NGÔN NGỮ & VĂN HÓA

CHÚC MỪNG NĂM MỚI – NĂM NHÂM THÌN

Đề án 332, được hay mất?

Posted by tuldvnhloc on Tháng Một 9, 2012

Trong 10 năm qua (từ năm 2000 đến hết 2010), Đề án 322 (sử dụng ngân sách Nhà nước) đã gửi được 4.590 người đi học, trong đó có 2.268 tiến sĩ. Đến nay đã có 3.017 người đã về nước, trong đó có 1.074 tiến sĩ.

Đề án 322 thành công?

Đề án 322 được đánh giá là thành công từ góc độ đánh giá của Nhà nước và những đối tượng thụ hưởng.
Tuy nhiên, còn một hạn chế là có 33 lưu học sinh (chiếm 1,06% số LHS tốt nghiệp) không hoàn thành nhiệm vụ học tập hoặc đã tốt nghiệp về nước, nhưng không trở lại cơ quan cũ công tác như cam kết lúc ban đầu mà không bị bồi thường tiền. Theo một số ý kiến thì điều này phụ thuộc vào lãnh đạo của cơ quan cử họ đi học. Nếu thân thiết với lãnh đạo, họ “ỉm” đi là coi như xong.
Trong khi đó, trong thông báo về tuyển sinh sau đại học bằng ngân sách Nhà nước của Bộ GD-ĐT đã nêu rõ: Người trúng tuyển phải cam kết hoàn thành chương trình đào tạo và trở về phục vụ tại các cơ quan cử đi học như đã cam kết, nếu không hoàn thành chương trình đào tạo hoặc không trở về nước phục vụ sẽ phải bồi hoàn toàn bộ chi phí đào tạo theo đúng quy định của Nhà nước.
Lý do: một số trường hợp vì sức khỏe không đảm bảo nên phải về nước, một số khác bị thôi học vì kết quả học tập không đạt quy định, hoặc có người về nước sau đó không trở lại nước ngoài học tiếp vì lý do cá nhân, một số thì tốt nghiệp về nước nhưng không làm việc cho cơ quan công tác trước đây và cá biệt có người học xong không về nước.
Đối với số lưu học sinh này, Bộ GD-ĐT đã triển khai thực hiện hướng dẫn và thu hồi kinh phí bồi hoàn theo hai hướng xử lý:
1) Trường hợp cán bộ do cơ quan cử đi học được Bộ làm văn bản thông báo cho cơ quan về tổng kinh phí đã cấp cho lưu học sinh và đề nghị cơ quan phối hợp xử lý theo quy trình xét bồi hoàn của Nhà nước và yêu cầu lưu học sinh nộp tiền bồi hoàn ngân sách nhà nước vào tài khoản quy định.
2) Trường hợp sinh viên và người tốt nghiệp chưa có cơ quan công tác, Bộ GD-ĐT họp xét các trường hợp bồi hoàn và có quyết định mức bồi hoàn gửi đến lưu học sinh yêu, cầu thực hiện bồi hoàn theo quy định của pháp luật
Hiện nay trên 50% số lưu học sinh phải bồi hoàn kinh phí đã thực hiện bồi hoàn cho Nhà nước. Theo quy định hiện hành,những người tốt nghiệp về nước nhưng không về cơ quan cũ là thuộc diện phải bồi hoàn kinh phí.
Ông Vang cho rằng quy định này cần sửa đổi cho phù hợp bởi lẽ họ không về cơ quan cũ nhưng chuyển sang cơ quan Nhà nước khác cũng phục vụ Nhà nước.
Tuy nhiên, sau khi tốt nghiệp về nước, lưu học sinh 322 hoàn tất các thủ tục thanh quyết toán với Bộ GD-ĐT và được trả quay về cơ quan cũ làm việc.
Họ làm việc một thời gian, sau đó bỏ cơ quan ra làm riêng hoặc làm cho doanh nghiệp nước ngoài thì trách nhiệm ở đây thuộc cơ quan chủ quản chứ không thể đổ lỗi cho Bộ, bởi vì cơ quan đã cam kết bố trí sử dụng và quản lý lưu học sinh về nước trong công văn cử người dự tuyển học bổng nhà nước.
Để thực hiện nghiêm túc quy định của Chính phủ thì các cơ quan sử dụng lao động phải thực hiện đúng trách nhiệm của mình.
Đây thực sự là một thách thức với cơ quan sử dụng lao động, đòi hỏi họ cần có chính sách hoặc môi trường làm việc hấp dẫn hơn để giữ cán bộ ở lại làm việc.
Trong tương lai, các cơ quan nhà nước cũng sẽ phải cạnh tranh nhau để có cán bộ tốt. Nếu được như vậy thì rõ ràng những người tài giỏi được đào tạo bài bản sẽ có điều kiện làm việc tốt hơn.

Thất vọng sau vinh quy bái tổ?

Sau vinh quy bái tổ, các tiến sĩ theo đề án 332 đứng trước những thách thức khiến nhiều người nản lòng.
Anh Nguyễn Hùng, một giảng viên trường ĐH có lịch sử hơn 50 tuổi đời ở Hà Nội cho biết, sau khi làm xong tiến sĩ theo Đề án 322 ở trường ĐH Paris 6 ở Pháp về, anh có cảm giác “khủng hoảng”.
Đang từ cuộc sống đầy đủ (học bổng cộng với tiền hỗ trợ từ phòng Lab bên ĐH Paris 6), lúc về nước anh nhận mức lương 2,5 triệu/tháng trong 6 tháng đầu do chưa tham gia nhiều hoạt động khác của khoa. Hiện giờ, mức lương của anh là 3,6 triệu đồng/tháng, không thay đổi so với trước lúc đi học.
Thật may, anh mới được duyệt đề tài nghiên cứu khoa học bằng ngân sách nhà nước do trường tạo điều kiện, đó là lý do anh không có ý định bỏ trường ra đi như nhiều bạn bè mình.
Trong số 5 người bạn cùng đi học tiến sĩ theo Đề án 322 cùng anh, có 3 người đã bỏ môi trường đại học vì không chịu đựng được khoản thu nhập ít ỏi cũng như môi trường làm việc.
Một tiến sĩ Toán bật mí: Sở dĩ nhiều tiến sĩ 322 trở về, vẫn bám trụ ở trường đại học vì họ có cơ hội đi làm thêm, đó là dạy cho các chương trình liên kết quốc tế hay trường quốc tế với mức thù lao từ 400 ngàn đến 600 ngàn/giờ.
Mức thu nhập ngoài của họ có thể lên đến 10 triệu đồng/tháng, cộng với tiền lương ở trường, tiền hướng dẫn luận văn…thì cuộc sống cũng khá ổn. Đồng thời, khoa hay trường ĐH vẫn tạo điều kiện cho họ tham gia các đề tài nghiên cứu khoa học.
Tiến sĩ H., đi học bằng học bổng tiến sĩ 322 ngành hoá thực phẩm từ một cơ quan nhà nước, nhưng khi trở về thì cơ quan này giải thể nên được tự do chọn nơi làm việc. Với tâm trạng háo hức, chị quyết định chọn một trường đại học có tiếng ở Hà Nội để mong muốn được cống hiến. Thế nhưng, H. đã thất vọng với cơ chế làm việc và quyết định phải ra đi, làm việc cho một công ty nước ngoài.
Tiến sĩ H. chia sẻ: “Lý do ra đi không hẳn vì mức thu nhập. Tại trường ĐH, mức lương hàng tháng cộng với tiền dạy vượt giờ, tiền hướng dẫn sinh viên, tôi cũng được khoảng 10 triệu đồng/tháng. Đó là một mức thu nhập tốt so với mặt bằng các trường hiện nay. Tuy nhiên, tôi nhận ra rằng, nếu tôi ở trường như thế này mà không được nghiên cứu, tôi sẽ trở thành “thợ dạy” theo đúng nghĩa. Vì cuộc sống như thế là không hạnh phúc, tôi đã nghỉ dạy.”
Chị tâm sự, mặc dù rất muốn đưa ra nhiều cái mới, có ích cho sinh viên nhưng không được chấp nhận. Chẳng hạn muốn cải tiến thư viện cho sinh viên để có nhiều sách tham khảo từ nước ngoài về, hoặc tổ chức cho sinh viên đi thực tế thì bị can ngăn: tự nhiên nghĩ thêm việc để làm gì cho mệt.
Với đề tài nghiên cứu khoa học thì đòi hỏi phải có bài báo đăng ở nước ngoài, trong khi phòng thí nghiệm không chuẩn quốc tế, thù lao cho các thành viên tham gia đề tài quá ít, chẳng hạn như chủ nhiệm đề tài được nhận khoảng 100 ngàn/tháng.
Từ bỏ trường ĐH vì quá thất vọng, tiến sĩ H. cho biết, hoàn toàn không phải vì mức lương, mà môi trường làm việc là cái quan trọng nhất khiến chị ra đi. Hiện nay, làm việc cho công ty nước ngoài, chị học được rất nhiều cái mới, tất cả những sáng kiến được tôn trọng và cổ vũ, mức lương rất tốt nhưng không giàu như nhiều người nghĩ vì phải trừ thuế thu nhập từ 20-30%.

Tỷ lệ thất thoát chấp nhận được?

