này rất mỏng. Do đó mọi diễn xuất của họ đều do đạo diễn Trung Quốc “bảo chi làm nấy”.
Ngoài những diễn viên chính, còn toàn bộ diễn viên đóng thế, hàng trăm diễn viên quần chúng đều thuê người Trung Quốc. Với một dàn diễn viên làm theo ý Trung Quốc hoặc diễn viên Trung Quốc chính cống chuyên đóng phim Trung Quốc như thế thì lấy đâu ra cái hồn Việt để kỷ niêm 1000 năm Thăng Long đây?
Một cháu nhỏ ghiền phim Trung Quốc xem tấm ảnh này:
Cháu liền kêu lên – “Tần Thủy Hoàng! Tần Thủy Hoàng!” Tôi đính chính: “Vua nhà Lý nước mình đó!”. Cháu vui mừng: “Rứa hả ông? Vua Lý nước mình giống Tần Thủy Hoàng. Oai thật!”.
Một người bạn ngồi uống cà-phê bên sông Hương thấy tấm ảnh này trên tay tôi liền có lời bình rằng: “Tổ tiên mình làm gì có cái búi tóc dựng đứng trên chóp đầu như vậy? Đến đầu thế kỷ 19, điện Minh Thành trong lăng Gia Long vẫn chưa có sơn, còn để mộc, huống chi thời Lý cách đó 9 thế kỷ mà cung điện nhà Lý đã sơn đỏ chót như rứa? Nội cái màu sơn đỏ chót đó cũng đã toát lên cái “chất Tàu” của bộ phim rồi!”

Người thiết kế, người sản xuất cổ trang và câu chuyện “Trung hoa hóa”

Chuyện thiết kế cổ trang: Như trên đã viết, cách đây mấy năm, tôi được mời cùng với nhiều nhà nghiên cứu lịch sử ở Huế nghiên cứu thiết kế cổ trang để phục dựng Lễ tế Nam Giao (2004) và lễ đăng quang của vua Quang Trung (2008). Phục trang cổ của Tế Nam Giao chỉ cách chúng ta có hơn 60 năm, trong các thư viện còn nhiều hình ảnh của Pháp để lại nên việc nghiên cứu phục chế cổ trang không khó lắm.
Nhưng việc nghiên cứu phục trang của dân chúng và quân đội của vua Quang Trung trong lễ đăng quang của ông thì vô cùng khó khăn. Không tìm đâu ra hình ảnh trang phục của các dân tộc đã từng phục vụ vua Quang Trung hồi cuối thế kỷ XVIII (chỉ cách nay 2 thế kỷ thôi). May sao chúng tôi đọc được cuốn Voyage to Cochinchina in the Years 1792 anhd 1793 (Hành trình đến xứ Đàng Trong những năm 1792 và 1793) của John Barrow.
Trong sách có nhiều hình ảnh các tầng lớp dân chúng, dụng cụ trong đời sống, thuyền bè, sông núi năm 1792. Người phương Tây vẽ, nên người Việt ra Tây cả. Chúng tôi nhờ các họa sĩ có tay nghề ở Đại học Mỹ thuật Huế vẽ lại các hình vẽ đó bằng nét vẽ VN. Các bạn dù tay nghề cao nhưng phải vẽ đi vẽ lại nhiều lần mới được duyệt để dùng. Đến khi đi may mẫu, thợ may là con cháu của thợ may Cung đình Nguyễn ngày xưa nhưng cũng phải may đi may lại nhiều lần mới đạt yêu cầu.
Nhờ có phục trang cổ như thế mà cuộc lễ Đăng quang của vua Quang Trung ở núi Bân tháng 12-2008 đã được báo chí và giới nghiên cứu hoan nghênh.
Với một chút kinh nghiệm đó, trong bài “Làm phim Lý Thái Tổ Lý Công Uẩn – kiến nghị một giải pháp ” (Hồn Việt, số 11, 5-2008, tr. 12-13) tôi nghi ngờ khả năng phục chế được “Dân phục, quan phục, vua phục, cảnh trí cách đây 1000 ngàn năm” của VN, và đề nghị hoãn lại việc làm phim Lý Thái Tổ đã đặt hàng cho Hãng phim truyện VN sản xuất. Bài báo của tôi là một trong những ý kiến tham khảo của ông Phạm Quang Long – GĐ Sở VHTT Hà Nội trong việc rút lui quyết định làm phim Lý Thái Tổ với kinh phí 200 tỷ đồng.
Với một chút kinh nghiệm nghiên cứu thiết kế cổ trang năm ấy, tôi xin có ý kiến về việc thiết kế cổ trang phim Lý Công Uẩn, đường đến thành Thăng Long như sau:
Người được mời thiết kể trang phục cổ cho phim là Tiến sĩ Đoàn Thị Tình. Qua báo chí tôi được biết TS Tình đã có một bản thiết kế rất chi tiết giao cho đoàn làm phim đem sang Trung Quốc thuê may. Nhưng vì “tuổi tác” không qua tận nơi để theo dõi việc sản xuất cổ trang được, bà phải nhờ họa sĩ Phan Cẩm Thượng giúp. Đoàn làm phim đã sử dụng trang phục cổ do bà thiết kế và sản xuất bên Trung Quốc.
Nay bộ phim đã xong và đã trích đoạn làm trailer quảng bá rộng rãi trên mạng toàn cầu và báo chí VN. Dư luận la hoảng lên là phim cổ trang “lai Tàu” quá. Bà đã trả lời báo chí trong nước và các đài phát thanh nước ngoài rằng trang phục cổ trong phim đúng như ý của bà, “người Trung Quốc phục chế trang phục ấy không can thiệp gì vào thiết kế” của bà cả.
Trả lời phỏng vấn, bà nói: “Bộ phim về vua Lý Công Uẩn, phía Trung Quốc hoàn toàn không can thiệp vào quá trình thiết kế các bộ trang phục sử dụng trong phim. Gọi những chỉ trích rằng “phim trông quá Trung Quốc “là không có căn cứ”.
Như vậy bà là người chịu trách nhiệm về trang phục của bộ phim. Tôi trân trọng ý kiến của bà. Để rõ hơn tôi xin bà trả lời hộ cho tôi hai sự việc sau:
1) Căn cứ vào tài liệu nào để thiết kế cái mão Bình Thiên của vua Lý có chùm tua trước trán như ảnh trong phim trích dẫn dưới đây? Và bà căn cứ vào tài liệu nào bà cho vai vua Lý Công Uẩn mặc giáp trụ như một võ tướng trong các phim cổ trang của Trung Quốc đã chiếu “búa xua” trên truyền hình lâu nay như sau:
Phải chăng bà đã “Trung hoa hóa” ông vua sáng lập ra triều Lý VN?
2) Bà có ý kiến gì về những câu trả lời phỏng vấn của họa sĩ Phan Cẩm Thượng – người bà nhờ giúp theo dõi việc sản xuất trang phục cổ do bà thiết kế, đã đăng trên báo Hồn Việt (Bài Họa sĩ Phan Cẩm Thượng: “Sang Trung Quốc làm phim lịch sử, rất dễ bị Trung Hoa hóa”, (Hồn Việt số 36, tháng 6-2010, tr. 36-38) sau đây:
Nhà báo Hoàng Đăng hỏi- Có người ở đoàn phim kể rằng, các chuyên gia may phục trang của Trung Quốc có quyền năng rất lớn, vì thế, ngoài những trang phục có sẵn hay trang phục họ may theo cách của họ, ta muốn thay đổi họ cũng không đồng ý. Vậy nên đa phần trang phục và đạo cụ sử dụng từ kho trang phục của họ…