Dựa trên báo cáo của các cơ quan có người đi học theo đề án 322, ông Nguyễn Xuân Vang cho biết: Hầu hết họ đều trở về cơ quan cũ làm việc, vì thứ nhất là họ đã cam kết mang tính chất pháp lý và thứ hai là họ ý thức được trách nhiệm của mình khi đã hưởng học bổng ngân sách Nhà nước.
Vì vậy, không nên lấy một vài trường hợp cá biệt không trở về cơ quan cũ làm việc để đánh giá cho hàng nghìn lưu học sinh đi học theo Đề án 322.
Nhiều cơ quan cử đi học đã có những chính sách đãi ngộ tốt để thu hút cán bộ của mình về công tác như chế độ thưởng, tăng lương, đề bạt …
Lưu học sinh trước khi đi học đều phải cam kết quay trở về phục vụ cho cơ quan sau khi tốt nghiệp về nước.
Nhiều cơ quan có người cử đi học theo Đề án 322 đều thực hiện tốt chế độ báo cáo Bộ GD-ĐT, và khi có những người đã hưởng học bổng 322 bỏ việc hoặc xin chuyển công tác thì các cơ quan đều gửi công văn báo cáo Bộ GD-ĐT để được cung cấp số liệu về kinh phí đã chi trả cho việc học tập ở nước ngoài
Căn cứ số liệu kinh phí được cung cấp, lưu học sinh thực hiện bồi hoàn kinh phí thì mới được giải quyết các thủ tục cần thiết và cơ quan sử dụng cán bộ có thể cậy nhờ các cơ quan pháp luật can thiệp, nếu họ không bồi hoàn kinh phí.
Những trường hợp không thực hiện đúng cam kết thì đã có quy trình xử lý theo quy định của Pháp luật. Quy trình và cách thức bồi hoàn kinh phí hiện nay thực hiện theo Nghị định số 18/2010/NĐ-CP (năm 2010) của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng công chức; thông tư số 03/2011/TT-BNV (năm 2011) hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định 18/2010/NĐ-CP.
Theo ông Nguyễn Xuân Vang, Đề án 322 là Đề án của Chính phủ chứ không phải là của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Bộ Giáo dục và Đào tạo là cơ quan thay mặt Chính phủ thực thực hiện Đề án này và Đề án 322 chỉ là một trong rất nhiều nguồn học bổng mà cán bộ, công chức được hưởng thông qua Bộ GD-ĐT, hơn nữa số lượng những người bị “xử phạt” có nhiều đến mức phải đưa ra quy định này không? Chúng ta nên nhìn bức tranh toàn cảnh về hiệu quả hiện tại và tương lai lâu dài của Đề án vì đây là đầu tư vào con người chứ không nên nhìn phiến diện vào con số ít ỏi (1%), có thể ví như là “thất thoát” như đã thống kê. Với một Đề án đầu tư vào con người mà thất thoát có 1% thì có thể nói rằng Đề án đã thành công 99%, chưa tính đến những đóng góp và giá trị mang lại cho xã hội trong rất nhiều năm nữa của những người đã hưởng thụ.

(tổng hợp)
___________________________________________________

Đăng trong Chuyện đất nước, Giáo dục Việt Nam, Kinh tế | Tagged: , , | Leave a Comment »

Từ cưỡng chế thu hồi đất đến „vụ án giết người”

Posted by tuldvnhloc on Tháng Một 9, 2012

Ngày 6.1, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP.Hải Phòng đã khởi tố vụ án giết người và chống người thi hành công vụ xảy ra vào sáng 5.1, tại khu vực đầm nuôi trồng thủy sản của hộ ông Đoàn Văn Vươn (SN 1963, huyện Tiên Lãng). Tuy nhiên, vụ dùng súng hoa cải bắn trọng thương cảnh sát ở Hải Phòng có vẻ không đơn giản chỉ là một vụ chống đối ngươi thi hành công vụ. Có nhiều chi tiết đang dần được hé lộ cho thấy đằng sau vụ việc là một chuỗi những sai phạm trong cách hành xử của chính quyền Tiên Lãng.

Từ người có công thành người chống đối

Theo báo Dân Trí, ông Đoàn Văn Vươn (người chủ mưu trong vụ việc ngăn cản thi hành công vụ) sinh ra trong một gia đình có 7 anh chị em và có gia cảnh khá nghèo khó. “Nhưng bố ông Vươn là một Đảng viên gương mẫu tại địa phương với 20 năm làm Bí thư chi bộ thôn” và “tại địa phương, ông Vươn được là người hiền lành, chăm chỉ làm ăn và chưa từng có tiền án, tiền sự”.
Báo này còn cho hay “ông Vươn từng học hệ tại chức Đại học Nông nghiệp, trở thành kỹ sư nông nghiệp, về quê cùng em trai vào đầm nuôi thủy sản và vào năm 1993 cùng vợ con ra bãi bồi ven biển đầu tư cải tạo khu vực nuôi tôm”.
Với sự cần mẫn và chăm chỉ, gia đình ông Vươn đã khai khẩn được khoảng 38 ha (có báo nói 50 ha nhưng cũng có báo nói 30 ha hay 60 ha) đầm nuôi thủy sản và trồng cây ăn quả. Khu đầm khá rộng này nằm gần rừng phòng hộ, bên kia bờ đê có nhiều hộ dân sinh sống. Ngôi nhà của Đoàn Văn Vươn nằm sát đầm, có hàng rào bao quanh.
Vì vậy, ông từng được báo chí ca ngợi như là người có công trong cuộc „trường chinh lấn biển”. Báo Đời sống và Pháp luật ngày 22/07/2010 có bài biểu dương tinh thần trồng rừng chắn sóng lấn biển làm kinh tế của “Kỳ tài đất Tiên Lãng” Đoàn Văn Vươn.
Theo một số người dân sống ở gần khu vực xảy ra vụ cưỡng chế, trong cuộc sống hàng ngày, vợ chồng Vươn sống khá hòa đồng và tình cảm với người dân xung quanh. Khi sự việc diễn ra, tất cả mọi người đều bất ngờ trước sự phản kháng của người đàn ông 52 tuổi này.
“Ông ta khá hiền lành, chẳng để mất lòng ai cả. Dù ông đã đấu thầu khu đất rồi nhưng chúng tôi vẫn đi lại vào khu vực này khá thoải mái…”, một người dân xã Vinh Quang nói.
Ông Phạm Văn Danh, 82 tuổi, nguyên bí thư đảng ủy xã Vinh Quang, thì mấy ngày cứ bần thần khi nghe tin cả gia đình anh Đoàn Văn Vươn lâm vào vòng lao lý khi nổ súng vào lực lượng cưỡng chế thu hồi đất đầm.
“Cậu ấy đã có công với bà con xóm làng chúng tôi, nếu không có cậu ấy làm bờ kè tạo tấm lá chắn thì không biết bao giờ người dân Vinh Quang mới hết cảnh vỡ đê, chạy bão” – ông Danh bồi hồi.
Trong ký ức của ông, những trận bão biển đánh sạt đê bao luôn là nỗi ám ảnh. Mỗi lần có bão, cả làng, cả xã lại phải chạy bão. “Thế mà thằng Vươn nó ngăn được bão vào làng” – ông Danh nói. “Hơn 20 năm trước, thằng Vươn nó đề nghị tôi nhận bãi biển phía ngoài đê làm đầm. Hồi ấy cả vùng này là biển nước mênh mông. Tôi khuyên nó: “Cháu không làm được đâu, Nhà nước còn không làm được thì mày làm sao được”. Nhưng nó không nghe, cứ quyết tâm làm”.
Chàng kỹ sư nông nghiệp Đoàn Văn Vươn trình bày với cha về ý tưởng “lấn biển” của mình. Ai ngờ, thấy con quyết tâm “đánh bạc với giời”, ông Đoàn Văn Thiểu lại gật cái rụp. Ông bán đàn vịt hàng ngàn con cùng 20 tấn thóc đưa hết cho con đi vỡ đất. Anh Vươn huy động tất cả bảy anh chị em cùng bà con, làng xóm cùng anh tiến ra vùng biển hoang. Ngày ngày họ trầm mình dưới nước từ mờ sáng tới tận tối khuya. Bao nhiêu tiền của, công sức đã đổ xuống biển với mong muốn tạo nên con đập vững chãi nhưng không biết bao lần thất bại. Biết bao tàu đất đá đổ xuống hôm trước, sáng ra đã bị sóng cuốn tan tành. Có người thấy anh “khùng” như vậy đã thách: “Nếu mày làm được, tao biếu không mày cái xe máy đẹp”. Không nản, anh Vươn bán cả nhà cửa, huy động anh chị em có gì đáng giá bán sạch.
Nhưng xui rủi đầu tiên cũng xảy đến. Một hôm, trong khi cả nhà đang mải mê lo chuyện ngoài bãi, con gái lớn của anh mới tám tuổi ở nhà loay hoay thế nào lại bị chết đuối dưới cống. Nén nỗi đau, anh Vươn vẫn quyết tâm vỡ đất. Anh tìm các loài cây sú, vẹt trồng ở phía ngoài, khi cây vững mới tiếp tục đắp kè. Sau năm năm với biết bao lần bị bão biển cuốn phăng, cuối cùng bờ kè dài hai cây số của anh đã hình thành tạo nên bãi bồi màu mỡ. Phía ngoài anh trồng một vạt rừng ngập mặn rộng 60 ha.
Vùng cửa biển mênh mông sau hàng chục năm cải tạo đã trở thành khu đầm thủy sản trù phú. Từ đó, người dân Vinh Quang đã thoát khỏi cảnh vỡ đê chạy bão. Biết bao bà con xóm chùa gần đó được anh tạo công ăn việc làm, nhà ai túng bấn lại được anh Vươn giúp đỡ.

Những chuyện khuất tất

Theo Báo Pháp Luật TP.HCM, các cơ quan pháp luật đang khẩn trương truy xét, làm rõ vai trò của từng nghi can trong vụ vi phạm pháp luật hết sức nghiệm trọng này để xử lý. Tuy nhiên, qua vụ việc này có một số điều cần làm rõ trong hành xử của chính quyền đối với các hộ dân được giao đất.
Gia đình anh Vươn tiếng là khá giả nhưng vẫn đang gánh khoản nợ vài tỉ đồng. Thế mà bỗng dưng anh Vươn nhận được quyết định thu hồi đất của UBND huyện Tiên Lãng.
Không bồi thường, không giao lại. Không chỉ anh Vươn mà nhiều hộ khác, trong đó có ông Vũ Văn Luân (ngụ xã Hùng Thắng) cũng cùng chung cảnh ngộ.
Cho rằng đầm nuôi thủy sản phải được giao 20 năm, khi hết thời hạn sẽ được giao tiếp, anh Vươn và ông Luân đã khởi kiện quyết định thu hồi đất ra tòa. Bị TAND huyện Tiên Lãng bác yêu cầu, họ kháng cáo lên TAND TP.Hải Phòng. Tòa tổ chức cho hai bên thỏa thuận, nghe đại diện của UBND huyện hứa hẹn nếu rút đơn sẽ cho thuê tiếp, anh Vươn và ông Luân đã rút đơn.
Sau đó, họ nhiều lần làm đơn xin thuê tiếp nhưng không có hồi âm. Tháng 11.2011, UBND huyện ra quyết định cưỡng chế thu hồi đất. Rồi đến cái ngày “định mệnh” 5.1.2012, UBND huyện tổ chức lực lượng thực hiện quyết định cưỡng chế… Ông Luân bức xúc: “Trong biên bản thỏa thuận tại Tòa án TP Hải Phòng, đại diện UBND huyện nói sẽ tiếp tục cho thuê nên chúng tôi rút đơn. Chúng tôi tin văn bản thỏa thuận có chữ ký của các bên và chữ ký của thẩm phán là có giá trị pháp lý. Ai ngờ huyện quay ngoắt 180 độ. Tòa nói biên bản thỏa thuận không có giá trị thì hóa ra chúng tôi bị lừa à?”.
Theo ông Luân, trong nhiều năm qua, các chủ đầm đã nhiều lần đi nộp thuế nhưng không được thu. Họ làm đơn đề nghị được nộp thuế nhưng chi cục Thuế huyện trả lời không thể thu được nên lâu nay họ đành chịu tiếng không làm nghĩa vụ với Nhà nước.
Khi phóng viên liên lạc với ông Phạm Xuân Hoa, trưởng phòng TN&MT huyện Tiên Lãng, người đại diện UBND huyện hứa sẽ giao đất nếu ông Luân và anh Vươn rút đơn kháng cáo, ông Hoa đã từ chối trả lời.
Liên lạc với ông Lê Văn Hiền, chủ tịch UBND huyện Tiên Lãng, ông Hiền cáo “đang có việc bận, gọi lại sau” nhưng sau đó liên lạc nhiều lần ông không trả lời. Theo các chủ đầm thủy sản, trước đây huyện ra quyết định giao đất với thời hạn không cố định, 4-14 năm. Các chủ đầm đã nhiều lần đề nghị UBND huyện giao đất theo đúng thời hạn 20 năm mà luật Đất đai quy định nhưng không được xem xét.
Huyện căn cứ vào thời hạn trong quyết định giao đất, cứ đến hạn là thu trắng, không bồi thường cũng không cho thuê lại. Ngay sau khi thực hiện cưỡng chế, toàn bộ nhà cửa trên đầm của anh Vươn đã bị san phẳng.

Thu hồi đất trái pháp luật?

Theo ông Lương Văn Trong, Phó Chủ tịch Liên chi hội Nuôi trồng thủy sản nước lợ huyện Tiên Lãng, ngày 8.1, liên chi hội này đã ra văn bản gửi cơ quan chức năng khẳng định việc thu hồi đất đối với hai hội viên là anh Vươn, ông Luân là trái pháp luật.
Văn bản này nhấn mạnh: “Đại diện cho chính quyền huyện Tiên Lãng đã ký thỏa thuận với người dân để giải quyết vụ án hành chính có sự chứng kiến của TAND thành phố nay lại lật lọng với thỏa thuận đó”.
Tuy nhiên, ông Lê Văn Liêm, chủ tịch UBND xã Vinh Quang (ông Liêm là em ruột chủ tịch UBND huyện Lê Văn Hiền), lại cho rằng việc cưỡng chế thu hồi hơn 38 ha đầm của anh Vươn là đúng pháp luật vì đã có bản án của tòa rồi. Tuy nhiên, khi được hỏi thời hạn giao đất nuôi trồng thủy sản không đủ 20 năm có đúng luật không thì ông Liêm không lý giải được.
Theo ông Liêm, hiện xã đã tiếp nhận khu đất chờ đấu thầu giao cho chủ đầm khác sử dụng. Trong cuộc họp báo chiều 5.1.2011, ông Lê Văn Hiền, chủ tịch UBND huyện Tiên Lãng, cũng nói thu hồi đất để tổ chức đấu thầu cho những ai có điều kiện tốt hơn thuê. Trong khi đó, dư luận ở địa phương từ lâu đã râm ran chuyện chính quyền “quyết tâm” thu hồi đầm của anh Vươn, ông Luân để giao cho các ông K. (ngụ xã Tiên Hưng), H. (ngụ xã Vinh Quang), P. (ngụ xã Nam Hưng).

Những ông này có quan hệ thế nào với các cán bộ huyện, xã cũng là điều cần làm rõ.

(tổng hợp)
______________________________________________________________________

Đăng trong Khác | Leave a Comment »

Tàu cá Việt Nam liên tiếp bị ‘tàu lạ’ đâm chìm

Posted by tuldvnhloc on Tháng Một 8, 2012

Trên đường từ Singapore sang Trung Quốc, tàu Main Trader của Liberia đã cứu được 15 thuyền viên bị “tàu lạ” đâm chìm trên biển.

Chiều 8/1, Trung tâm phối hợp Tìm kiếm cứu nạn hàng hải Việt Nam cho biết, ngay sau khi nhận được thông tin tàu cá BTh 98379 TS cùng 15 thuyền viên bị “tàu lạ” đâm chìm ngoài khơi, Trung tâm đã phối hợp cùng tàu Main Trader mang cờ Liberia, đang hành trình từ Singapore sang Trung Quốc tìm kiếm.

8h10 sáng nay, tàu Main Trader đã cứu được toàn bộ 15 thuyền viên của tàu cá bị chìm. Dự kiến 20h cùng ngày, tàu SAR 2701 của Trung tâm phối hợp tìm kiếm cứu nạn hàng hải Việt Nam đưa 15 thuyền viên gặp nạn này cập bến Nha Trang, bàn giao cho gia đình các nạn nhân và cơ quan chức năng.

Trước đó, 7/1 tàu cá của Cà Mau đang hoạt động trên biển thì bị một “tàu lạ” đâm chìm. Thuyền trưởng được một tàu đánh cá khác cứu, còn 10 thuyền viên trên tàu chưa rõ số phận.

theo Tiến Dũng
__________________________________

Đăng trong Chuyện pháp luật, Chuyện đất nước, Tin tức nổi bật | Tagged: , , | Leave a Comment »

Thương lái Trung Quốc lộng hành trên đất Việt

Posted by tuldvnhloc on Tháng Một 8, 2012

Gần đây cũng liên tục xảy ra tình trạng các thương lái Trung Quốc xích mích, cãi cọ, thậm chí đòi xử nhau khi tranh mua cá tại Cảng cá Vĩnh Lương. Đã từng xảy ra vụ đánh nhau gây thương tích giữa thương lái Trung Quốc và chủ tàu cá Việt Nam.

Khinh miệt dân sở tại

Ông Lê Thanh Hải – Trưởng Ban quản lý Cảng cá Vĩnh Lương (Khánh Hòa) cho biết: Mấy năm lại đây, thương lái Trung Quốc xuất hiện thu mua hải sản tại cảng cá và gây nên tình trạng lộn xộn, mất trật tự.
Tại Cảng cá Vĩnh Lương đã từng xảy ra vụ đánh nhau gây thương tích giữa thương lái Trung Quốc và chủ tàu cá Việt Nam. Một thương lái Trung Quốc đã ngang ngược ném cá của chủ tàu Việt Nam xuống biển, tỏ ý khinh miệt, chê bai khi không thỏa thuận được giá cả mua cá nên đã xảy ra ẩu đả.
Sau việc xử phạt 2 thương lái Trung Quốc mua lậu cá, UBND tỉnh Khánh Hòa cũng đã chỉ đạo các cơ quan hữu quan kiểm tra, xử lý triệt để tình trạng này. Nhưng theo các ngành liên quan, việc này không đơn giản.
Gần đây cũng liên tục xảy ra tình trạng các thương lái Trung Quốc xích mích, cãi cọ, thậm chí đòi xử nhau khi tranh mua cá bên trong cảng cá. Dù họ sử dụng tiếng Việt khá thành thạo để trả giá từng lô cá nhưng khi có sự việc xảy ra, làm việc với ban quản lý cảng cá, họ thường giả vờ không hiểu, để các chủ nậu giải quyết hậu quả.
Mặt khác, với vai trò của mình, ban quản lý chỉ có thể nhắc nhở thông qua các chủ nậu làm việc cho thương lái Trung Quốc nhằm ngăn chặn kịp thời, giữ trật tự trong cảng.
Ông Phạm Văn Hữu – Phó Chi cục trưởng Chi cục Quản lý thị trường tỉnh Khánh Hòa cho biết: Khi kiểm tra, chúng tôi đã tổ chức theo dõi, phát hiện tại khu vực này có khoảng 6-7 thương gia Trung Quốc thường xuyên đến thu mua cá. Một doanh nghiệp tư nhân do một người địa phương làm chủ đã lập xưởng gần Cảng cá Vĩnh Lương để thu nhận cá về xưởng sơ chế trước khi các thương gia này xuất khẩu sang Trung Quốc.
Đội quản lý thị trường số 1 đã lập biên bản xử lý hành vi hoạt động thương mại trái phép tại Việt Nam đối với hai thương gia Trung Quốc là ông Lin Da Quang (Lâm Tài Cường) và ông Zheng Quan Xing tổng cộng 30 triệu đồng và tịch thu hơn 40 tấn cá.
Nhưng lại lý do không biết tiếng, không hiểu luật pháp Việt Nam, hai thương gia này nhất định không ký vào biên bản, đòi chờ phiên dịch, chờ luật sư… Và đã hơn 20 ngày kể từ khi bị lập biên bản vi phạm, họ vẫn chưa đến cơ quan hữu quan nhận quyết định xử phạt.