Họa sĩ Phan Cẩm Thượng trả lời- Có 2 loại trang phục: Quan phục và dân phục. Y phục cổ truyền của ta mới chỉ được xem qua hình ảnh vua chúa thế kỷ 17 trở lại chứ trước đây hầu như chúng ta không được biết nhiều. Có tài liệu chép trang phục của vua chúa VN từ thời này sử dụng y phục Trung Quốc và các họa sĩ thiết kế dựa theo tài liệu đó để thiết kế.
Nhưng thợ may Trung Quốc xem thiết kế là biết ngay y phục theo “gốc” Trung Quốc nên họ chữa lại theo nguyên bản trang phục Trung Quốc mà không chấp nhận sáng tác của mình. Ví dụ, trang phục vua Đinh và vua Lê, họa sĩ Đoàn Thị Tình không vẽ hình rồng nhưng thợ may bảo thiết kế Vương phục không thể không có rồng, nếu ta không đồng ý như vậy thì họ không may.
Các nhà làm phim nói, họ (TQ) có quyền rất lớn nên đạo diễn và các nhà làm phim phải theo họ (trường hợp sáng tạo các mẫu mới không theo truyền thống nữa là chuyện khác). Kết quả, ta thiết kế một đằng nhưng thợ Trung Quốc vẫn may theo ý họ… (cột 3 tr. 36 và cột 1 tr. 36)
…Bộ phim do hãng tư nhân đầu tư nên nếu trang phục nào cần thì may, còn không thì thuê vì nếu tất cả trang phục đều may mới thì kinh phí rất lớn. Một bộ áo giáp giá 5.000 tệ (khoảng 15 triệu đồng), mà mỗi tướng lĩnh ra trận cần từ 3 đến 4 bộ giáp nên tiền đầu tư sẽ lớn. Phương án chính là thuê trang phục và khi thuê thì tất nhiên y phục giống TQ.(cột 3, tr.37) (!)
Nội dung trả lời phỏng vấn của Họa sĩ Phan Cẩm Thượng đã đăng trên báo Hồn Việt cách đây 3 tháng hoàn toàn mâu thuẫn với ý kiến bảo vệ bộ phim của bà. Vậy người xem truyền hình VN tin ai? Tin bà là người ngồi ở Hà Nội thiết kế trên giấy hay tin Phan Cẩm Thượng – người theo dõi việc sản xuất 700 bộ trang phục cổ và đưa vào phục vụ đóng xong bộ phim?
Người hóa trang: Viết chuyện trang điểm, hóa trang có liên quan đến Trung Quốc, tự nhiên tôi nhớ đến chuyện “Chiêu quân” thời Hán. Chỉ vì gia đình không biết hối lộ nên Chiêu Quận bị Mao Diên Thọ điểm cho một cái nốt ruồi “sát phu”, không những Chiêu Quân không được vua Hán nhận mà còn bị nhốt vào lãnh cung suýt chết.
Đoàn làm phim của chúng ta không có người Việt đi theo hóa trang và trang điểm cho diễn viên. Người làm hóa trang – trang điểm đều là người Trung Quốc thì làm sao cái mặt của các diễn viên VN có “hồn Việt” được? Đề nghị đoàn làm phim chỉ cho con cháu nước Việt thấy cái “hồn Việt” ở đâu trong hình ảnh vai Lý Công Uẩn sau đây:
Tôi có cảm giác ông Sơn Trường Thành bỏ tiền sản xuất bộ phim để thỏa mãn thị hiếu của người Trung Quốc chứ không phải dành cho người Việt. Một nghìn năm sau con cháu VN tưởng nhớ đến vua Lý Thái Tổ bằng hình ảnh dưới đây sao?
Trẻ con từng xem phim Tàu trên tivi cũng có thể bảo rằng đây là vợ chồng một ông vua Tàu chứ làm sao có thể bảo đó là vua và Hoàng hậu đầu Triều Lý.
Còn hình ảnh vị Quốc sư Vạn Hạnh thì đạo diễn bê ngay hình ảnh của “Sư phụ” Tam Tạng đi thỉnh kinh trong phim TQ hiện đang chiếu trên tivi VN như thế này:
Tôi cũng xin hỏi họa sĩ Phan Cẩm Thượng, người Trung Quốc thiết kế các vai vua quan triều Lý có cái búi tóc dựng ngược trên đỉnh đầu (xem 3 ảnh trên), họ có hỏi ý kiến của cố vấn văn hóa mỹ thuật của đoàn làm phim không?
Trong lịch sử 1000 năm Thăng Long có sự kiện thiên tài quân sự Quang Trung đã đánh thắng 29 vạn quân Thanh hồi đầu Xuân Kỷ Dậu (1789). Trước khi xung trận, trong lời dụ tướng sĩ, vua Quang Trung đã nói lên quyết tâm đánh bại quân Thanh xâm lược để giải phóng Thăng Long, bảo vệ nền độc lập dân tộc, văn hóa dân tộc: “Đánh cho để tóc dài/ Đánh cho để đen răng/ Đánh cho nó chính luân bất phản/ Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn/ Đánh cho sử trí Nam quốc anh hùng chi hữu chủ” [1]
Cách đây trên 220 năm vua Quang Trung làm nên chiến thắng Xuân Kỷ Dậu (1789) khiến cho quan quân nhà Thanh khiếp sợ cũng chỉ để bảo vệ “tóc dài, răng đen”, bảo vệ độc lập dân tộc. Bây giờ ta đang có độc lập, kỷ niệm 1000 năm Thăng Long, trong đó có chiến thắng Xuân Kỷ Dậu (1789) nỡ nào đoàn làm phim “Lý Công Uẩn, đường tới thành Thăng Long” để cho các nhân vật lịch sử VN đội tóc của người Trung Hoa?
Sự có mặt của họa sĩ Phan Cẩm Thượng và cả đạo diễn trẻ Tạ Huy Cường ở trường quay Hoành Điếm chẳng qua chỉ để “làm cảnh”. Nhưng nếu bộ phim được lên sóng ở bất cứ nơi đâu trên thế giới này thì họ vẫn phải chịu một phần trách nhiệm với lịch sử văn hóa dân tộc.