Du lịch buôn lậu

Một số ngư dân sống gần Cảng cá Vĩnh Lương cho biết, hiện nay đang mùa “biển đói” nên nhiều thương gia Trung Quốc về nước, sau Tết Nguyên đán họ mới quay lại. Được biết, không chỉ tại Cảng cá Vĩnh Lương mà tại Cảng cá Hòn Rớ – cảng cá lớn nhất Khánh Hòa – cũng có rất nhiều thương lái Trung Quốc tranh mua lậu thủy sản.

Được biết, hầu hết những thương lái Trung Quốc này đều sang Việt Nam bằng hộ chiếu du lịch. Phòng Quản lý xuất nhập cảnh Công an tỉnh Khánh Hòa vừa có quyết định xử phạt ông Lin Da Quang và ông Zheng Quan Xing về hành vi hoạt động thương mại trái phép trên lãnh thổ Việt Nam và hành vi nhập cảnh có hoạt động khác tại Việt Nam mà không được phép cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam.

(Tổng hợp)
___________________________________________________________

Đăng trong Chuyện pháp luật, Chuyện đất nước, Kinh tế, Tin tức nổi bật | Tagged: , , | Leave a Comment »

Xã hội đen dằn mặt Giám đốc Công an tỉnh?

Posted by tuldvnhloc on Tháng Một 8, 2012

Chủ tịch UBND tỉnh Thái Nguyên, ông Dương Ngọc Long cho rằng vụ nổ tại nhà Giám đốc Công an tỉnh có “dấu hiệu của việc dằn mặt”. Trên địa bàn từng có tiền lệ nhưng chưa có vụ nào manh động như lần này.

Nổ mìn làm sập nhà

Hơn 2h sáng 7/1, sau tiếng nổ lớn, mặt tiền và trần tầng 1 nhà riêng Đại tá Nguyễn Như Tuấn, Giám đốc Công an tỉnh Thái Nguyên (đường Lương Ngọc Quyến, TP Thái Nguyên) đã sập xuống.
Vụ nổ mạnh tới mức “thổi” tung cửa sắt, làm sập trần tầng một và đè nát chiếc ôtô cùng nhiều tài sản khác để ở đây. Toàn bộ cửa kính, cửa cuốn, bảng biển quảng cáo của hàng chục nhà dân lân cận đều đổ xiêu vẹo, nằm rải rác trên đường.
Vợ chồng ông Tuấn và hai con cùng ngủ trên tầng 2 nên không bị ảnh hưởng. Nhưng vụ nổ xảy ra lúc rạng sáng đã làm chấn động dư luận trên địa bàn.
Ngay sau khi vụ việc xảy ra, hàng chục chiếc xe và công an đông được điều động đến bảo vệ hiện trường và tiến hành điều tra. Toàn bộ khu vực nhà ông Tuấn được phong tỏa nghiêm ngặt.
Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Thái Nguyên Phạm Xuân Đương đã đến hiện trường chỉ đạo công tác khắc phục cũng như điều tra vụ việc.

Xã hội đen trả thù?

Sáng 8/1, trao đổi với VnExpress, đại tá Nguyễn Như Tuấn, Giám đốc Công an tỉnh Thái Nguyên cho biết, hiện tai vẫn còn ù, không nghe rõ vì tiếng nổ quá lớn. Lúc đó cả nhà ông đang ngủ thì bất ngờ tỉnh giấc bởi tiếng nổ rung chuyển cả đoạn phố Lương Ngọc Quyến. May mắn không có người thương vong.
Phỏng đoán nguyên nhân vụ nổ, Giám đốc Công an tỉnh khẳng định phải chờ cơ quan công an điều tra, nhưng nghi ngờ có thể do sự trả thù nhằm vào gia đình. Hơn một năm trước khi còn đương chức Phó giám đốc Công an tỉnh, ông Tuấn từng bị nhiều lời đe dọa.
“Từng có số máy lạ nhắn tin, gọi điện đe dọa giết tôi, người thân trong gia đình. Họ còn khủng bố là sẽ bắt con cái của tôi”, người đứng đầu công an tỉnh Thái Nguyên nói.
Chủ tịch UBND tỉnh Thái Nguyên, ông Dương Ngọc Long, cũng cho rằng vụ nổ tại nhà Giám đốc Công an tỉnh có “dấu hiệu của việc dằn mặt”. Trên địa bàn từng có tiền lệ nhưng chưa có vụ nào manh động như lần này.
Ông Long không khẳng định mối liên quan giữa thành tích của công an tỉnh trong năm 2011 với việc bị xã hội đen đặt mìn nhà Giám đốc Tuấn, song đánh giá Công an Thái Nguyên năm qua đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, tập trung tấn công truy quét các băng nhóm tội phạm.
Chủ tịch Long cho hay, UBND tỉnh đã chỉ đạo các cơ quan liên quan tích cực xử lý, tăng cường bảo vệ an ninh tại nhà riêng các cán bộ tỉnh. Tỉnh cũng đã phối hợp với Bộ Công an để điều tra khám phá nhanh vụ việc, tránh dư luận xấu.
Bộ Công an đã cử đoàn cán bộ điều tra do Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội chủ trì. Việc khám nghiệm hiện trường được Viện Khoa học hình sự và cơ quan chức năng liên quan phối hợp thực hiện.
Đại tá Hồ Sĩ Tiến, Quyền cục trưởng Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội cho biết, việc khám nghiệm hiện trường đã cơ bản hoàn tất. Kết quả ban đầu cho thấy có dấu hiệu của thuốc nổ.

(tổng hợp)
_________________________________________________________

Đăng trong Chuyện pháp luật, Chuyện xã hội, Tin tức nổi bật | Tagged: , , | Leave a Comment »

Thủy điện miền Trung lại gây tai họa cho dân

Posted by tuldvnhloc on Tháng Mười Một 9, 2011

Theo báo chí, mấy ngày qua miền Trung có mưa lớn buộc các hồ thủy điện miền Trung phải đồng loạt xả lũ khiến hàng trăm nghìn gia đình ở vùng hạ du ngập nặng. Theo Ban chỉ đạo phòng chống lụt bão trung ương, đến nay tổng số nhà bị ngập là 117.000, tổng diện tích lúa bị ngập, hư hại gần 660 ha và số người bị chết là 22.

Tại Thừa Thiên – Huế, hai nhà máy thủy điện Bình Điền và Hương Điền trong những ngày qua đã không thể tích nước cắt lũ mà liên tục mở cửa xả. Chỉ trong đêm mùng 5, nước lũ tràn về vùng hạ lưu và sáng mùng 6 khắp thành phố Huế, các huyện Phú Vang, Quảng Điền mênh mông nước.
Giải thích về việc này, ông Đinh Hữu Tấn, Phó tổng giám đốc Nhà máy thủy điện Bình Điền, cho biết hồ thủy điện đã cắt lũ trong đợt thứ nhất và thứ hai. Đến ngày 5/11, lượng nước về hồ đã vượt tràn 3,3 m nên phải xả nhằm đảm bảo an toàn cho đập. Ông Tấn nói và khẳng định việc xả lũ phía thủy điện đã tuân thủ theo sự điều hành của Ban chỉ huy phòng chống lụt bão tỉnh.
Tại Quảng Nam, Ban quản lý công trình thủy điện sông Tranh 2 đã cho xả lũ từ một tháng qua. Tuy nhiên đến ngày 7/11, họ đồng loạt mở 6 cửa xả với lưu lượng từ 3.500 đến 5.000 m3/s. Ông Đinh Văn Thu, Phó chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam khẳng định mưa lớn kèm theo xả lũ thủy điện với lưu lượng lớn đã gây thiệt hại nặng cho vùng hạ lưu. Hàng trăm nghìn hộ dân ở các huyện như Nông Sơn, Đại Lộc, Điện Bàn, Duy Xuyên, TP Hội An… bị ngập.
Ông Lê Ngọc Trung, Phó chủ tịch UBND huyện Nông Sơn cho biết: “Lũ tràn về nhanh quá khiến người dân trở tay không kịp. Lương thực, gia súc, gia cầm trôi nhiều vô kể”.
Mỗi lần Ban quản lý thủy điện sông Tranh 2 xả lũ thì Ban chỉ huy phòng chống lụt bão và tìm kiếm cứu nạn tỉnh Quảng Nam fax văn bản thông báo trước 3-4 giờ. Theo ông Trung, nếu tính từ cửa xả của thủy điện sông Tranh 2 đến huyện Nông Sơn vài chục km thì khoảng thời gian thông báo như trên là quá ngắn, người dân không kịp đối phó.
Tại Phú Yên, chính quyền địa phương và người dân đang bức xúc trước quy định về thời gian thông báo trước khi xả lũ của Ban quản lý thủy điện sông Ba Hạ. Tối qua, nhà máy này xả lũ với lưu lượng 1.400 m3/s, thuỷ điện Sông Hinh xả 200 m3/s. Hiện nhiều xã tại các huyện Tuy An, Đồng Xuân, Tây Hoà vẫn bị lũ cô lập, nhiều tuyến giao thông trọng yếu bị chia cắt.
Ông Lê Văn Trúc, Phó chủ tịch UBND tỉnh Phú Yên cho hay, khi phát hiện sự bất cập trong quy định thời gian thông báo xả lũ, tỉnh đã nhiều lần gửi văn bản kiến nghị, nhưng đến giờ vẫn chưa thấy điều chỉnh. Ông Trúc nhẩm tính, từ thủy điện sông Ba Hạ đến cửa sông Đà Rằng, TP Tuy Hòa hơn 60 km, nếu phải xả lũ mà thông báo trước 2 giờ thì người dân, chính quyền địa phương không kịp ứng phó.
Từ góc độ của chuyên gia thủy văn, bà Nguyễn Lan Châu, nguyên Phó giám đốc Trung tâm dự báo khí tượng thủy văn trung ương, cho biết trong quá trình xây dựng quy chế vận hành hồ thủy điện sông Ba Hạ, nhiều ý kiến đề nghị các nhà máy thủy điện phải báo trước tối thiểu 6 giờ trước khi xả lũ để người dân và các cấp chính quyền vùng hạ du triển khai các biện pháp ứng phó.
“Tuy nhiên, vì dự báo mưa và lũ tại khu vực miền Trung đang là một thách thức lớn đối với ngành khí tượng nước nhà nên cuối cùng đã quyết định các hồ thủy điện này chỉ thông báo trước khi xả lũ tối thiểu là hai giờ”, bà Lan nói.

Theo Trí Tín – Nguyễn Đông
________________________________________________________

Đăng trong Chuyện môi trường, Chuyện đất nước, Khoa học & Công nghệ, Kinh tế, Tin tức nổi bật | Tagged: , , | Leave a Comment »

Trùng tang dưới góc độ khoa học

Posted by tuldvnhloc on Tháng Mười Một 9, 2011

Vẫn có không ít người cho rằng “trùng tang” là một hiện tượng bí ẩn có thật trong đời sống và gia đình nào không may mắc phải thảm hoạ này thì chỉ còn nước cậy nhờ các pháp sư cao tay. Tuy nhiên khi nhìn nhận dưới góc độ khoa học, bức màn này đang dần được hé mở.

Dân gian bày cách chống trùng

Từ quan niệm “trùng tang” có thật, dân gian đã nghĩ ra nhiều cách để hoá giải dù chưa thật rõ bản chất của hiện tượng này là gì. Theo kinh nghiệm, sau khi tính toán, phát hiện ra người chết phạm vào giờ trùng thì ngay lập tức phải áp dụng các phương pháp “điều trị”. Trong đó ưu tiên việc gửi vong lên chùa để “nhốt trùng”. Những ngôi chùa được chọn phải là chùa có uy tín trong việc giữ vong.
Tuy nhiên theo đánh giá, cách này tuy hiệu quả nhưng lại rất nguy hiểm. Nếu “công lực” của người trấn yểm không cao, thì khi người đó chết đi, trùng sẽ thoát ngục ra ngoài, gây ảnh hưởng nặng cho bản thân người đến cậy nhờ và cả gia đình của người trấn yểm.
Do vậy, phương pháp tốt nhất là sử dụng các bài thuốc trấn trùng với các vị như thần sa, chu sa, sương luật, địa liền… cho vào túi rồi yểm trong quan tài. Hoặc có thể dùng các bộ linh phù để trấn bằng cách dùng linh phù để gối đầu người đã khuất, dán lên giữa ngực, giữa rốn, hoặc lót dưới quan tài… Cũng có thể dùng bài thuốc kết hợp giữa Sớ, Phù Bắc Tông và Kỳ nam để xông vào mộ và người sống, để cầu siêu, giải thoát cho trùng, biến từ âm binh thành thiên binh…
Một số người còn cho rằng có thể áp dụng phương pháp làm huyệt giả, đổ tỏi vào huyệt khi lấp đất hay dùng thần chú, Bát quái trận đồ trấn âm trạch để hoá giải…
Dù vậy, đây chỉ là những phương pháp hoá giải đầy huyền bí, không có cơ sở và thiếu tính thuyết phục.

Chỉ là trùng hợp ngẫu nhiên

Cho đến nay vẫn chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu về bản chất của hiện tượng “trùng tang”. Ngay đến một số nhà nghiên cứu tại Trung tâm nghiên cứu tiềm năng con người cũng không muốn đưa ra bất kỳ phát biểu nào xung quanh hiện tượng này.
Chúng tôi tìm đến Đại tá, TS. Đỗ Kiên Cường – tác giả của nhiều cuốn sách, lý giải các hiện trường dị thường trong đời sống dưới góc nhìn khoa học để mong tìm được lời giải đáp thoả đáng.
Đứng trên quan điểm khoa học, TS. Đỗ Kiên Cường cho rằng “trùng tang” chỉ đơn giải là sự trùng hợp mang tính ngẫu nhiên. Trong đó bản chất của sự trùng hợp là luật số lớn trong lý thuyết xác suất và thống kê. Định luật này phát biểu đơn giản là: Với một mẫu xét đủ lớn, bất kỳ hiện tượng kỳ lạ nào cũng có thể xảy ra.
TS. Đỗ Kiên Cường cho biết nhà toán học Littlewood từng chỉ ra, một hiện tượng được xem là hiếm gặp đến mức ngạc nhiên khi có xác suất 1/1.000.000. Chẳng hạn trúng xổ số giải độc đắc khi quay với 6 số chính là một hiện tượng đáng ngạc nhiên. Tuy nhiên nếu xổ số được quay hàng ngày, với dân số trên 80 triệu người như nước ta hiện nay, hiện tượng được xem là hiếm gặp đến mức gây ngạc nhiên đó cũng xảy ra 80 lần/ngày, tức là gần 30.000 lần/năm trên toàn Việt Nam. Ngay cả khi nó chỉ xảy ra hàng tháng, kết quả cũng là 1.000 lần/năm. Còn với 7 tỷ người trên toàn hành tinh, cái sự kiện “hiếm gặp” đó sẽ xảy ra như cơm bữa.
Cũng tương tự như vậy, với dân số trên 80 triệu người, và khoảng thời gian dài tới 1.000 ngày (3 năm) thì theo luật số lớn, hiện tượng “trùng tang” xảy ra đủ nhiều để khiến không ít gia đình khiếp sợ.
Để hóa giải “trùng tang”, TS. Đỗ Kiên Cường cho rằng yếu tố tâm lý là nhân tố quyết định. Trên thực tế, sự cầu cúng, “nhốt vong”…mà nhiều gia đình thực hiện thực chất chỉ là hoạt động trấn an, khiến những người đang hoảng sợ sẽ tĩnh tâm trở lại, bình tĩnh hơn trong mọi tình huống. Và khi đã thư thái trở lại, tâm lý thoải mái, diễn tiến của các căn bệnh có thể gây tử vong cũng có chiều hướng tốt hơn (yếu tố tâm lý có thể ảnh hưởng tới khoảng 9- 40% người bệnh). Y học cho rằng niềm tin có thể giúp con người khỏe mạnh hơn về thể chất và tinh thần là vì vậy…

Đơn giản là sự cộng hưởng sóng

Nhiều nhà nghiên cứu cũng cho rằng, hiện tượng trùng tang tương tự như một loài vật sống ký sinh trên xác người chết phạm vào giờ trùng. Đó chính là một trường năng lượng xấu tồn tại cùng với trường năng lượng của người chết phạm trùng.
Cố GS Nguyễn Hoàng Phương (Hội Vật lý Việt Nam) cũng đã từng đưa khoa học vào nghiên cứu bước đầu vén bức màn bí mật về hiện tượng “trùng tang”. Theo kiến giải của cố GS Nguyễn Hoàng Phương: “Vì trong mối quan hệ này không có sự tiếp xúc xác thịt trực tiếp giữa hài cốt người chết và tần số của trùng nên tất yếu phải có phần sóng vô hình của đôi bên tham gia vào. Đó có thể là một hiện tượng cộng hưởng sóng mang tính chất huyết thống, dòng họ. Do tần số đôi bên khác nhau nhiều, nên theo lý thuyết về nhạc, loại cộng hưởng này mang tên cộng hưởng Harmonic (tần số này là bội số của tần số kia). Đó là cơ chế cộng hưởng Harmonic hình thái huyết thống”.
Điều này cũng giải thích được hiện tượng chỉ có những người cùng huyết thống với người chết phạm phải giờ trùng tang mới bị, còn những người khác và con dâu, con rể cùng sống trong gia đình không bị ảnh hưởng.
Vì lẽ đó, cần phải hiểu một cách đúng đắn dưới góc độ khoa học để những nỗi sợ hão huyền về “trùng tang” không còn tồn tại. Theo TS. Đỗ Kiên Cường, việc có kiêng, có lành là quan niệm từ lâu trong dân gian, và chúng ta nên nhìn nhận nó dưới góc độ là bộ môn tâm lý học hiện đại chứ không phải theo các quan điểm siêu hình. Tuy nhiên trên thực tế, nhiều “thầy” lại vin vào đó để lập đàn cúng tế, đốt vàng mã… gây tốn kém, hoang mang trong nhân dân là điều khó chấp nhận.

Theo Đức Tâm
____________________________________________________________

Đăng trong Chuyện lạ, Khoa học & Công nghệ | Tagged: , , | Leave a Comment »

Khi công an địa phương lộng hành

Posted by tuldvnhloc on Tháng Mười 10, 2011

Công an xã đánh học sinh lớp 9 trọng thương

Ngày 8/10, ông Phạm Văn Bàng ở ấp Long Hòa A, xã Bàn Long, huyện Châu Thành (Tiền Giang) đã gửi đơn tới các cơ quan chức năng tố cáo ông Nguyễn Văn Bổn (phó Công an xã Bàn Long) vô cớ đánh con ông trọng thương.

Theo ông Bàng, khoảng 16h ngày 4/10, trên đường đi học về con ông là Phạm Tấn Bạc (15 tuổi, học sinh lớp 9 Trường THPT Bàn Long) đã bị ông Bổn chặn đường đánh gây thương tích nhiều chỗ: bụng, chân, cổ…

Đáng nói nhất là ông Bổn đánh em Bạc té xuống sông Rạch Gầm. Khi em lồm cồm bò lên bờ thì tiếp tục bị ông Bổn đạp rớt xuống lần nữa và bị cọc đâm thủng chân. Theo ông Bàng, đây là lần thứ hai trong vòng một tháng Công an xã Bàn Long đánh em Bạc. Lần trước em Bạc bị ông Nguyễn Văn Hạnh đánh vì nghi em móc túi người khác. Tuy nhiên do không có căn cứ kết tội em Bạc, công an đã kiểm điểm ông Hạnh.