________________________________________
[1] UBKHXHVN, Lịch sử Việt Nam, Tập I, Nxb KHXH, HN 1971, tTr.353

Posted in Điện ảnh | Tagged: , , , , | Leave a Comment »

Chưa có kết luận, Đường tới thành Thăng Long rối tít mù

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Chín 28, 2010

Gia Vũ

(VTC News) – Ngày Đại lễ cận kề, Lý Công Uẩn – Đường tới thành Thăng Long vẫn bị nghẽn trong khâu kiểm duyệt. Trong khi đó, có rất nhiều ý kiến trái chiều về hồn Việt trong bộ phim này. Công ty Trường Thành sẽ sớm có một cuộc gặp gỡ báo giới để sẻ chia thêm những thông tin nóng hổi.

Đã có rất nhiều sự phản đối của công chúng, báo giới và cả những nhà nghiên cứu xung quanh bộ phim này. Ở đây, vấn đề “đứa con lai” được đưa ra bàn luận không đơn giản là sự học hỏi, giao lưu về văn hóa nữa mà được đẩy lên ở mức độ cao hơn là bản lĩnh văn hóa, vấn đề về lịch sử và truyền bá lịch sử và văn hóa cho người xem…

Một trong số những người phán đối gay gắt nhất về bộ phim này là nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân. Rất nhiều dẫn cứ về cái gọi là “phim Trung Quốc nói tiếng Việt” được nhà Huế học này đưa ra để bảo vệ cho luận điểm của mình. Trong đó có thể kể đến võ thuật, kiến trúc ba tầng mái trong bối cảnh cung điện, đầu đao của công trình và đến cả bối cảnh Bắc Bộ cũng được “dựng lên một cách tùy tiện, giả tạo thua cả sân khấu cải lương do nông dân Nam Bộ đóng”.

Đồng thời, ông cũng tỏ ra nghi ngờ về việc tác giả kịch bản của bộ phim này là Giám đốc Công ty Trường Thành.

“Trịnh Văn Sơn là một người chưa bao giờ được giới điện ảnh VN biết tên là một nhà viết kịch bản phim nói chung chứ chưa đề cập đến người viết kịch bản phim lịch sử nói riêng. Ông đột nhiên “nổi lên” như một bậc thầy viết kịch bản lớn. Không rõ kịch bản phim lịch sử đầu tay của ông Sơn Trường Thành có được một bậc thầy viết kịch bản phim lịch sử VN nào góp ý trước chưa. Chỉ biết ông đem kịch bản của ông qua nhờ nhà viết kịch bản nổi tiếng của Trung Quốc là Kha Chương Hòa “chuốt lại” – ông Nguyễn Đắc Xuân viết.

Với tất cả những nghiên cứu của mình, ông Xuân cho rằng không nên công chiếu bộ phim này trong dịp Đại lễ 1000 năm. Đồng thời, cũng cần phải xem xét kế hoạch xuất khẩu bộ phim này từ phía Trường Thành.

Cũng lên tiếng phản đối và cho rằng Lý Công Uẩn – Đường tới thành Thăng Long là một bộ phim Trung Quốc, đạo diễn Bùi Thạc Chuyên (thành viên thẩm định bộ phim) trong lần trao đổi gần nhất với chúng tôi khẳng định tiếp rằng: “Đó là một bộ phim Trung Quốc, không cần phải bàn cãi”. Nhưng ông Chuyên nằm trong hội đồng thẩm định phim, khi ông nói ra, tức là phải có căn cứ thuyết phục. Chúng tôi lật ngược lại để tìm lý giải rõ ràng hơn từ đạo diễn này. Tuy nhiên, ông chỉ đưa ra một đáp án ngắn gọn: “Đạo diễn Trung Quốc, biên kịch Trung Quốc, bối cảnh Trung Quốc và diễn viên phụ người Trung Quốc. Như vậy, chủ thể sáng tạo bộ phim là người Trung Quốc, vì thế bộ phim là Trung Quốc”. Ông đã không nói thêm nhiều với lý do “nếu tranh cãi thì sẽ rất dài và không cần thiết”.

Bên cạnh đó, sự phản đối còn được “chắp thêm cánh” là tiếng nói dư luận. Độc giả đã bình luận rất nhiều về bộ phim với kết luận rằng đó là một bộ phim cổ trang Trung Quốc, Lý Công Uẩn giống Tần Thủy Hoàng… Bộ phận độc giả này cũng phản đối việc công chiếu bộ phim.