Ông Nguyễn Đình Chí, trưởng Công an xã Bàn Long, xác nhận ông Bổn có đánh em Bạc vô cớ. “Hành vi đánh người của công an là sai trái, nhất là trong tình trạng đã uống rượu. Đích thân tôi đã chỉ đạo đồng chí Bổn đến nhà nạn nhân để xin lỗi và hỗ trợ tiền thuốc men cho cháu Bạc. Đầu tuần tới chúng tôi sẽ họp kiểm điểm và sẽ có hình thức kỷ luật cụ thể” – ông Chí nói.
(Theo TTO)

Bị can chết, hàng trăm người gây rối trụ sở CA huyện

Lợi dụng 1 bị can tử vong sau khi bị tạm giữ tại nhà tạm giữ Công an huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước. Hàng trăm người đã xông vào trụ sở công an huyện để gây rối trật tự.

Theo thông tin ban đầu, vào sáng 8/10, sau biết người thân của mình tử vong trong lúc bị tạm giữ tại nhà tạm giam, tạm giữ Công an huyện Bù Đốp, chiều tối cùng ngày, người nhà của người chết chở xác đến trước trụ sở Công an huyện Bù Đốp để gây rối. Sau đó, một số kẻ quá khích đã giật đổ hàng rào và cổng trụ sở công an huyện để đưa xác người chết vào sân.

Thượng tá Nguyễn Văn Sáng, Trưởng Công an huyện Bù Đốp, xác nhận người chết tên Thắng, bị can trong 1 vụ án. Nguyên nhân chết do bệnh lý, không có tác động nào của điều tra viên.

Theo nguồn tin của PV, cùng ngày, Công an huyện Bù Đốp cũng đã mời các bác sĩ của Bệnh viện Chợ Rẫy (TP.HCM) tới Bù Đốp để phối hợp cùng các cơ quan chức năng tỉnh Bình Phước khám nghiệm tử thi bị can Thắng để điều tra làm rõ nguyên nhân.

Hiện vụ việc vẫn đang được điều tra.

theo Nga Xuân (Bee.net)
_________________________________________________________

Đăng trong Chuyện pháp luật, Chuyện xã hội | Tagged: , , | Leave a Comment »

Những nguyên mẫu của Vợ chồng A Phủ

Posted by tuldvnhloc on Tháng Mười 10, 2011

Nhà văn Tô Hoài đã từng ao ước được trở về Tà Sùa, Hồng Ngài (Sơn La), cùng các nhà làm phim làm một bộ phim về Mường Dơn. Không biết đã ngoài 90 tuổi, cụ đã thỏa tâm nguyện này chưa nhưng mới đây, nữ nhà báo Hoàng Hường đã lặn lội tìm đến địa danh này. Tại đây, chị đã gặp được những con người được cho là nguyên mẫu thật bằng xương bằng thịt như bước ra từ tác phẩm văn học nổi tiếng Vợ chồng A Phủ của nhà văn Tô Hoài. Nhân tiện, chị đã thực hiện một bộ phim ngắn, hay nói cho đúng hơn là làm ký sự bằng hình ảnh về những nguyên mẫu này.

Thống lý Pá Tra là Mùa Trở La, không phải Mùa Chống Lầu

Hoàng Hường cho biết, sở dĩ chị quyết tâm tìm đến những địa danh đã được nhà văn Tô Hoài nhắc đến trong tác phẩm của mình là vì ngay từ ngày được học tác phẩm này trong trường phổ thông, chị đã rất thích đến những miền đất ấy. Mong muốn đó cứ lớn lên để rồi “không chịu được nữa”, chị khoác ba lô lên đường với hy vọng sẽ tìm được những câu chuyện liên quan đến những địa danh, những con người, dù chỉ là “hậu duệ” của những con người mà nhà văn Tô Hoài đã đưa vào tác phẩm văn học. Tuy nhiên, chính sự “tù mù và liều lĩnh” này đã giúp Hoàng Hường “thu hoạch” được nhiều hơn những gì mình mong muốn.

Đầu tiên, Hoàng Hường tìm đến nhà ông Đinh Tôn, (xã Phiêng, huyện Bắc Yên, Sơn La) người được cho là nguyên mẫu nhân vật A Châu trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ. Qua cuộc “chất vấn” giữa “nhà quay phim nghiệp dư Hoàng Hường” với ông Đinh Tôn, có thể tạm chứng minh được ông Đinh Tôn chính là nguyên mẫu “cán bộ A Châu”.

Theo đó, ông Đinh Tôn gặp nhà văn Tô Hoài năm 1951, khi ông còn chưa lập gia đình và đang làm công tác dân vận và nghiên cứu tình hình lịch sử của người Mèo khu 99 (gồm 1 nửa là xã La Phù, 1 nửa là xã Tường Phù). Theo những gì mà ông Đinh Tôn trả lời phỏng vấn nhà báo Hoàng Hường trong phim thì nhân vật thống lý Pá Tra là từ nguyên mẫu thống lý Mùa Trở La, bố đẻ của thống lý Mùa Chống Lầu.

Ông Đinh Tôn kể: “Bố ông Mùa Chống Lầu độc ác lắm, nhưng đến ông thống lý Mùa Chống Lầu, các đồng chí ta lại thuyết phục được ông ấy đi theo cách mạng, ông đã xây dựng cơ sở, vận động tất cả người Mèo vùng 99 và vùng Kim Bon theo cách mạng. Tức là bố ông thống lý thì độc ác nhưng bản thân ông thống lý thì lại đi theo cách mạng. Thế nên nhà văn Tô Hoài cũng không nói ông Mùa Trở La mà nói thống lý Pá Tra. Bởi vì nếu lấy tên ông Mùa Trở La làm tên nhân vật luôn thì ảnh hưởng đến ông Mùa Chống Lầu. Khi đó ông Lầu đang là ủy viên Ủy ban Mặt trận tổ quốc khu Thái – Mèo, còn tôi là ủy viên Hội đồng nhân dân khu. Tức là nguyên mẫu của nhân vật thống lý Pá Tra là ông Mùa Trở La, là bố ông Mùa Chống Lầu, chứ không phải là Mùa Chống Lầu như nhiều người nghĩ”.

Giải thích về các nguyên mẫu khác, ông Đinh Tôn cho biết: “A Sử chết lâu rồi. Các nhân vật A Phủ, A Sử, A Mỵ, tên thật của họ cũng là như vậy thôi. Nhưng giấu cái họ đi. Ngay cả tôi, ban đầu anh Tô Hoài cũng lấy tên tôi ra, nhưng tôi nói rằng như vậy cũng không hay, vì cần phải gắn vào đồng bào dân tộc, cần phải tôn lên cái người dân tộc họ làm nên lịch sử. Vì thế, ngay cả các nhân vật A Phủ, A Sử cũng không có họ. Người Mèo có 12 họ, thì các nhân vật cũng không lấy họ nào cả, mà cứ lấy họ A vào đấy thôi. A là cái tên đệm chung. Bây giờ lấy A Phủ, A Sử, A Châu ra hỏi thì không ai biết cả. Nhưng nghe cái tên đó biết A Châu dân tộc Mông là được rồi”.

Nguyên mẫu A Mỵ thật vẫn còn sống

Nguyên mẫu A Châu Đinh Tôn (sinh năm 1930), nguyên quán ở Vạn Yên, Phú Yên, gốc là người Mường. Ông thoát ly từ năm 15, 16 tuổi và gần như đã đi khắp Sơn La để tham gia công tác dân vận. Năm 1983, ông về ở xã Phiêng, huyện Bắc Yên, Sơn La cho đến bây giờ. Ông có hai vợ. Người vợ thứ nhất đã mất năm 1999, lấy người vợ thứ hai cũng đã có nhiều con cháu. Hoàng Hường kể: “Đến nhà “cán bộ A Châu”, điều tôi ám ảnh nhất không hẳn là những câu chuyện ông kể về những nguyên mẫu trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ của nhà văn Tô Hoài mà là căn nhà ông đang ở. Nó quá dột nát. Ông có 7 người con, hiện 6 người còn sống. Người con thứ hai của ông từng thi ĐH Xây dựng ở HN thừa 2 điểm nhưng không theo học mà ở nhà đi làm, được 7 năm thì ngã bệnh qua đời. Còn 6 người con còn lại, có 3 nữ đều là giáo viên, còn 3 con trai thì 1 là thiếu tá, 1 là trung tá ở công an tỉnh. Nhà chưa làm lại được là vì con cháu ông bà đều công tác xa nhà, có khi cả năm mới đáo về thăm ông bà được một lần!”.

Chưa hết cảm động bởi đã gặp được nguyên mẫu trong tác phẩm văn học mà mình mê mẩn từ ngày còn ngồi trên ghế nhà trường, Hoàng Hường còn sướng rơn khi được “cán bộ A Châu” cho biết, nhân vật A Mỵ hiện vẫn còn sống, nhưng không phải ở Phiềng Sa như trong truyện của Tô Hoài đã viết mà ở bản Lung Tang, cũng thuộc Hồng Ngài, nhưng cách khoảng một ngày đường rừng, băng qua sông và đôi khi phải đi bằng “tứ chi”.

Tài sản lớn nhất của A Mỵ là cái cối đá

Mặc dù “cán bộ A Châu” khẳng định “chắc như đinh đóng cột” rằng vợ chồng A Phủ vẫn còn sống hoặc chí ít còn để lại hậu duệ nhưng Hoàng Hường vẫn tỏ ra hoài nghi, vì lâu nay, nhiều người vẫn đồn vợ chồng A Phủ đã mất.

Sau khi vượt qua những cung đường lầy lội với một bên là núi cao, một bên là vực sâu “bồng bềnh mây trắng”, Hoàng Hường đã đến được Lung Tang và bắt đầu cuộc tìm kiếm vợ chồng A Phủ với sự hỗ trợ của của người thông dịch viên kiêm xe ôm mà chị đã thuê được ngoài thị trấn huyện. Gần hết chiều, “quý bà” Hoàng Hường may mắn gặp được “quý tử” của vợ chồng A Phủ tên là Lầu A Lia.

Hoàng Hường kể: “Sau một hồi trò chuyện, Lầu A Lia bảo hai người chị tìm là bố mẹ tôi. Nghe vậy tôi mừng khôn tả, nhưng khi tôi hỏi: Bố anh còn sống không? Anh nói với tôi: Bố tôi chết rồi. Chết từ ngày con gái đầu của tôi nó thấp bằng con dao. Bây giờ con cháu nó lấy vợ, lấy chồng, đẻ con, đẻ cái hết rồi. Tôi hỏi thế cháu anh được mấy tuổi rồi thì Lầu A Lia cũng chỉ nói: Không biết mấy tuổi, chỉ biết là đẻ từ mùa rẫy trước. Bà thì còn sống, đang xay ngô trong nhà”.

Mừng quá, tôi chạy thẳng vào nhà. Đến cửa, đập vào mắt tôi là một cụ bà mà theo tôi là rất đẹp và phúc hậu. Nhìn cụ tôi đoán có khi cụ cũng phải xấp xỉ trăm tuổi. Cụ vẫn minh mẫn, tay trái cầm một bát sắt to như chiếc mũ bảo hiểm đụng đầy hạt ngô, tay phải đang bón ngô vào trong lòng cối cho đứa cháu xay mèn mén. Nhà cụ rất nghèo và thiếu thốn đủ thứ. Thậm chí, tôi nghĩ cái cối đá chính là tài sản lớn nhất, có giá trị nhất đối với gia đình cụ. Không có cái cối đá ấy, hẳn gia đình cụ còn khổ hơn rất nhiều”.

Người được cho là nguyên mẫu A Mỵ làm “quý bà” Hoàng Hường hết sức xúc động ấy tên thật là Mùa Thị La. Cụ không nói được tiếng Kinh nên qua người thông dịch, Hoàng Hường chỉ biết “A Mỵ” xưa kia ở xã Háng Chú (Bắc Yên) rồi đi sang Háng Dia, nhưng ở đó có nhiều dịch bệnh, ốm đau nên sau giải phóng thì chuyển về ở Tà Sùa. Cụ và Lầu A Phử (trong truyện tên là A Phủ – PV) từng ở nhà ông thống lý Mùa Chống Lầu. Giữa cụ và A Phử là chỗ thân quen, gặp nhau vào dịp chơi tết. Sau này “hai cái bụng ưng nhau” nên A Phử rủ anh em đến đón cụ về làm dâu, từ đó thành vợ, thành chồng! Có với nhau được cả thảy 6 người con, lo gia thất được cho 4 người thì đổ bệnh nhưng không rõ là bệnh gì mà chỉ biết “đau cái bụng”. Sau một thời gian thì ông khuất núi!…”

Tìm được nhân vật có cuộc đời nô lệ còn hơn cả Mỵ

Câu chuyện mà cụ A Mỵ kể lại chừng như đơn giản hơn so với những gì mà Mỵ trong Vợ chồng A Phủ của nhà văn Tô Hoài mà nhiều người đã biết. Nhưng cũng thật tình cờ, trong chuyến đi tìm vợ chồng A Phủ, Hoàng Hường còn vô tình “chộp” được một nhân vật không phải bước ra từ văn học nhưng có chặng đời lại thật như nhân vật A Mỵ đến nỗi khó tin, ở xã Chiềng Công, huyện Mường La, cách xa Hồng Ngài cả trăm km.

Nhân vật này nguyên là nữ thẩm phán người dân tộc Mông đầu tiên của tỉnh Sơn La. Theo đó, năm 12 tuổi, bà Lý bị bán về làm dâu nhà tào phán (thống lý = chủ tịch xã; tào phán = trưởng thôn) Mùa A Mang, làm vợ con trai tào phán là Mùa Súa Tình khi đó cũng 12 tuổi. Những năm bà Lý làm nô lệ, bà không có quyền ăn, không có quyền nói. Nhà chồng ăn thì bà phải vào buồng. Đến lúc bà ăn thì chỉ ăn bí đỏ nấu không bỏ hạt với canh rau chua trộn cơm ngô sền sệt như ăn cám lợn. Không chỉ liên tục phải ngồi trong buồng “nhìn qua cái lỗ vuông vuông bằng bàn tay” mà bà Lý còn liên tục bị chồng cho ăn no đòn. Đánh, đánh thừa sống thiếu chết. Đánh mà không vì cái tội gì cả. Đặc biệt, cú phi cả một cây củi vào mạng sườn của ông chồng “trẻ con” đến giờ mỗi khi trái gió, trở trời lại khiến bà Lý mếu máo vì đau. Thậm chí, mỗi khi nhớ lại những trận đòn thù của “người xưa”, bà không ngần ngại “chửi vọng”: “Thằng chó chết, mày ác. Mày chết đã hơn 40 năm rồi, xương mày đã bị mối ăn hết rồi mà chỗ mày đánh tao vẫn còn đau”.

Bà Lý làm vợ, hay nói cho đúng hơn là làm nô lệ cho cái gia đình “chó chết” đó được 8 năm. Đến năm 1955, thành lập Khu Tự trị Thái Mèo, bà mới được giải phóng khỏi cuộc đời nô lệ, được cho đi học và trở thành “bà thẩm phán”.

“Vợ chồng A Phủ” đã trở thành “di sản”

Bây giờ, những thống lý không còn nữa, những dinh thự gắn với những cơn ác mộng của những người nô lệ đã thành quá khứ, nhưng tập tục cổ xưa của người Mông như bắt vợ gán nợ như Mỵ trong Vợ chồng A Phủ thì vẫn còn, nhưng trên tinh thần thỏa thuận đàng hoàng và sòng phẳng chứ không “cướp giật” theo nghĩa đen.

Hoàng Hường cho biết: “Ông chủ tịch xã nói với tôi; hiện nay, tập tục ấy vẫn giữ, nhưng giữa đôi bên “thông gia” hoặc đôi nam nữ đã “nháy” nhau trước rồi chứ không “cưỡng chế” như xưa nữa. Điều đó chứng tỏ nhận thức đã làm cho người Mông ở nơi đây tiến bộ hơn rất nhiều! Có chăng, cái tồn tại lâu nhất vẫn chưa xóa được ấy là cái nghèo, cái khổ, cái khó của bà con vẫn còn đeo đẳng lấy họ mà thôi”

Theo “quý bà” Hoàng Hường cho biết thì hiện nay, những vùng đất của “thống lý Pá Tra” xưa vẫn ngút ngàn và màu mỡ. Cách trung tâm thị trấn Bắc Yên khoảng 8km, hang A Phủ (xã Hồng Ngài, Bắc Yên, Sơn La) vẫn còn “hoang sơ như thời tiền sử”. Hang này được cho là nơi trú ẩn của A Phủ và Mỵ sau khi cùng nhau chạy trốn khỏi nhà thống lý và sau này cũng là nhà trú ẩn của bộ đội trong khi hành quân để tăng cường cho chiến dịch Tây Bắc 1952. Nếu cái hang này trở thành một “vệ tinh” trong bản đồ, xin tạm gọi “theo dấu chân A Phủ” thì đó sẽ là một trong những chặng dừng chân ý nghĩa khi đến với miền đất và những con người như bước ra từ văn học…

Theo Huy ThôngTT&VH
__________________________________________________________

Đăng trong Văn học | Tagged: , , | Leave a Comment »

Đội gạo lên chùa – trong chùa và ngoài chùa

Posted by tuldvnhloc on Tháng Mười 5, 2011

Hoài Nam

Đội gạo lên chùa, trên một phương diện nào đó, là cuốn tiểu thuyết viết về Phật giáo Việt Nam, về tác động của tư tưởng Phật giáo tới văn hóa – lối sống của con người Việt Nam trong trường kỳ lịch sử.

“Cư trần lạc đạo thả tùy duyên/ Cơ tắc thực, hề khốn miên/ Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch/ Đối cảnh vô tâm mạc vấn Thiền” (Tạm dịch: Sống giữa cõi trần vui với Đạo hãy tùy theo hoàn cảnh. Đói thì ăn, mệt thì ngủ. Trong nhà sẵn có của báu, còn phải tìm đâu nữa. Đối cảnh vô tâm, cần gì phải hỏi Thiền). Lấy lại bốn câu trong bài Cư trần lạc đạo phú của Trúc Lâm Đại đầu đà – Phật hoàng Trần Nhân Tông làm đề từ cho cuốn tiểu thuyết Đội gạo lên chùa, dường như nhà văn Nguyễn Xuân Khánh muốn giúp độc giả bằng cách ngầm trao cho họ cái yếu quyết để đi vào và hiểu tác phẩm của mình; hoặc ít ra, hiểu nó rõ thêm.