Trong khi đó, một trong những người chịu trách nhiệm về văn hóa và trang phục trong bộ phim, họa sỹ Phan Cẩm Thượng cuối cùng cũng quyết định đăng đàn nói về vụ việc, đưa ra những lời tâm huyết. Ông đã nhận một phần lỗi về mình với việc bộ phim bị gây cảm giác “Trung Quốc hóa”. Tuy nhiên, đứng ở vị trí là người cố vấn, lời nói của ông trong bộ phim không có ý nghĩa quyết định. Ông cho biết, ở Trung Quốc, với bối cảnh và những con người Trung Quốc cụ thể, khó có thể lựa chọn được những cái hoàn toàn Việt Nam. Theo lời ông thì thợ may Trung Quốc đã tác động vào biến dạng trang phục của bộ phim do Tiến sĩ Đoàn Thị Tình thiết kế. Tuy nhiên, theo ý của bà Tình thì trang phục của bà được giữ trọn vẹn. Ở đây có một sự mâu thuẫn trong những phát biểu của Tiến sĩ Đoàn Thị Tình và họa sỹ Phan Cẩm Thượng. Tất nhiên, những phát biểu của họa sỹ Phan Cẩm Thượng đáng tin cậy hơn vì ông là người trực tiếp sang Trung Quốc khảo sát và theo dõi tiến trình bộ phim.

Tuy nhiên, không phải không có những đồng cảm với bộ phim này. Một trong những ý kiến theo dòng này là của giáo sư Đinh Xuân Dũng, ủy viên thường trực Hội đồng lý luận phê bình văn học nghệ thụât Trung ương, cố vấn Hội đồng thẩm định kịch bản Lý Công Uẩn – Đường tới thành Thăng Long. Ông cho rằng, phim có chất Việt Nam, thể hiện sinh động, với tình cảm sâu đối với lịch sử dân tộc, phản ánh trung thực với những nét cơ bản nhất bằng ngôn ngữ điện ảnh về giai đoạn Đinh Tiền Lê và Lý với nhân vật trọng tâm là Lý Công Uẩn.

Theo ông, những hạn chế của bộ phim nên được thông cảm khi Việt Nam không có trường quay, không có đạo diễn thực sự đủ tầm, không có lực lượng diễn viên đông đảo, thiếu thốn đạo cụ, trang phục… “Cái quan trọng ở bộ phim là ý tưởng và bản lĩnh của người làm phim trong việc giữ bản sắc Việt Nam. Có thể sử dụng trường quay, trang phục (may tại Trung Quốc) thậm chí cả đạo diễn Trung Quốc song tính cách nhân vật, mối quan hệ của người Việt Nam trong phim vẫn giữ chuẩn. Chúng ta nên nhớ rằng, kịch múa Xô Viết – Nghệ Tĩnh, tác phẩm đỉnh cao của nghệ thuật múa Việt Nam trước đây do đạo diễn người Triều Tiên là Kim Hoàng dàn dựng”.

Một độc giả tên Hổ Phách đăng phản hồi trên trang Tin tức Online thì viện dẫn những chứng cứ cho rằng có rất nhiều yếu tố dân tộc trong bộ phim này. Trong đó có thể kể đến áo tứ thân của phụ nữ trong phim, rồng Lý trên áo của vua, cờ có những chòm sao, thiếu niên tóc ba chỏm, hình vẽ chiến binh thời Trần, hoàng bào màu đỏ tía… Tác giả cho biết, những kiến thức trên có được do quá trình học hỏi, nghiên cứu văn hóa của hai triều đại Lý Trần trong một thời gian dài.

Phía công ty Trường Thành khẳng định, họ sẽ chỉnh sửa bộ phim theo yêu cầu của Cục Điện ảnh. Mới đây trao đổi cùng chúng tôi, ông Trịnh Văn Sơn cho biết, sắp tới, họ sẽ tổ chức một cuộc gặp gỡ báo giới để thông báo những thông tin mới về tiến trình đưa bộ phim đến với công chúng. Đồng thời, cũng đính chính một số điểm mà theo đơn vị này là do báo giới đã đưa tin không chính xác trong thời gian vừa qua.

Hiện tại, tất cả mối quan tâm của công chúng và dư luận về bộ phim Lý Công Uẩn – Đường tới thành Thăng Long đang đổ dồn về Cục Điện ảnh – Đơn vị được giao nhiệm vụ thẩm định bộ phim. Sau lần thẩm định đầu tiên với những yêu cầu chỉnh sửa đề “bớt Trung Quốc hóa”, đến nay, vẫn chưa có thêm bất kỳ thông tin nào từ phía Hội đồng thẩm định. Ông Lê Văn Minh (Cục phó, Cục Điện ảnh) nói ngắn gọn với VTC News rằng, chưa có gì mới về bộ phim và không cung cấp thêm bất cứ thông tin nào. Cục trưởng Cục Điện ảnh Lại Văn Sinh thì cho rằng: Bao giờ sửa xong, Hội đồng sẽ tư vấn cho các cơ quan lãnh đạo cấp trên. Ông Sinh nói: Quyền cao nhất tôi cho là của Ban chỉ đạo quốc gia Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long. Như vậy, quá trình xem và thẩm định bộ phim vẫn đang được tiến hành và tiếp tục chờ đợi.

___________________________________________________________

Posted in Hà Nội nghìn năm, Điện ảnh | Tagged: , , | Leave a Comment »

Cứu Hoàng thành Thăng Long: “Muộn nhưng còn kịp”

Posted by tuldvnhloc trên Tháng Năm 9, 2010

Riêng đoạn đê Hoàng Hoa Thám vừa bị phá, chúng tôi thật sự rất tiếc, vì đoạn này thể hiện rất rõ tính chất của Hoàng thành Thăng Long cổ, vừa là lũy thành, vừa là đê trị thủy, còn lại được thế này với thế giới sẽ là rất quý hiếm. Vậy mà ta thì thản nhiên phá bỏ- PGS Tống Trung Tín.

Không nên lập luận “không biết” mãi

GS Phan Huy Lê khẳng định đoạn đường Hoàng Hoa Thám cắt phố Văn Cao, nơi đang là công trường xây dựng quy mô lớn, là một đoạn Hoàng thành Thăng Long thời Lê. Đã trực tiếp có mặt ở hiện trường, ông và các đồng nghiệp đã tìm thấy những dấu tích kiến trúc, những di vật gì để khẳng định ý kiến này?

PGS. Tống Trung Tín: Ngày 29/4/2010, sau khi nhận được thư kiến nghị của những người dân xung quanh khu vực, tôi đã xuống trực tiếp hiện trường để quan sát. Hiện trường đã bị đào phá đoạn Văn Cao – Hồ Tây cắt qua đường Hoàng Hoa Thám. Có những hố móng rất sâu ở giữa tim đường Hoàng Hoa Thám. Trên các vách hố đã nhận thấy rải rác các mảnh gạch và gốm cổ. Đặc biệt có một đoạn lớp gốm cổ nằm ngay trên lớp mặt cho thấy ngay bên dưới lớp nhựa rải đường đã là dấu tích của lớp đất văn hoá khảo cổ rồi.

Vương vãi trên mặt các hố đào, chúng tôi đã nhặt được gạch vỡ thời Lê, các mảnh gốm tiền Thăng Long và Thăng Long dưới các thời Lý-Trần-Lê. Có thể khẳng định đoạn đường Hoàng Hoa Thám đã đào phá chính là một đoạn tường Hoàng thành Thăng Long thời Lê (thế kỷ XV-XVI) đúng như ý kiến của GS. Phan Huy Lê.

Những người đã “lỡ” phá đoạn Hoàng thành đường Hoàng Hoa Thám để mở đường có thể đưa ra nhiều lý do, như họ không biết đây là đoạn Hoàng thành, thậm chí khi họ làm đường, có phát hiện được di vật nào đâu? Liệu có thể tin những lý do ấy không?

PGS Tống Trung Tín: Đúng là có thể họ không biết thật do chúng ta chưa có hình thức thích hợp như một quy chế, quy định hay hình thức tuyên truyền nào đó để bảo vệ đoạn thành. Ngay cả khi thấy gốm, thấy tường thành mà không có chuyên môn thì cũng có thể họ không dễ nhận dạng được di tích. Nhưng khi báo chí đã đưa tin cách đây vài tháng rồi mà họ vẫn “lờ” đi thì thật đáng trách hay nói thẳng ra là đã vi phạm Luật Di sản văn hoá.
Cũng qua đây, càng thấy cần lắm quy định với các chế tài cho việc bảo vệ di sản. Vì cứ như trường hợp này và cứ lý do kiểu này, chúng ta sẽ phá hoại hết các di sản dưới lòng đất của Hà Nội. Chẳng hạn việc xây dựng những tòa nhà đồ sộ ở chợ Hàng Da, chợ Cửa Nam…đều là thuộc khu vực Hoàng thành Thăng Long và cận Hoàng thành. Ở đây chắc chắn sẽ có tầng văn hóa dày và có thể còn các di tích quan trọng, giờ xây đã gần xong rồi mà không thấy một cơ quan quản lý văn hóa nào lên tiếng cần phải khảo cổ.
Đáng lẽ cơ quan xây dựng phải tham khảo các cơ quan quản lý văn hóa, để có kế hoạch thám sát, khai quật di dời di tích, di vật đi trước khi xây dựng ở các khu vực vốn đã được dự báo suốt từ ngày phát hiện di tích Hoàng thành Thăng Long năm 2002 đến nay. Cũng cần phải nói rằng ở những cơ quan xây dựng lớn như thế, thường “đụng chạm” nhiều như thế thì không nên lập luận “không biết” mãi (!).
Ở các cơ quan đó đều có các nhà trí thức, hoặc các nhà quản lý có trình độ cao. Họ phải biết Luật Di sản văn hoá đã quy định trong quá trình xây dựng, nếu phát hiện có di tích, di vật thì phải tạm dừng lại để báo với các cơ quan văn hóa. Còn đằng này báo chí lên tiếng rồi, thậm chí tôi được biết Cục Di sản cũng có văn bản rồi mà họ vẫn phớt lờ thì thật đáng trách.