Quả có vậy, Đội gạo lên chùa, trên một phương diện nào đó, là cuốn tiểu thuyết viết về Phật giáo Việt Nam, về tác động của tư tưởng Phật giáo tới văn hóa – lối sống của con người Việt Nam trong trường kỳ lịch sử, hoặc nói cho ngắn gọn, đây là cuốn tiểu thuyết viết về Phật tính trong văn hóa Việt. (Vả lại, ngay cái nhan đề tác phẩm, theo cơ chế liên văn bản, đã buộc người đọc phải nghĩ tới câu ca dao không biết có từ bao giờ: “Ba cô đội gạo lên chùa/ Một cô yếm thắm bỏ bùa cho sư/ Sư về sư ốm tương tư…”). Từ một biến cố kinh hoàng trong cuộc đời của hai chị em Nguyệt và An – cha mẹ bị lính Pháp cắt cổ trong một trận càn – tác giả đã đưa người đọc tới làng Sọ, một làng quê mang đậm những nét đặc trưng của làng quê vùng đồng bằng Bắc bộ, nơi có ngôi chùa làng vừa như là nạn nhân vừa như là chứng nhân của những thăng trầm lịch sử. Tại chùa làng Sọ, hai chị em Nguyệt và An được cưu mang, được làm lại cuộc đời. Và điều quan trọng hơn, họ được sống trong một vi khí hậu văn hóa đậm đặc Phật tính, được quan sát, trải nghiệm và rồi tự hình thành sự nhận biết cá nhân về vi khí hậu văn hóa ấy. Từ giác độ này, tính luận đề của tiểu thuyết Đội gạo lên chùa được thể hiện khá rõ. Để nói về cái tâm từ bi của nhà Phật cũng như sức mạnh cải hóa, cảm hóa chúng sinh toát ra từ cái tâm từ bi ấy, tác giả đã không ngần ngại mượn lại những motif từng có trong chuyện kể về cuộc đời tu đạo và truyền giáo của Đức Phật Thích Ca: này là mãnh thú (con hổ mang pháp danh Khoan Hòa), này là cường đạo (sư bác Khoan Độ) đều chẳng được sư cụ Vô Úy cứu vớt rồi trở thành Phật gia đệ tử đó sao? Để nói về tinh thần nhập thế tích cực của Phật giáo Việt – vốn được khởi nguồn từ những vị tăng thống như Ngô Chân Lưu, Vạn Hạnh, và đạt tới đỉnh cao với những vị tăng đế thời nhà Trần – tác giả Đội gạo lên chùa chẳng đã dựng lên nhân vật sư Vô Trần bỏ chùa đi hoạt động cách mạng, trở thành một chỉ huy quân sự tiếng tăm lừng lẫy đó sao? Để nói về thái độ khai phóng, không chấp trước, một lối ứng xử cởi mở, một triết lý sống đúng với tinh thần câu “Cư trần lạc đạo thả tùy duyên” của Thiền Việt Nam, nhà văn Nguyễn Xuân Khánh chẳng đã lấy chính cuộc đời của sư cụ chùa làng Sọ – hòa thượng Vô Úy – làm một ví dụ trực quan sinh động đó sao? Tên của nhân vật đã là một ký hiệu đầy hàm nghĩa. Vô Úy nghĩa là không sợ, không sợ bất cứ cái gì. Không sợ cường quyền bạo lực. Không sợ lẽ hưng vong sinh diệt của tạo hóa. Không sợ quy luật tuần hoàn đắp đổi của vạn vật. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, dù là tồi tệ đến đâu, người tu thiền đích thực vẫn có thể “tùy duyên” mà vượt qua được mọi sóng gió với cái tâm an nhiên như mặt nước hồ thu. Chính bằng sự “vô úy” và cái năng lực “tùy duyên” ấy mà sư cụ, cũng như ngôi chùa làng nhỏ bé, vẫn cứ tồn tại trên lớp sóng thời gian dù phải trải qua những cơn rung lắc dữ dội nhất (dưới sự khủng bố của chính quyền tề ngụy, và sau đó, dưới sự lộng hành tăm tối của chính quyền nông dân thời cải cách ruộng đất, chùa làng Sọ luôn là đối tượng bị “quan tâm” nhiều nhất, bản thân sư cụ trong cả hai thời kỳ đều đã bị bắt giữ và bị tra tấn đến chết đi sống lại). Để suy luận – dẫu vì thế mà không tránh khỏi sự võ đoán – có lẽ phải nói rằng ở đây, với những “bằng chứng” về sự thấm nhiễm tư tưởng Phật giáo trong quan niệm sống, hay nói cách khác, với những biểu hiện cụ thể về Phật tính trong văn hóa Việt, tác giả muốn phát lộ một bí mật làm nên khả năng trường tồn của dân tộc chăng?

Dù sao, với một tác phẩm tiểu thuyết luận đề, ở phần diễn dịch cho một tư tưởng hoặc một quan niệm có trước, dẫu có viết khéo đến đâu thì đôi lúc vẫn để lộ ra những chỗ gượng gạo. (Trong Đội gạo lên chùa, phần gượng gạo nhất là lúc tác giả phân tích, bình luận về tính cách của nhân vật trung úy Tây lai Bernard, về cái phức cảm tự tôn lẫn tự ti giữa hai nửa Pháp – An Nam, da trắng – da vàng, kẻ chinh phục – người bị thống trị trong con người Bernard. Rất dài dòng và nói chung là không cần thiết). Sinh động, hấp dẫn và sẽ sống bền hơn cả trong Đội gạo lên chùa của Nguyễn Xuân Khánh, theo tôi, có lẽ là phần nằm ngoài chủ đề Phật tính của văn hóa Việt, cũng tức là nằm ngoài mối quan tâm lớn nhất của tác giả. Tôi muốn nói tới thế giới đàn bà trong tác phẩm, một thế giới được phác lên bằng rất nhiều chân dung, rất nhiều số phận cuộc đời, mà hầu như cái nào cũng sắc nét. Ngay ở những trang đầu tiên của cuốn tiểu thuyết, người đọc đã được sống trong bầu không khí ma mị với một bà cụ Thầm nửa âm nửa dương, mê mê tỉnh tỉnh, suốt đêm chỉ ngồi đếm đom đóm từ nghĩa địa bay vào – mỗi con đom đóm là một vong linh – và lầm rầm trò chuyện với những người bạn đã chết từ thuở còn con gái. Rồi cô Rêu, người thiếu nữ tài sắc vẹn toàn, “lúc nào cũng ngơ ngơ như từ trên trời rơi xuống”, đã nhảy giếng tự tử trong thời cải cách ruộng đất, như thể một tuyên bố về sự không chung sống được với cõi đời đang hồi điên đảo (khi cô chết, cái giếng tỏa mùi thơm ngát. Chi tiết này khiến nhân vật cô Rêu phảng phất bóng dáng nhân vật Người Đẹp trong Trăm năm cô đơn của G. Marquez, chỉ khác là một cô thì bay lên trời, một cô thì lao xuống giếng). Rồi bà cụ làm vàng hương, người không chấp nhận trao số phận mình vào tay đội cải cách và đã “giành quyền tự quyết” bằng cách thắt cổ chết trong một căn phòng sực nức mùi trầm hương. Rồi những bà Nấm, bà Thêu, chị Thì, chị Xim, cô Mai… mỗi người đàn bà trong Đội gạo lên chùa là cả một nguồn năng lượng sống được dồn nén đến cực độ, chỉ chờ dịp để bung phá, tuôn trào. Và khi tuôn trào, nguồn năng lượng sống ấy sẽ cuốn theo, không gì khác, chính những người đàn ông, như dòng nước lũ cuốn phăng những củi mục rong rêu về phía hạ lưu. Đọc Đội gạo lên chùa, không khó nhận thấy những người đàn bà ở đây đều ý thức rất rõ về vẻ đẹp thân thể và sức mạnh giới tính của mình. Đáo để đến mức quyết liệt, họ dùng nó như một thứ lợi khí để đương đầu với số phận, và dùng nó như một phương tiện hữu hiệu để kiếm tìm hạnh phúc cá nhân. Bà Nấm khiến cho sư Vô Trần phải động lòng trần mà cởi tăng y về với cõi tục. Bà Thêu, trong cơn biến cố long trời lở đất có tên là cải cách ruộng đất, đã nhanh chóng thoát khỏi cái tội là vợ địa chủ – rồi sau đó thậm chí còn trở thành cán bộ – bằng việc làm cho anh đội Khoát phải ngây ngất si mê. Đặc biệt ấn tượng, phải kể đến nhân vật chị Xim, người đàn bà hừng hực khao khát như một lò lửa nhưng cũng rất rành mạch sòng phẳng, tình nguyện ban phát cho anh chồng cũ một cuộc ái ân cuồng nhiệt để rồi sau đó chấm dứt, ai nấy sống cuộc đời của mình. Nói chung, nếu không muốn rơi vào sự võ đoán vu khoát khi dùng cụm từ “chủ nghĩa nữ quyền” trong trường hợp này, theo tôi, có thể nói đến một ý hướng khái quát về “mẫu tính” của văn hóa Việt trong Đội gạo lên chùa (“mẫu tính” cũng là cụm từ được nhiều nhà phê bình nhắc tới khi viết về Mẫu Thượng ngàn, cuốn tiểu thuyết trước đó của Nguyễn Xuân Khánh). Có vẻ như, dù không nằm trong chủ ý ban đầu của tác giả, song theo quán tính của một thứ “tạng văn” đã định hình, “theo dòng mẫu hệ”, Đội gạo lên chùa vẫn thuyết phục người đọc nhiều hơn ở những trang viết “ngoài chùa” – những trang viết về người đàn bà, người sinh thành ra chính bản thân sự sống.

Ngót 900 trang sách khổ 14 x 20,5, phải nói rằng Đội gạo lên chùa của Nguyễn Xuân Khánh thuộc vào loại tiểu thuyết dễ khiến cho người ta phải… choáng váng, nhất là với những người đọc thiếu kiên nhẫn. Cũng may là tác giả không chọn cách viết đánh đố thiên hạ. Ông viết đặc sệt cổ điển, có lớp có lang, dẫn dắt mạch lạc, diễn giải kỹ càng. Gần 900 trang sách ấy, một mặt cho thấy lao động viết đầy khổ công, mặt khác lại nói được rất nhiều về nội lực văn hóa của tác giả. Với đề tài như thế này, nếu không phải là một nhà văn “độc phá vạn quyển thư”, quan tâm rộng tới những vấn đề của lịch sử văn hóa – tư tưởng, tôi e rằng anh ta chỉ viết đến 300, 400 trang là hết chuyện để nói. Thế nhưng, không nên quên rằng chúng ta đang bàn tới một tác phẩm tiểu thuyết chứ không phải một công trình nghiên cứu. Và với một tác phẩm tiểu thuyết thì phẩm chất đó, tuy cần thiết, nhưng chưa phải là tất cả.
______________
Đội gạo lên chùa, tiểu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh, NXB Phụ Nữ 2011.

Đăng trong Văn học | Tagged: , , | Leave a Comment »

 
Follow

Get every new post delivered to your Inbox.