“Tiếng kèn ngập ngừng” của giới khảo cổ học

Còn lập luận HN đụng đâu chẳng là di sản, nếu chỗ nào cũng phải bảo tồn thì còn đâu đất cho phát triển thì sao, thưa PGS?

PGS Tống Trung Tín: Cũng không thể lập luận như thế được. HN một năm xây dựng biết bao nhiêu công trình, mở biết bao nhiêu con đường, giới khảo cổ học- sử học có ý kiến gì đâu? Chỉ vài địa điểm thuộc trung tâm của kinh thành Thăng Long qua suốt chiều dài hàng nghìn năm lịch sử, đã được xác định tương đối rõ ràng, thì chúng tôi mới buộc phải lên tiếng như di tích Đàn Xã Tắc, di tích Nam Giao.
Ngay trong khu vực ấy khai quật xong rồi vẫn xây dựng đấy chứ. Chỉ có những vùng tối quan trọng như khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long thì chúng tôi đã đề nghị nhà nước cho phép bảo vệ nguyên trạng. Tức là khoa học chúng tôi cũng lên tiếng nhưng cũng rất phải chăng, chứ không phải chỗ nào cũng kêu, chỗ nào cũng bảo tồn. Mà thực ra khoa học cũng chỉ là tham mưu, kiến nghị dưới ánh sáng của Luật Di sản văn hoá với các cấp có thẩm quyền thôi.
Riêng đoạn đê Hoàng Hoa Thám vừa bị phá, chúng tôi thật sự rất tiếc, vì đoạn này là một trong những đoạn thể hiện rất rõ tính chất điển hình của Hoàng thành Thăng Long thời Lê, vừa là lũy thành, vừa là đê trị thủy. Trong các kinh đô cổ ở Đông Á giữa lòng đô thị hiện đại rất hiếm còn loại thành luỹ rất đặc trưng của Việt Nam và HN như ở ta vậy. Vậy mà ta cứ thản nhiên dự án, thản nhiên phá bỏ.

Giờ đã “lỡ” phá rồi, PGS có đề xuất cách xử lý nào hợp lý nhất không?

PGS Tống Trung Tín: – Tuy đoạn thành đã bị phá, nhưng vẫn còn có thể tạm dừng cho giới khảo cổ – lịch sử vào nghiên cứu đoạn thành đó. Có thể nhân đây đào 01 hố thám sát xuống tận sinh thổ (đất cái) để xác định chính xác các “lớp” đất đắp thành thời Lê sơ. Rồi lại tìm xem dưới lớp thời Lê sơ có lớp đất đắp thành của các thời kỳ Lý – Trần hay không? Kỹ thuật đắp thành, đặc điểm lịch sử văn hóa mỗi thời kỳ thể hiện qua vật liệu xây dựng? Đó là cách “vớt vát” để có những tư liệu chính xác, góp phần giải đáp phần nào về quy mô, tính chất của vòng thành qua thời kỳ lịch sử biến diễn ra sao.
Người ta thường nói “trong cái rủi, có cái may”. Nếu ta “vớt vát” khảo cổ như thế để “vớt vát” lấy chút tư liệu khoa học thì ta có thể có chút ít “may mắn” nào đó mà thực ra chẳng nhà khoa học nào muốn như vậy. Tức là bình thường chúng ta khó có cơ hội để đụng chạm những tầng văn hóa ở sâu trong lòng đất mà lại đang là công trình dân sinh như đoạn đường này.
Nay nhân việc đào đường, khảo cổ học kết hợp “chữa cháy” lấy một ít tư liệu. Và cũng từ kết quả nghiên cứu ấy, hai bên có thể cùng bàn thảo để đưa ra thiết kế tốt nhất cho dự án mở đường đang tiến hành rầm rộ này. Những trường hợp kết hợp nghiên cứu di tích với công trình dân sinh như vườn hoa Đàn Nam Giao (thuộc khuôn viên của trung tâm thương mại Vincom) là một ví dụ cho thấy, luôn có thể tìm ra giải pháp phù hợp nếu hai bên cùng có tâm. Muộn, nhưng vẫn còn kịp!

Phải chăng chính giới khảo cố học cũng có “chút” lỗi khi không lên tiếng mạnh mẽ hơn từ sớm? Để đến giờ, giải pháp thế nào cũng có vẻ dang dở?

PGS Tống Trung Tín: – Đúng là chúng tôi có lỗi lên tiếng chậm. Nhưng từng có ý kiến cho rằng giới khảo cổ học chuyên làm chậm dự án và đòi nghiên cứu như thế chỉ để “có thêm chút tiền”, khiến giới khảo cổ học mà cụ thể là bản thân tôi cũng ở tình trạng “tiếng kèn ngập ngừng”. Nhưng tôi nghĩ lại rồi, đã là Luật thì mình vẫn phải nói thôi.

Kiến nghị về một kiến nghị đã bị lãng quên

Để tránh tình trạng bị động như bấy lâu nay, ngoài việc trông chờ thái độ hợp tác của của các chủ đầu tư, giới khảo cổ học phải chủ động đưa ra quy hoạch khảo cổ học của Thủ đô HN chứ?
PGS Tống Trung Tín: – Đúng là để tránh những hiện tượng tương tự xảy ra, việc đầu tiên phải tiến hành xây dựng quy hoạch khảo cổ học, trong đó xác định tương đối những khu vực nào có các di tích khảo cố học dày đặc và quan trọng, khu vực nào di tích vừa phải, khu nào không có di tích. Rồi quy hoạch, đó phải được chính thức hóa về mặt nhà nước, được phê duyệt, công bố bởi các cấp có thẩm quyền.
Thực ra đã từng có một quy hoạch như thế của HN. Trước đây, năm 2001-2002, Viện Khảo cố học và Sở Văn hóa- Thông tin HN (khi đó), do ông Nguyễn Viết Chức- nguyên Giám đốc Sở chủ trì, Viện Khảo cổ học thực hiện, phụ trách đề án là GS. Hà Văn Tấn, người thực hiện là tôi và các cộng sự. Đề tài nghiệm thu xuất sắc, vẽ ra quy hoạch khảo cổ học ở vùng nội đô, Đông Anh, Từ Liêm, Thanh Trì, Gia Lâm và có cả các kiến nghị hẳn hoi, Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường HN quản lý.
Chúng tôi trình kiến nghị năm 2002. Sau đó không thấy có tiến triển gì thêm, . Tên đề tài là “Khảo cổ học với việc gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc ở Thủ đô HN – kiến nghị và giải pháp”, thuộc chương trình gìn giữ và phát huy những giá trị lịch sử văn hóa 1000 năm Thăng Long. Nay xem lại nó cũng có nhiều điều đã lạc hậu. Nhưng rõ ràng người đứng đầu ngành văn hoá HN thời đó đã có trách nhiệm rất cao với việc bảo vệ di sản văn hoá HN. Nay công việc nghìn năm bận rộn quá. Nhân việc đào phá một đoạn thành, đã đến lúc ta nên suy nghĩ về kế hoạch bảo tồn tổng thể này.

Riêng với những đoạn còn lại của La thành hay Hoàng thành, Viện Khảo cổ có kiến nghị gì không?

PGS Tống Trung Tín: – Để bảo vệ và phát huy tốt giá trị lịch sử văn hoá của những đoạn thành đất này, chúng tôi sẽ kiến nghị Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, UBND thành phố HN xem xét chỉ đạo các cơ quan chuyên môn liên quan xây dựng kế hoạch khảo sát điều tra tổng thể để đề ra các giải pháp tối ưu cho việc bảo vệ nguyên trạng và lâu dài các đoạn thành còn lại. Có thể là xếp hạng các đoạn thành tiêu biểu chẳng hạn. Cũng có thể là những sơ đồ, bản đồ đánh dấu các đoạn thành luỹ cổ đó để mọi người đều biết đó là một loại di tích cho biết rõ quy mô của một Thăng Long lớn rộng ngày xưa.
Cũng chẳng còn nhiều đâu, giờ có giữ lại mới mong sau này các thế hệ con cháu học lịch sử còn được biết “mặt mũi” của những đoạn tường của kinh thành Thăng Long chứ và khi đã có giải pháp, việc bảo vệ cũng không phải là quá khó vì toàn bộ di tích đã nằm yên dưới mặt đường nhựa. Nó chỉ cao hơn tất cả các con đường khác, thể hiện rõ đặc trưng của một loại thành luỹ của Thăng Long. Khi cần có cải tạo, xây dựng, hai bên văn hoá- xây dựng cùng thảo luận với nhau để bàn bạc thống nhất cách giải quyết.

Khánh Linh (thực hiện)
_____________________________________________

Posted in Chuyện đất nước, Di tích, Hà Nội nghìn năm | Tagged: , , | Leave a Comment »